KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)



tải về 3.73 Mb.
trang34/50
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích3.73 Mb.
1   ...   30   31   32   33   34   35   36   37   ...   50

Căn cứ Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

Bộ Nội vụ đã có Tờ trình số 2489/TTr-BNV ngày 28/7/2010 trình Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quyết định quy định hội có tính chất đặc thù, trong danh sách đề nghị Thủ tướng Chính phủ quy định hội có tính chất đặc thù có Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam. Sau khi Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định quy định hội có tính chất đặc thù, Bộ Nội vụ sẽ phối hợp với các bộ, ngành có liên quan hướng dẫn cụ thể để các hội có tính chất đặc thù trong đó có Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.


70. Cử tri tỉnh Đắk Nông kiến nghị: Cử tri Nguyễn Ngọc Sang, thôn 10, xã Nâm N’Jang, Đăk Song đề nghị Chính phủ xem xét hướng dẫn địa phương quan tâm hỗ trợ kinh phí hoạt động cho Chi Hội người cao tuổi cấp xã, phụ cấp cho Chi hội trưởng. Thời gian qua cử tri đã đề xuất, kiến nghị nhiều lần nhưng UBND tỉnh chưa đồng ý trình HĐND tỉnh vì chưa có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương. Mặc dù Chi hội người cao tuổi là tổ chức xã hội nhưng thực tế vẫn duy trì hoạt động liên tục như các đoàn thể khác dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy xã.

Trả lời: (Tại Công văn số 2867/BNV-VP ngày 24/8/2010)

1. Về hỗ trợ kinh phí cho Hội Người cao tuổi cấp xã:

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 3 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; tổ chức hội hoạt động theo nguyên tắc: tự nguyện, tự quản, tự đảm bảo kinh phí hoạt động và tại khoản 12 Điều 23 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP quy định: hội được Nhà nước hỗ trợ kinh phí đối với những hoạt động gắn với nhiệm vụ của Nhà nước giao. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2003/QĐ-TTg ngày 29/01/2003 về việc ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp đối với những hoạt động gắn với nhiệm vụ của Nhà nước và Quyết định số 247/2006/QĐ-TTg ngày 30/10/2006 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 21/2003/QĐ-TTg ngày 29/01/2003.

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 123/2003/TT-BTC ngày 16/12/2003 hướng dẫn việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp đối với những hoạt động gắn với nhiệm vụ của Nhà nước.

Đối với hội được Thủ tướng Chính phủ quy định là hội có tính chất đặc thù thì được hưởng các chính sách quy định tại Điều 35 của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP như sau: “Các hội có tính chất đặc thù được cấp kinh phí hoạt động theo số biên chế được giao; bảo đảm kinh phí để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao và hỗ trợ cơ sở vật chất và phương tiện hoạt động...”.

Căn cứ các quy định hiện hành và khả năng cân đối ngân sách của địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Nông xem xét kiến nghị của cử tri Nguyễn Ngọc Sang về hỗ trợ kinh phí cho Hội Người cao tuổi cấp xã trên địa bàn tỉnh.


  1. Về phụ cấp Chi hội trưởng người cao tuổi:

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Tại khoản 3 Điều 19 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP quy định: “Áp dụng việc thực hiện chế độ, chính sách quy định tại Nghị định này đối với những người hoạt động không chuyên trách ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, sóc, tổ dân phố (thôn, làng, ấp, bản, buôn, sóc, tổ dân phố sau đây gọi chung là thôn, tổ dân phố). Mỗi thôn, tổ dân phố được bố trí không quá 03 người. Mức phụ cấp mỗi người không quá 1,0 hệ số mức lương tối thiểu chung”.

Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH ngày 27/5/2010 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Tại khoản 2 Điều 9 Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH quy định: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp để quyết định chức danh, số lượng những người hoạt động không chuyên trách cấp xã, thôn, tổ dân phố; quy định việc kiêm nhiệm các chức danh và mức phụ cấp không vượt quá 1,0 lần mức lương tối thiểu chung (kể cả những người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố)”...

Căn cứ các quy định hiện hành, việc quy định các chức danh, mức phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.

BỘ QUỐC PHÒNG
1. Cử tri các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Bình kiến nghị:

Đề nghị Chính phủ nghiên cứu có chế độ cho các cựu chiến binh có thời gian phục vụ trong quân đội nay trở về địa phương công tác còn nhiều bất cập, chưa hợp lí như việc quy định quân nhân về phục viên mà đang tham gia công tác hưởng lương từ ngân sách nhà nước thì không được cộng thời gian tham gia quân ngũ để tính thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Chính phủ nên có chính sách với các đối tượng đã đóng bảo hiểm xã hội từ 15 năm đến dưới 19 năm nghỉ mất sức có thời gian đã bị cắt chế độ (hiện nay, mới giải quyết cho đối tượng nghèo, có hoàn cảnh khó khăn) để đảm bảo quyền lợi và công bằng xã hội.

Trả lời: (Tại Công văn số 5218/BQP-VP ngày 6/9/2010)

1. Về việc tính nối thời gian phục vụ quân đội đối với quân nhân về phục viên hiện đang công tác ở xã, phường hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.

Ngày 27/5/2010 Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, tại điểm a khoản 6 Điều 8 Thông tư nêu trên hướng dẫn:

“Trường hợp có thời gian công tác trong quân đội nhân dân, công an nhân dân đã phục viên, xuất ngũ trước ngày 15/12/1993 và không hưởng trợ cấp nghỉ việc một lần theo quy định tại Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005; Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg ngày 29/4/2005 và Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ thì được cộng nối thời gian công tác trong quân đội với thời gian giữ chức danh theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP để tính hưởng bảo hiểm xã hội”.

2. Về chế độ đối với đối tượng nghỉ mất sức lao động bị cắt hưởng chế độ.

Ngày 06/5/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 613/QĐ-TTg về việc trợ cấp hàng tháng cho những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế đã hết thời hạn mất sức lao động. Theo quy định tại Quyết định trên, những người hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng đã hết hạn hưởng trợ cấp khi hết tuổi lao động (đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ) thì được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng. Mức trợ cấp hàng tháng bằng mức trợ cấp của đối tượng quy định tại Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ và được điều chỉnh theo quy định của Chính phủ.



2. Cử tri các tỉnh Phú Yên, Ninh Thuận, Trà Vinh kiến nghị: Đề nghị Bộ Quốc phòng xem xét có chính sách ưu đãi đối với đối tượng đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự quốc tế tại chiến trường Campuchia.

Trả lời: (Tại Công văn số 5249/BQP-VP ngày 6/9/2010)

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị (tại điểm 4 Thông báo số 183-TB/TW ngày 03/9/2008) về việc giao Ban Cán sự Đảng Chính phủ chỉ đạo Bộ Quốc phòng phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất chính sách đối với quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, đối tượng trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc và làm nhiệm vụ giúp bạn Lào sau 30/4/1975, Bộ Quốc đang phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan tiến hành khảo sát, nghiên cứu, xây dựng Đề án chế độ, chính sách đối với các đối tượng nêu trên; dự kiến trình Bộ Chính trị cho ý kiến vào quý 4 năm 2010. Sau khi Bộ Chính trị cho chủ trương sẽ tiếp tục xây dựng các văn bản về chế độ, chính sách trình Chính phủ ban hành và triển khai thực hiện.



3. Cử tri tp Hà Nội và các tỉnh Hưng Yên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Nghệ An, Hà Nam, An Giang kiến nghị:Đề nghị Bộ Quốc phòng xem xét và giải quyết chế độ cho đối tượng được hưởng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương rất khó thực hiện vì quy định về người làm chứng xác nhận cho đối tượng được hưởng, bị mất giấy tờ…, thủ tục giấy tờ còn phức tạp, một số điều bất hợp lí không công bằng. Đề nghị chỉ đạo tháo gỡ, giải quyết, điều chỉnh việc kê khai đơn giản, thuận tiện hơn.

Trả lời: (Tại Công văn số 5219/BQP-VP ngày 6/9/2010)

Theo quy định tại Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 144/2008/TTLT-BQP-BLĐTBXH-BTC ngày 27/11/2008 của Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính thì quy định về hồ sơ, thủ tục đối với các đối tượng hưởng trợ cấp một lần không còn lưu giữ được giấy tờ chặt chẽ nhưng thuận tiện, đối tượng chỉ cần kê khai 1 tờ khai cá nhân (theo mẫu), không có quy định về người làm chứng. Quy trình xét hưởng chế độ do thôn, xóm, Hội CCB đề nghị và cấp uỷ, chính quyền địa phương xã, phường, thị trấn xem xét, quyết định. Bộ Quốc phòng chỉ đạo và yêu cầu các đơn vị, địa phương thực hiện đúng, không tự quy định thêm thủ tục.



4. Cử tri các tỉnh Bình Dương, Thái Bình, Quảng Bình kiến nghị: Mức lương của các cán bộ có cùng quân hàm nhưng nghỉ hưu qua các thời kì (chống Pháp, chống Mỹ và hiện nay) là khác nhau, đề nghị nên có chính sách quan tâm điều chỉnh cho phù hợp. Xem xét lại việc phong quân hàm trong quân đội để khỏi dẫn đến sự mất công bằng.

Trả lời: (Tại Công văn số 5241/BQP-VP ngày 6/9/2010)

- Lương hưu của sĩ quan qua các thời kỳ khác nhau vì:

+ Bảng lương quân hàm sĩ quan được Chính phủ quy định theo từng thời kỳ, cho phù hợp với tình hình kinh tế của đất nước và theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội vì vậy lương hưu của sĩ quan từng thời kì cũng khác nhau.

+ Từ năm 1993 trở về trước sĩ quan giữ chức vụ chỉ huy quản lý không có phụ cấp chức vụ, sau khi có Nghị định số 25/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ quy định sĩ quan giữ chức vụ chỉ huy quản lý từ Bộ trưởng đến Trung đội trưởng có hệ số phụ cấp chức vụ và được tính đóng bảo hiểm xã hội, lương hưu hằng tháng là bình quân lương của 5 năm cuối.

- Để giảm bớt khó khăn cho sĩ quan nghỉ hưu từ năm 1993 trở về trước, Chính phủ đã có chính sách điều chỉnh lương hưu qua điều chỉnh hệ số lương tối thiểu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng, tuy nhiên mức tăng không nhiều do đó cán bộ cùng cấp nghỉ hưu trước năm 1993 vẫn còn thấp hơn so với với đồng chí nghỉ hưu sau, đây là tình trạng chung của cán bộ công chức nhà nước chứ không riêng quân đội. Chính phủ cần tiếp tục có chính sách để nâng mức lương hưu cho các đối này.

- Việc thăng quân hàm sĩ quan: Thường vụ đảng ủy quân sự Trung ương căn cứ vào Luật sĩ quan QĐNDVN và các văn bản quy định của Chính phủ.

- Đối với sĩ quan từ cấp thượng tá trở xuống, khi chuyển ra ngoài quân đội (nghỉ hưu, chuyển ngành), Thường vụ đảng ủy quân sự Trung ương có chủ trương xem xét đề bạt quân hàm cao hơn một bặc đối với các trường hợp đủ tiêu chuẩn và có một trong các yếu tố sau:

+ Trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu;

+ Đang đóng quân ở nơi khó khăn gian khổ có hệ số phụ cấp khu vực từ 0,5 trở lên;

+ Đến thời hạn nâng lương lần 2;

+ Có nhiều công lao cống hiến, nhập ngũ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

5. Cử tri tp Hải Phòng và các tỉnh Bắc Ninh, Lạng Sơn, Thái Bình kiến nghị: Đề nghị Bộ Quốc phòng đôn đốc việc chi trả trợ cấp cho các đối tượng được thụ hưởng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg, hiện nay việc thanh toán chế độ còn quá chậm; xem xét sửa đổi Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/12/2008 về việc đãi ngộ quân nhân tham gia kháng chiến từ 30/4/1975 trở về trước.

Trả lời: (Tại Công văn số 5245/BQP-VP ngày 6/9/2010)

1. Về tiến độ thực hiện Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg.

Sau hơn một năm thực hiện Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tính đến ngày 14/7/2010, toàn quốc đã giải quyết được hơn 30 vạn đối tư­ợng h­ưởng chế độ một lần và 2.000 đối tư­ợng hư­ởng chế độ hàng tháng. Bộ Quốc phòng xin tiếp thu ý kiến của cử tri sẽ tập trung chỉ đạo các đơn vị, địa phương đẩy nhanh hơn nữa tiến độ thực hiện, phấn đấu trong năm 2010 cơ bản giải quyết xong chế độ cho đối tượng.

2. Về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg.

Ngày 06/5/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương. Theo quy định tại Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg thì những bất cập trong thực hiện Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg cơ bản được khắc phục, hiện nay Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính đang phối hợp hướng dẫn thực hiện.

6. Cử tri tỉnh Gia Lai kiến nghị: Đề nghị Bộ sớm có hướng dẫn phụ cấp khu vực một lần theo Nghị định 122/2008/NĐ-CP ngày 04/12/2008 của Chính phủ đối với đối tượng có thời gian công tác trong quân đội trước ngày 01/01/1995, các đối tượng có thời gian công tác trước 30/4/1975 ở miền Nam và thời gian công tác ở nước ngoài.

Trả lời: (Tại Công văn số 5271/BQP-VP ngày 6/9/2010)

Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 122/2008/NĐ-CP ngày 04/12/2008 của Chính phủ và hướng dẫn tại khoản 2 Mục III Thông tư số 03/2009/TT-BLĐTBXH thì Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm triển khai thực hiện chế độ phụ cấp khu vực theo quy định. Do vậy, đề nghị cử tri liên hệ với ngành lao động thương binh và xã hội và bảo hiểm xã hội địa phương để được xem xét, giải quyết.



7. Cử tri tỉnh Bắc Giang kiến nghị: Đề nghị Chính phủ cấp đủ kinh phí để thực hiện dứt điểm việc di dời toàn bộ dân ra khỏi khu vực Trường bắn TB1.

Trả lời: (Tại Công văn số 5263/BQP-VP ngày 6/9/2010)

Dự án di dân, tái định cư Trường bắn TB1 thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang do UBND tỉnh Bắc Giang làm Chủ đầu tư, được ngân sách Nhà nước cấp trực tiếp cho địa phương để triển khai thực hiện. Tuy nhiên, do ngân sách Nhà nước bố trí hàng năm hạn chế, chế độ, chính sách, đơn giá về đền bù, giải phóng mặt bằng thay đổi liên tục, nên tiến độ thực hiện chậm nhiều so với kế hoạch đề ra (dự kiến hoàn thành vào năm 2009), dẫn đến phát sinh kinh phí do tăng giá đền bù thu hồi đất, tách hộ...(tổng mức đầu tư dự kiến tăng từ 589 tỷ đồng lên khoảng trên 1.000 tỷ đồng), các nội dung cụ thể đề nghị UBTV Quốc hội yêu cầu UBND tỉnh Bắc Giang báo cáo, làm rõ.

Việc chậm tiến độ di dân, tái định cư Trường bắn TB1 đã ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của Trường bắn TB1, hàng năm Bộ Quốc phòng đều có báo cáo Chính phủ xem xét bổ sung vốn (kể cả đề nghị cho ứng trước vốn) để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án. Tuy nhiên thực tế bố trí vốn của ngân sách Nhà nước cho dự án hàng năm vẫn thấp nhiều so với nhu cầu, chưa đáp ứng yêu cầu tiến độ.

Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, đề nghị UBTV Quốc hội kiến nghị với Chính phủ cấp đủ kinh phí hoặc thực hiện cơ chế ứng trước ngân sách để UBND tỉnh Bắc Giang thực hiện dứt điểm việc di dời toàn bộ dân ra khỏi khu vực Trường bắn TB1 trong năm 2011.



8. Cử tri tỉnh Bắc Ninh kiến nghị: Đề nghị quy định cụ thể đối tượng được hưởng trợ cấp theo Quyết định 142 (hiện nay, một số nơi trả chế độ trợ cấp cho những người đảo ngũ ngang bằng với những người thực hiện tốt nghĩa vụ).

Trả lời: (Tại Công văn số 5245/BQP-VP ngày 6/9/2010)

Mức trợ cấp hàng tháng và trợ cấp một lần đối với các đối tượng thực hiện theo quy định tại Điều 2, Điều 3, Điều 4 Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn tại Mục II Thông tư liên tịch số 144/2008/TTLT-BQP-BLĐTBXH-BTC ngày 27/11/2008 của Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính.



9. Cử tri tỉnh An Giang kiến nghị: Đề nghị Chính phủ, Bộ Quốc phòng sớm thực hiện dự án nhà ở cho quân nhân, vì nhu cầu nhà ở của lực lượng vũ trang là rất lớn, khả năng của các chiến sĩ không thể thực hiện được.

Cử tri tp Hà Nội và tỉnh Thanh Hóa kiến nghị: Đề nghị Chính phủ có hướng dẫn cụ thể về chính sách nhà ở đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng trong quân đội nhân dân Việt Nam, tạo điều kiện cho họ yên tâm công tác, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Trả lời: (Tại Công văn số 5265/BQP-VP ngày 6/9/2010)

- Luật nhà ở năm 2005, Luật sĩ quan QĐNDVN sửa đổi, bổ sung năm 2008 quy định: sĩ quan được bảo đảm nhà ở, nhưng Chính phủ chưa ban hành được các văn bản hướng dẫn thực hiện, vì vậy sĩ quan chưa được thuê, thuê mua nhà ở theo Luật định.

- Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng đã đăng trên cổng thông tin điện tử Chính phủ dự thảo “Nghị định quy định chi tiết việc bảo đảm về nhà ở đối với sĩ quan QĐNDVN”. Tiếp thu ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, địa phương và nhân dân, Bộ Quốc phòng sẽ hoàn chỉnh và trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành trong năm 2010.

Sau khi Nghị định ban hành, Bộ quốc phòng sẽ phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành có liên quan và địa phương để ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định và tổ chức triển khai thực hiện.



10. Cử tri thành phố Hà Nội kiến nghị: Quân nhân tham gia trong quân ngũ trên 15 năm nhưng chưa đủ 20 năm chỉ được hưởng trợ cấp một lần là chưa phù hợp. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo, nghiên cứu, bổ sung chế độ đối với đối tượng này.

Trả lời: (Tại Công văn số 5219/BQP-VP ngày 6/9/2010)

Theo quy định tại Điều 2 Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ thì: quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhập ngũ từ ngày 30/4/1975 trở về trước, có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương (bao gồm cả số tiếp tục công tác sau đó thôi việc), được thực hiện chế độ trợ cấp hàng tháng theo số năm thực tế công tác trong quân đội, đủ 15 năm được trợ cấp 600.000 đồng/tháng; sau đó cứ thêm một năm (đủ 12 tháng) được tính thêm 5% mức trợ cấp khởi điểm.

Như vậy, quân nhân tham gia trong quân đội từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng, không phải được hưởng chế độ trợ cấp một lần như phản ảnh của cử tri.

11. Cử tri tỉnh Vĩnh Phúc kiến nghị: Đề nghị xem xét chế độ khám chữa bệnh ban đầu cho cán bộ hưu trí quân đội ở các Bệnh viện quân đội.

Trả lời: (Tại Công văn số 5234/BQP-VP ngày 6/9/2010)

- Theo Luật BHYT, cán bộ quân đội nghỉ hưu thuộc đối tượng tham gia BHYT bắt buộc. Việc cấp thẻ BHYT, đăng ký cơ sở khám chữa bệnh ban đầu, quyền lợi được hưởng của người tham gia BHYT (trong đó có cán bộ quân đội nghỉ hưu) được thực hiện theo các quy định tại Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật (Nghị định 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính phủ, Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-BTC ngày 14/8/2009 của liên Bộ Y tế - Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT, Thông tư số 10/2009/TT-BYT ngày 14/8/2009 của Bộ Y tế hướng dẫn đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu và chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh BHYT...).

- Theo quy định tại Thông tư số 10/2009/TT-BYT, người tham gia BHYT (bao gồm cả cán bộ quân đội nghỉ hưu) được đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại một trong các cơ sở khám chữa bệnh tuyến xã, tuyến huyện gần nơi cư trú và được chuyển tuyến khám chữa bệnh tuỳ theo mức độ bệnh tật và khả năng chuyên môn của cơ sở khám chữa bệnh ban đầu (hầu hết các bệnh viện quân đội đều là cơ sở khám chữa bệnh tương đương tuyến tỉnh và tuyến trung ương). Một số đối tượng được đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại các cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh, tuyến trung ương nhưng phải có những điều kiện cụ thể quy định tại Thông tư. Việc quy định đăng ký khám chữa bệnh ban đầu như tại Thông tư 10/2009/TT-BYT nhằm mục đích giảm áp lực quá tải của các cơ sở khám chữa bệnh tuyến trên, tạo điều kiện thuận lợi để người tham gia BHYT được khám chữa bệnh kịp thời.

- Bộ Quốc phòng luôn luôn xác định, cán bộ quân đội nghỉ hưu là một trong các đối tượng phục vụ chính của các bệnh viện quân đội và đã chỉ đạo các bệnh viện quân đội phải tạo mọi điều kiện thuận lợi và luôn sẵn sàng tiếp nhận khám chữa bệnh cho các cán bộ quân đội nghỉ hưu có thẻ BHYT đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại các bệnh viện quân đội theo các quy định chung của BHYT (Bộ Quốc phòng đã cho phép các bệnh viện quân đội khi xây dựng biểu tổ chức biên chế được tính cả đối tượng bảo hiểm y tế là quân nhân nghỉ hưu).

- Nguyện vọng được đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại các bệnh viện quân đội của đa số cán bộ quân đội nghỉ hưu là chính đáng, Bộ Quốc phòng sẽ đề nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Y tế và các cơ quan liên quan nghiên cứu, ưu tiên để cán bộ quân đội nghỉ hưu, có nguyện vọng, được đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại các bệnh viện quân đội ở gần nơi cư trú.

12. Cử tri tỉnh Hà Nam kiến nghị: Đề nghị Chính phủ, Bộ Quốc phòng quy định giá tiền quân trang dân quân tự vệ sát giá cả thị trường, kinh phí bảo đảm theo pháp lệnh.

Trả lời: (Tại Công văn số 5222/BQP-VP ngày 6/9/2010)

Điểm g khoản 1 Điều 54; Chương VI. Kinh phí bảo đảm của Luật Dân quân tự vệ quy định “Mua sắm, trang phục của cán bộ, chiến sĩ Dân quân tự vệ nòng cốt theo quy định của pháp luật”. Điểm này quy định địa phương phải đảm bảo trang phục cho Dân quân tự vệ.

Điều 21 Nghị định số 58/2010/NĐ-CP ngày 01/6/2010 của Chính phủ “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Dân quân tự vệ”, Chính phủ chỉ quy định tiêu chuẩn, niên hạn, kiểu dáng, màu sắc, chất lượng, quản lý và sử dụng trang phục, sao mũ, phù hiệu của dân quân tự vệ làm cơ sở các địa phương tổ chức thực hiện. Giá cả tại thời điểm do các địa phương tổ chức hợp đồng với các doanh nghiệp sản xuất (được quy định tại khoản 2 Điều 9). Trách nhiệm của Bộ CHQS cấp tỉnh; Bộ TLTĐ Hà Nội; Ban CHQS bộ, ngành Trung ương; Ban CHQS cơ quan, tổ chức ở cơ sở (Thông tư số 84/2010/TT-BQP ngày 01/7/2010 của Bộ Quốc phòng quy định cách mang mặc, quản lý và sử dụng trang phục DQTV nòng cốt). Hàng năm căn cứ vào tổ chức, biên chế lực lượng DQTV nòng cốt xây dựng kế hoạch, dự toán ngân sách trình UBND tỉnh (thành phố), người đứng đầu cơ quan, tổ chức bảo đảm theo Luật ngân sách Nhà nước về bảo đảm trang phục cho lực lượng DQTV nòng cốt. Do vậy giá trang phục của DQTV do địa phương xác định; Chính phủ, Bộ Quốc phòng không quy định giá tiền trang phục của DQTV.

13. Cử tri tỉnh Hà Nam kiến nghị: Đề nghị Chính phủ quan tâm đầu tư xây dựng doanh trại, điều kiện cơ sở vật chất cho các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang địa phương, nhất là đối với những tỉnh nguồn thu ngân sách còn khó khăn, mất cân đối như Hà Nam.

Trả lời: (Tại Công văn số 5262/BQP-VP ngày 6/9/2010)

Trong những năm vừa qua, ngoài việc tập trung xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện cho các đơn vị chủ lực trong toàn quân, Bộ Quốc phòng đã hỗ trợ một phần để xây dựng doanh trại, cơ sở vật chất cho các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang địa phương, trong đó tập trung cho các đơn vị mới thành lập, di chuyển, các đơn vị ở vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn. Đối với tỉnh Hà Nam, sau khi tách tỉnh năm 1997 đến nay Bộ Quốc phòng đã hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách Quốc phòng để đầu tư xây dựng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Nam (7 tỷ đồng); các Ban chỉ huy Quân sự huyện (1,3 tỷ đồng); năm 2010 đã hỗ trợ 2 tỷ đồng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng Ban chỉ huy Quân sự huyện Lý Nhân. Hiện nay, nhu cầu đầu tư XDCB và bảo đảm cơ sở vật chất cho các đơn vị Quân sự của tỉnh còn rất lớn, cần được quan tâm đầu tư theo thứ tự ưu tiên trong những năm tiếp theo.

Hiện nay toàn quốc có tổng số 63 Bộ CHQS Tỉnh, thành phố và 694 Ban CHQS quận, huyện (thị) với nhu cầu đầu tư lớn, ngân sách Quốc phòng chủ yếu bảo đảm cho chi thường xuyên, công tác huấn luyện, SSCĐ...chỉ hỗ trợ được một phần cho đầu tư XDCB. Do đó, Bộ Quốc phòng thống nhất với kiến nghị của tỉnh Hà Nam đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương tăng tỷ trọng ngân sách hàng năm cho các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tại địa phương, trong đó có chi đầu tư xây dựng doanh trại, cơ sở vật chất cho các đơn vị lực lượng vũ trang địa phương.

14. Cử tri tỉnh Vĩnh Phúc kiến nghị: Đề nghị Chính phủ mở rộng đối tượng được hưởng chế độ theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là người thuộc lực lượng Công an biên phòng nhập ngũ trước 30/4/1975.

1   ...   30   31   32   33   34   35   36   37   ...   50


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương