KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)



tải về 3.73 Mb.
trang29/50
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích3.73 Mb.
1   ...   25   26   27   28   29   30   31   32   ...   50

Trả lời: (Tại Công văn số 8211/BCT-KH ngày 16/8/2010)

Thực hiện Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam, Công ty Thuốc lá Thăng Long đã tiến hành các thủ tục xin đất, lập và phê duyệt dự án đầu tư. Ngày 29 tháng 7 năm 2008, UBND tỉnh Hà Tây có Quyết định số 3043/QĐ-UBND giao 143.684,38m2 đất dự án Khu công nghiệp Thạch Thất, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc TP. Hà Nội) cho Công ty Thuốc lá Thăng Long. Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cũng đã được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp cho Công ty, để xây dựng nhà máy sản xuất thuốc lá điếu, với thời hạn thuê 50 năm.

Sau khi được nhận khu đất trên, Công ty Thuốc lá Thăng Long đã tiến hành triển khai thực hiện một số công việc của dự án, như xây dựng tường rào bao quanh khu đất, xây dựng trạm biến áp, hệ thống hố ga, nhà điều hành ban quản lý dự án... Tuy nhiên, trong quá triển khai dự án, Công ty phải thực hiện một số thủ tục đầu tư theo quy định, đồng thời, do tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước, nên Công ty đã phải giãn tiến độ dự án theo chỉ đạo chung. Do dự án chậm tiến độ, nên tháng 5 năm 2010, UBND TP. Hà Nội đã có dự kiến thu hồi lại khu đất này. Trước tình hình đó, Tổng công ty Thuốc lá Thăng Long đã xây dựng lại kế hoạch đầu tư và các biện pháp để đẩy nhanh tiến độ của dự án, đồng thời kiến nghị với Bộ Công Thương, UBND TP. Hà Nội và Thủ tướng Chính phủ tạo điều kiện để Công ty thuốc lá Thăng Long được tiếp tục thực hiện dự án di dời Nhà máy ra Khu Công nghiệp Thạch Thất.

Đến nay, Công ty Thuốc lá Thăng Long đã ký các hợp đồng thi công xây dựng, tư vấn giám sát, chuẩn bị mặt bằng thi công, tập kết vật tư, vật liệu thiết bị thi công và đang triển khai ép cọc bê tông cốt thép của móng công trình. Ngoài ra, Công ty cũng đã tiến hành các thủ tục cho một số gói thầu của dự án theo quy định của Luật Đấu thầu.



73. Cử tri tỉnh Gia Lai kiến nghị: Cử tri phản ánh trong thời gian qua nhiều người trên địa bàn xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội mắc bệnh ung thư; cử tri cho rằng nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng trên là do Nhà máy Hóa chất Việt trì (tỉnh Phú Thọ) xả chất thải gây ô nhiễm môi trường. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo kiểm tra xác định mức độ ô nhiễm và có biện pháp giải quyết (Cử tri huyện Ba Vì).

Trả lời: (Tại Công văn số 8211/BCT-KH ngày 16/8/2010)

Sau khi nhận được kiến nghị của cử tri, Bộ Công Thương đã làm việc với Công ty Cổ phần Hoá chất Việt Trì về việc xả chất thải ra môi trường của Nhà máy hoá chất. Sau khi xem xét các hồ sơ liên quan và báo cáo của Công ty Cổ phần Hoá chất Việt Trì, Bộ Công Thương có một số ý kiến như sau:



- Về đặc điểm của Công ty cổ phần Hóa chất Việt Trì

(1) Sản phẩm chính của Công ty

STT

Sản phẩm

Sản lượng

Ghi chú

1

NaOH

12.000 tấn/năm

Sản xuất liên tục

2

HCl

32.000 tấn/năm

Sản xuất liên tục

3

Clo lỏng

1.200 tấn/năm

Sản xuất liên tục

4

Javen

8.000 tấn/năm

Sản xuất liên tục

5

Bột giặt

1.500 tấn/năm

Sản xuất gián đoạn

(2) Vị trí sản xuất:

+ Khu vực 1: Là khu vực sản xuất chính thuộc phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì ranh giới: phía Bắc giáp quốc lộ 2; phía Đông giáp với Công ty Giấy Việt Trì; phía Tây giáp Công ty Miwon; phía Nam giáp đê sông Hồng.

+ Khu vực 2: Phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì.

(3) Nguyên, nhiên liệu sử dụng:

Nguyên liệu: NaCl (muối ăn) - 21.000 tấn/năm;

Nhiên liệu: than - 6.000 tấn/năm; Dầu FO: 120 tấn/năm.

(4) Nguồn chất thải:

+ Khí thải: Gồm khí thải lò hơi đốt than và khí thải tháp hấp thụ axít. Theo kết quả quan trắc môi trường 5 năm gần nhất do Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ môi trường tỉnh Phú Thọ thực hiện, tất cả các chỉ tiêu phân tích đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 19:2009/BTNMT.

+ Nước thải: Chủ yếu phát sinh từ nước vệ sinh nhà xưởng, làm mát thiết bị, nước thải sinh hoạt, được thu gom và xử lý qua hệ thống xử lý nước thải công suất thiết kế 25 m­­3/h (thực tế 15 m­­3/h). Theo kết quả quan trắc môi trường 5 năm gần nhất do Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ môi trường tỉnh Phú Thọ thực hiện, tất cả các chỉ tiêu phân tích đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 24:2009/BTNMT.

+ Chất thải rắn:

STT

Chất thải

Số lượng

Phương án xử lý

I

Chất thải thông thường

1

Xỉ than

900 tấn/năm

Dùng để san lấp mặt bằng và làm vật liệu xây dựng

2

Rác thải sinh hoạt

50 kg/ngày

Ký hợp đồng với Công ty Cổ phần Môi trường và dịch vụ đô thị Việt Trì vận chuyển, xử lý

3

Bùn của quá trình làm sạch muối

10 tấn/tháng

Ký hợp đồng với Công ty TNHH một thành viên xử lý và chế biến chất thải Phú Thọ vận chuyển, xử lý


II

Chất thải nguy hại

1

Aminăng

< 300 kg/năm

Công ty đã đăng ký chủ nguồn thải, chất thải nguy hại với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ, hiện tại đang lưu giữ tại Công ty theo đúng quy định. Sau khi cơ sở xử lý chất thải nguy hại của tỉnh hoạt động sẽ thuê đơn vị có chức năng vận chuyển và xử lý.

2

Giẻ lau dính dầu

5 kg/tháng

- Nhận xét:

Công ty Cổ phần Hoá chất Việt Trì đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật về môi trường, các dự án đầu tư đều được lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường và đã được phê duyệt. Công ty thực hiện công tác giám sát môi trường đầy đủ theo quy định.

Các nguồn thải do hoạt động sản xuất của Công ty có số lượng nhỏ và đều được kiểm soát. Theo Báo cáo về kết quả quan trắc môi trường hàng năm, các chỉ tiêu đều đạt tiêu chuẩn cho phép. Các khí đặc trưng như HCl, Clor nhỏ hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép hiện hành. Các chỉ tiêu đặc trưng trong nước thải, như Clor dư đều nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép hiện hành.

Theo báo cáo của Công ty, từ khi đi vào hoạt động đến nay, chưa có sự cố nào về hóa chất xảy ra tại Công ty và chưa có bất kỳ ý kiến phản ánh nào của dân cư khu vực xung quanh, liên quan đến hoạt động của Công ty. Khu vực bị tác động do khí thải của Công ty (nếu có) là các khu vực dân cư thành phố Việt Trì. Vì vậy, để xác định nguyên nhân gây ung thư theo phản ánh của cử tri huyện Ba Vì, Bộ Công Thương cho rằng cần có sự phối hợp khảo sát, nghiên cứu của các cơ quan quản lý về y tế, môi trường, khoa học công nghệ… Trên cơ sở đó mới đưa ra được kết luận chính xác về vấn đề mà cử tri đã nêu./.



BỘ NỘI VỤ
1. Cử tri các tỉnh Bắc Giang, Tây Ninh, Vĩnh Phúc, Lạng Sơn,Thái Nguyên, Nghệ An, Cà Mau, Yên Bái, Nam Định kiến nghị:Đề nghị Chính phủ có chính sách giải quyết chế độ cho các đối tượng là cán bộ xã, phường nghỉ theo Nghị định số 09/NĐ-CP mà không chuyển lương theo Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/1/2003 của Chính phủ, hiện nay còn nhiều đối tượng nghỉ tại thời điểm đó chưa đủ tuổi nghỉ hưu, chưa đủ thời gian đóng BHXH nhưng đã đủ thời gian công tác chưa được giải quyết chế độ. Nên quy định độ tuổi nghỉ hưu cho cán bộ cấp xã đối với nam 55 tuổi, nữ 50 tuổi và thời gian đóng BHXH là 15 năm là hợp lý. Cần tính thời gian tham gia quân đội, chủ nhiệm HXT các thời kỳ để tính thời gian công tác cho nhóm đối tượng này.

Trả lời: (Tại Công văn số 2842/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Liên Bộ, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã có Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH ngày 27/5/2010 Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 20009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Khoản 3, Điều 8 của Thông tư quy định: Cán bộ xã có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 1 năm 1998 của Chính phủ mà chưa hưởng trợ cấp hàng tháng hoặc trợ cấp một lần (kể cả các trường hợp đã có quyết định nghỉ chờ giải quyết chế độ nhưng chưa gửi hồ sơ đến cơ quan bảo hiểm xã hội) thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội khi đủ điều kiện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Về thời gian tham gia công tác, Thông tư quy định: Trường hợp có thời gian công tác trong quân đội nhân dân, công an nhân dân đã phục viên, xuất ngũ trước ngày 15 tháng 12 năm 1993 và không hưởng trợ cấp nghỉ việc một lần theo quy định tại Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2005; Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2005 và Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ thì được cộng nối thời gian công tác trong quân đội với thời gian giữ chức danh theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP để tính hưởng bảo hiểm xã hội.

Như vậy, các đối tượng là cán bộ xã, phường, thị trấn nghỉ theo Nghị định 09/1998/NĐ-CP thì sau ngày Thông tư có hiệu lực sẽ được các địa phương tổ chức hướng dẫn thực hiện.

2. Cử tri các tỉnh Vĩnh Phúc, Đồng Nam, Long An, Quảng Ngãi, Hưng Yên, An Giang, Cà Mau, và thành phố Hà Nội kiến nghị:Cử tri kiến nghị Chính phủ quan tâm xem xét và có điều chỉnh chế độ lương, phụ cấp cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn, thôn cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và tương xứng với trách nhiệm, công việc. Đồng thời có chế độ BHXH bắt buộc cho tất cả các chức danh cán bộ, công chức cấp xã.

Trả lời: (Tại Công văn số 2876/BNV-TL ngày 24/8/2010)

1. Về tiền lương và phụ cấp:

Căn cứ quy định tại Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, trong đó đã quy định về tiền lương, phụ cấp và bảo hiểm xã hội như sau:

- Đối với cán bộ cấp xã được xếp lương theo bảng lương chức vụ (nếu có trình độ sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) hoặc xếp lương như công chức hành chính và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên).

- Đối với công chức cấp xã thực hiện xếp lương như công chức hành chính.

- Đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố được hưởng chế độ phụ cấp hàng tháng do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định với mức không vượt quá hệ số 1,0 mức lương tối thiểu chung. Ngân sách trung ương hỗ trợ các địa phương theo mức bình quân bằng 2/3 so với mức lương tối thiểu chung cho mỗi người hoạt động không chuyên trách.

Triển khai thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, Bộ Nội vụ đã phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 27/5/2010 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

2. Về bảo hiểm xã hội:

- Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và khoản 1 Điều 2 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc thì cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

- Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện quy định tại Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28/12/2007 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Như vậy, căn cứ quy định của Luật cán bộ, công chức và tình hình kinh tế-xã hội của đất nước, Chính phủ đã có quy định cụ thể chế độ tiền lương, phụ cấp và bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức cấp xã.

3. Cử tri các tỉnh Lai Châu, Bắc Kạn, Đồng Nai, Tuyên Quang, Quảng Ngãi, Hòa Bình, Hải Phòng, Ninh Thuận, Quảng Trị kiến nghị:Đề nghị Bộ Nội vụ và các bộ, ngành sớm ban hành Thông tư hướng dẫn Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã vì Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thi hành, gây khó khăn cho quá trình triển khai thực hiện trên thực tế.

Trả lời: (Tại Công văn số 2837/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Liên Bộ, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã có thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH ngày 27/5/2010 Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.



4. Cử tri thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh và các tỉnh Vĩnh Long, Điện Biên, Long An, Cà Mau, Vĩnh Phúc kiến nghị:Đề nghị nâng chế độ phụ cấp và có chế độ BHXH, BHYT đối với Phó xã đội, Phó công an xã, các chức danh phụ trách về công tác Đảng ở cấp xã, phường, cấp phó và cán bộ bán chuyên trách các đoàn thể ở cơ sở, cấp Phó các đoàn thể.

Trả lời: (Tại Công văn số 2844/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khoá X) và Luật Cán bộ, công chức, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, liên Bộ ban hành Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT/BNV-BTC-BLĐTB&XH ngày 27/5/2010 hướng dẫn thực hiện Nghị định nêu trên; trong đó quy định mức phụ cấp của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố không vượt quá 1,0 hệ số mức lương tối thiểu chung; quy định những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được tham gia bảo hiểm y tế, và quy định những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Việc đề nghị nâng chế độ phụ cấp và có chế độ bảo hiểm xã hội đối với những người hoạt động không chuyên trách (Phó xã đội, Phó công an và các chức danh phụ trách về công tác Đảng ở cấp xã, cấp phó và cán bộ bán chuyên trách các đoàn thể ở cơ sở vượt quá 1,0 hệ số mức lương tối thiểu chung) sẽ không phù hợp với chế độ tiền lương đối với công chức cấp xã (công chức cấp xã chưa qua đào tạo đang hưởng hệ số 1,18 mức lương tối thiểu chung), và không phù hợp với chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành.

5. Cử tri tp Hồ Chí Minh và các tỉnh Trà Vinh, Tây Ninh, Vình Long, Tiền Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Bình Thuận, Bến Tre, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lâm Đồng, Long An, Cà Mau, Gia Lai, Vĩnh Phúc kiến nghị: Chính sách đãi ngộ cán bộ theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ không đảm bảo cuộc sống cho cán bộ xã, phường. Một số quy định không hợp lý, không tăng lại giảm so với các quy định trước đây như quy định về: số lượng biên chế, chế độ lương, phụ cấp vẫn còn thấp; đội ngũ cán bộ bán chuyên trách, phó ngành cấp xã, Bí thư chi bộ, trưởng ban nhân dân, cán bộ ấp, khóm chưa được quan tâm đúng mức; chế độ đối với cán bộ có chức danh do HĐND không quá hệ số 1,0 mức lương tối thiểu chung (nên bỏ quy định trần và để HĐND tỉnh tự quy định tùy theo cân đối ngân sách địa phương hoặc tăng lên mức hệ số 2,0); chế độ đi học, đào tạo lại của các bộ cơ sở vẫn thấp (15.000 đ/ngày), cán bộ cơ sở luân chuyển sang công tác ở đơn vị mới không được tính thâm niên công tác tại đơn vị cũ…. đề nghị Chính phủ xem xét, bổ sung cho phù hợp.

Trả lời: (Tại Công văn số 2843/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khoá X) và Luật Cán bộ, công chức, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, liên Bộ ban hành Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT ngày 27/5/2010 hướng dẫn thực hiện Nghị định nêu trên; trong đó quy định:

- Số lượng cán bộ, công chức đối với cấp xã loại 3 (loại thấp nhất) không quá 21 người (tăng 04 người so với quy định trước đây chỉ có 17 người);

- Chế độ tiền lương đối với cán bộ bầu cử và công chức chuyên môn cấp xã nếu có bằng cấp chuyên môn nghiệp vụ từ trung cấp trở lên thì được xếp ngạch và hưởng lương như cán bộ, công chức từ cấp huyên trở lên;

- Ngoài chế độ tiền lương, cán bộ cấp xã còn được hưởng thêm các chế độ phụ cấp: Phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp theo loại xã, phụ cấp kiêm nhiệm chức danh và các loại phụ cấp khác theo quy định của pháp luật hiện hành;

- Chế độ đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ cơ sở về cơ bản được thực hiện như chế độ đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên được cử đi học.

Đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn, Luật Cán bộ, công chức giao Chính phủ quy định khung số lượng và khung mức phụ cấp; Chính phủ giao các địa phương quy định số lượng, chức danh, mức phụ cấp và hướng dẫn việc khoán phụ cấp và khoán kinh phí hoạt động để phù hợp với thực tế cán bộ và khả năng ngân sách của địa phương. Việc cử tri đề nghị nâng mức phụ cấp những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố lên 1,0 hệ số mức lương tối thiểu chung sẽ không phù hợp với chế độ tiền lương đối với công chức cấp xã hiện nay (công chức cấp xã chưa có trình độ đào tạo chuyên môn nghiệp vụ đang hưởng lương bằng 1,18 hệ số mức lương tối thiểu chung).

Việc tính thời gian công tác liên tục để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội căn cứ vào chức vụ, chức danh của cán bộ, công chức cấp xã và thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thể hiện trên sổ Bảo hiểm xã hội. Từ trước đến nay không có quy định nào quy định “cán bộ cơ sở luân chuyển công tác ở đơn vị mới không được tính thâm niên công tác ở đơn vị cũ”.



6. Cử tri các tỉnh Vĩnh Long, Bắc Kạn, Hòa Bình, Bình Thuận kiến nghị:Cử tri kiến nghị Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ qui định về việc cán bộ được hưởng lương hưu trước tuổi theo qui định nhưng chỉ áp dụng đối với cán bộ cấp huyện trở lên còn ở cấp xã không được áp dụng. Trong khi tất cả đều là cán bộ nhưng áp lực công việc của cán bộ cấp xã lại nhiều hơn ở cấp huyện. Cử tri kiến nghị Bộ Nội vụ xem xét để cán bộ xã được hưởng chế độ như cán bộ cấp huyện theo qui định 132 của Chính phủ.

Trả lời: (Tại Công văn số 2538/BNV-TCBC ngày 30/7/2010)

1. Ngày 15/6/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2010/NĐ-CP quy định về chế độ, chính sách đối với cán bộ không đủ tuổi tái cử, tái bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong đó cán bộ cấp xã được thực hiện chế độ, chính sách quy định tại Nghị định này

2. Căn cứ Điều 64 Luật Cán bộ, công chức quy định việc thôi việc, nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức cấp xã được thực hiện theo quy định tương ứng đối với cán bộ, công chức và theo kiến nghị của một số cử tri, ngày 25/12/2009, Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế, trong đó có đề nghị bổ sung đối tượng áp dụng là công chức cấp xã.

7. Cử tri các tỉnh Cần Thơ, Bình Thuận, Quảng Ngãi kiến nghị:Đề nghị Chính phủ cần quan tâm đến chế độ chính sách đối với cán bộ không chuyên trách ở cơ sở, đảm bảo tương xứng với trách nhiệm, nhiệm vụ được giao (hiện nay đối tượng này còn nhiều thiệt thòi, không có chế độ lương, không có Bảo hiểm y tế,…).

Cử tri các tỉnh Lào Cai, Lâm Đồng, Gia Lai kiến nghị:Theo quy định của pháp luật chuyên ngành có quy định chức danh cán bộ cấp xã nhưng theo quy định tại Nghị định 92 thì không quy định và cũng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng an ninh ở cở sở trên các địa bàn chiến lược. Do vậy kiến nghị Bộ Nội vụ nghiên cứu, trình Chính phủ bổ sung Nghị định 92 chế độ đối với một số chức danh sau: cán bộ văn phòng, công an viên (điều 18 Pháp lệnh công an xã), lâm nghiệp đối với những xã có rừng theo quy định của Luật bảo vệ rừng, Văn phòng Đảng ủy.

Cử tri tỉnh Thái Nguyên kiến nghị:Đề nghị Trung ương nghiên cứu tăng biên chế chuyên trách hoặc có chính sách thoả đáng đối với cán bộ làm công tác Đảng tại các xã, thị trấn như: cán bộ văn phòng cấp uỷ, trưởng ban tuyên giáo, chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra. Vì ở cấp cơ sở các chức vụ trên đều do đồng chí Thường trực đảng uỷ kiêm nhiệm, nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ, chất lượng công việc được giao.

Trả lời: (Tại Công văn số 2840/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Các chức danh Văn phòng Đảng uỷ, Trưởng ban tuyên giáo Đảng uỷ, Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ, Công an viên là những người hoạt động không chuyên trách cấp xã hoặc thôn, tổ dân phố.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6, khoá X về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”, Chính phủ chỉ quy định khung số lượng những người hoạt động không chuyên trách:


  • Đối với xã, phường, thị trấn loại 1: bố trí không quá 22 người;

  • Đối với xã, phường, thị trấn loại 2: bố trí không quá 20 người;

  • Đối với xã, phường, thị trấn loại 3: bố trí không quá 19 người;

  • Mỗi thôn, tổ dân phố bố trí không quá 03 người.

Chính phủ giao cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định chức danh những người hoạt động không chuyên trách; mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh; mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh; mức khoá kinh phí chi trả phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách theo loại đơn vị hành chính cấp xã, loại thôn, tổ dân phố.

Việc quy định mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh và bố trí kiêm nhiệm chức danh như thế nào để có hiệu quả thiết thực là trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.



8. Cử tri các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Điện Biên, Gia Lai kiến nghị:Đề nghị có chính sách cụ thể và sửa đổi Thông tư liên tịch số 11 để thu hút cán bộ có trình độ ở đồng bằng lên công tác tại các huyện, xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số như: nâng lương, nâng phụ cấp, cấp đất, hỗ trợ tiền xây dựng nhà…
1   ...   25   26   27   28   29   30   31   32   ...   50


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương