KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)



tải về 3.73 Mb.
trang30/50
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích3.73 Mb.
1   ...   26   27   28   29   30   31   32   33   ...   50

Trả lời: (Tại Công văn số 2877/BNV-TL ngày 24/8/2010)

Thực hiện Kết luận số 23-KL/TW ngày 08/4/2008 của Bộ Chính trị về những công việc cần cụ thể hoá để triển khai thực hiện các Nghị quyết Trung ương 6 (khoá X) và công văn số 8158/VPCP-KGVX ngày 16/11/2009 của Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Nghị định về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Dự thảo Nghị định đã được gửi lấy ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương, ý kiến của nhân dân trên Cổng Thông tin điện tử của Chính phủ và được Bộ Tư pháp thẩm định. Hiện nay, dự thảo Nghị định đang hoàn chỉnh để trình Chính phủ xem xét, quyết định.



9. Cử tri các tỉnh Cần Thơ, Lào Cai kiến nghị:Nhiều cử tri cho biết: chế độ, chính sách liên quan đến lương của cán bộ chuyên trách cấp xã hiện có một số bất cập, chưa hợp lý, rất cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Cụ thể là nên thống nhất về thời gian, thời hạn nâng lương, hệ số lương khởi điểm để cán bộ chuyên trách cấp xã được hưởng hệ số lương khởi điểm theo trình độ chuyên môn, được tăng hệ số lương theo quy định đối với công chức cấp xã.

Trả lời: (Tại Công văn số 2878/BNV-TL ngày 24/8/2010)

1. Căn cứ quy định tại Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã (thay thế Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn), trong đó đã quy định:

- Đối với cán bộ cấp xã có trình độ sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện xếp lương theo bảng lương chức vụ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP.

- Đối với cán bộ cấp xã đã tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy định tại bảng lương số 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Cán bộ cấp xã nêu trên được thực hiện chế độ nâng bậc lương theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP.

2. Thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, Bộ Nội vụ đã phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 27/5/2010 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Như vậy, vấn đề cử tri kiến nghị đã được Chính phủ xem xét, giải quyết tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP.

10. Cử tri các tỉnh An Giang, Đà Nẵng kiến nghị:Tình trạng cán bộ, công chức cấp xã thiếu trầm trọng và trình độ năng lực còn hạn chế, vì vậy cần người có trình độ, được đào tạo chuyên môn công tác tại các cơ quan nhà nước nhất là cấp xã, nhưng sinh viên tốt nghiệp ra trường đa số ở lại tìm việc tại các thành phố lớn, điều kiện sống thuận lợi và thu nhập cao. Để thu hút được nguồn nhân lực có trình độ về công tác tại địa phương, đề nghị Chính phủ nên có chương trình đãi ngộ thỏa đáng.

Trả lời: (Tại Công văn số 2855/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Hiện nay, Bộ Nội vụ đang được Chính phủ giao chủ trì xây dựng Dự án thí điểm “Tuyển chọn 600 trí thức trẻ ưu tú dưới 26 tuổi, có trình độ đại học bổ nhiệm Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã để tăng cường cho 62 huyện nghèo trong cả nước” được quy định tại Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 11/9/2009 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

Đây là một trong những chủ trương của Chính phủ nhằm tăng cường đội ngũ cán bộ, công chức trẻ có trình độ chuyên môn, có nhiệt huyết về công tác tại cơ sở.

Mục tiêu cơ bản Dự án thí điểm này nhằm:

- Tuyển chọn được những thanh niên ưu tú có trình độ đại học, có chuyên môn nghiệp vụ phù hợp, phẩm chất chính trị tốt, sức khỏe tốt và có năng lực làm lãnh đạo, quản lý sau đó tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cần thiết của chức danh Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Trên cơ sở đó, lựa chọn những người đủ điều kiện để bổ nhiệm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã và bố trí về làm việc tại các xã nghèo thuộc 62 huyện nghèo trong cả nước.

- Thông qua các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống từ Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ tạo điều kiện, môi trường để cho cán bộ trẻ, có triển vọng được rèn luyện và trưởng thành trong thực tiễn, tạo nguồn cán bộ bổ sung vào các chức danh lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước.

- Kết quả tổ chức và triển khai thực hiện Dự án này sẽ tổng kết, rút kinh nghiệm để xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trẻ tăng cường bổ sung cho cơ sở.

11. Cử tri tỉnh Phú Thọ kiến nghị:Ngày 15/9/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định sửa đổi một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang đã quy định cho các đối tượng như: hải quan, tòa án, kiểm sát, thanh tra, kiểm lâm, thi hành án dân sự được hưởng phụ cấp thâm niên nghề bằng 5% mức lương hiện hưởng, từ năm thứ sáu trở đi mỗi năm được hưởng thêm 1% với những quy định đó đã thể hiện được sự quan tâm của Nhà nước đối với những cán bộ, công chức làm việc tại những ngành đặc thù, khó khăn, vất vả. Tuy nhiên, những cán bộ, công chức công tác ở những ngành trên về hưu trước ngày 15/9/2009 bị thiệt thòi do không được hưởng phụ cấp mới do Chính phủ quy định, trong khi họ cũng đã cống hiến tuổi thanh xuân và đóng góp nhiều công sức để xây dựng và phát triển ngành nói riêng và đất nước nói chung, đặc biệt là những cán bộ, công chức công tác trong thời kỳ đất nước còn chiến tranh. Đề nghị Chính phủ nghiên cứu, xem xét cho các cán bộ, công chức công tác ở những ngành trên đã nghỉ hưu trước ngày 15/9/2009 được tính phụ cấp thâm niên nghề vào lương hưu để đảm bảo sự công bằng đối với những đối tượng trên.

Trả lời: (Tại Công văn số 2868/BNV-TL ngày 24/8/2010)

Thực hiện Kết luận số 40-KL/TW ngày 06/3/2009 của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Tại khoản 2 Điều 1 và khoản 2 Điều 2 Nghị định số 76/2009/NĐ-CP đã quy định từ ngày 01/01/2009 áp dụng chế độ phụ cấp thâm niên nghề đối với cán bộ, công chức hiện đang công tác ở chuyên ngành toà án, kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự và kiểm lâm; đồng thời theo quy định của chế độ tiền lương hiện hành (tại khoản 8 Điều 6 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP nêu trên) thì chế độ phụ cấp thâm niên nghề được tính trên mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) và chỉ được thực hiện đối với người đang làm việc.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 94 Luật Bảo hiểm xã hội thì phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) được dùng để tính đóng hưởng bảo hiểm xã hội. Theo đó, đối với cán bộ, công chức công tác tại các ngành nêu trên từ ngày 01/01/2009 trở về sau khi nghỉ hưu thì mức phụ cấp thâm niên nghề được tính trong lương hưu hàng tháng.

12. Cử tri tỉnh Điện Biên kiến nghị:Thủ tục, thời điểm thông báo, thời điểm ra quyết định nghỉ hưu và hưởng chế độ hưu chí đối với cán bộ, công chức đủ điều kiện nghỉ hưu theo qui định tại Nghị định 143/2007/NĐ-CP ngày 10/9/2007 có điểm chưa rõ, gây khó khăn trong quá trình thực hiện, đó là: Thời điểm nghỉ hưu và hưởng chế độ hưu trí đối với cán bộ, công chức công tác tại nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.

Theo Điểm b, Khoản 1, Điều 50 Luật BHXH quy định: Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng Bảo hiểm xã hội trở lên, trong đó có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên...

Như vậy, chính sách hưu trí có sự ưu đãi đối với lao động làm nghề độc hại, nặng nhọc, nơi khó khăn. Cụ thể là tuổi đời hưởng chế độ hưu trí dao động giảm 5 năm đối với cả nam và nữ so với tuổi hưu trí chung (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi). Nhưng qui định ưu đãi về tuổi đời được hưởng chế độ hưu này không được thể hiện rõ ràng khi áp dụng đối với cán bộ, công chức khi thực hiện chế độ nghỉ hưu theo Nghị định 143 nói trên, gây thắc mắc cho người nghỉ hưu và tâm tư cho người sắp nghỉ hưu ở vùng có hệ số phụ cấp khu vực 0,7 trở lên.

Trên thực tế, căn cứ vào Nghị định 143, cán bộ, công chức công tác ở khu vực có hệ số phụ cấp 0,7 trở lên (đủ 15 năm) đến 55 tuổi đối với nam và 50 tuổi đối với nữ, đủ 20 năm đóng bảo hiểm đều được thông báo nghỉ hưu trước 06 tháng và quyết định nghỉ hưu trước 3 tháng, không kể đối tượng có đồng ý hay không. Như vậy, tuổi đời nghỉ hưu là cứng, đủ 55 tuổi đối với nam, 50 tuổi đối với nữ chứ không phải từ 55 đến 60 đối với nam, 50 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ. Đối tượng này mất quyền lao động 5 năm so với quy định chung.

Vậy đề nghị Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan qui định, hướng dẫn rõ Khoản 2, Điều 4, Nghị định 143 cho phù hợp với Khoản 1, Điều 50 Luật BHXH.

Trả lời: (Tại Công văn số 2869/BNV-TL ngày 24/8/2010)

1. Đối với công chức: Căn cứ Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội quy định về điều kiện hưởng lương hưu, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 15/12/2006 hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc. Đồng thời, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 31 và khoản 1 Điều 60 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 46/2010/NĐ-CP ngày 27/4/2010 quy định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức (thay thế quy định về thủ tục thực hiện nghỉ hưu đối với công chức tại NGhị định số 143/2007/NĐ-CP ngày 10/9/2007 của Chính phủ quy định về thủ tục thực hiện nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức đủ điều kiện nghỉ hưu).

2. Đối với viên chức: Thủ tục thực hiện nghỉ hưu đối với viên chức tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 143/2007/NĐ-CP nêu trên cho đến khi Quốc hội ban hành Luật Viên chức.

Căn cứ các quy định nêu trên, thì Nghị định số 46/2010/NĐ-CP và Nghị định số 143/2007/NĐ-CP của Chính phủ chỉ quy định về thủ tục thực hiện nghỉ hưu đối với công chức, viên chức. Việc thực hiện tuổi lao động và điều kiện hưởng lương hưu được thực hiện theo quy định của Bộ Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội và Nghị định số 152/2006/NĐ-CP của Chính phủ.



13. Cử tri tỉnh Hòa Bình kiến nghị:Luật Cán bộ, công chức đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Chính phủ đã giao cho các bộ nghiên cứu trình Nghị định hướng dẫn. Nhiều Nghị định ban hành chưa đồng bộ, không thực hiện được trên thực tế. Đề nghị Chính phủ cho rà soát lại vấn đề này và chỉ đạo các bộ, ngành tổ chức hướng dẫn đồng bộ và kịp thời.

Trả lời: (Tại Công văn số 2747/BNV-CCVC ngày 16/8/2010)

Theo Kế hoạch triển khai thực hiện Luật Cán bộ, công chức (ban hành kèm theo Quyết định số 365/QĐ-TTg ngày 20 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ), Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ, ngành xây dựng 12 Nghị định và 03 Đề án để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức. Trong đó, Bộ Nội vụ được giao chủ trì xây dựng 11 Nghị định và 03 Đề án; Bộ Tài chính được giao chủ trì xây dựng 01 Nghị định. Đến nay, kết quả thực hiện như sau:

1. Các Nghị định đã được Chính phủ ban hành, gồm 06 Nghị định:

- Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã;

- Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức;

- Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức;

- Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức;

- Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức;

- Nghị định số 46/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức.

2. Các Nghị định và đề án đã trình Chính phủ, gồm 03 Nghị định và 03 đề án:

- Nghị định quy định việc xử lý kỷ luật đối với công chức;

- Nghị định quy định việc áp dụng Luật cán bộ, công chức đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và người được cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước;

- Nghị định về công chức xã, phường, thị trấn;

- Đề án về phương pháp xác định vị trí việc làm và cơ cấu công chức;

- Đề án thí điểm tổ chức thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh;

- Đề án về chính sách phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng.

3. Các Nghị định Chính phủ đã nhất trí đưa ra khỏi chương trình xây dựng văn bản triển khai Luật Cán bộ, công chức, gồm 02 Nghị định:

- Nghị định quy định về hoạt động thanh tra công vụ. Bộ Nội vụ đề nghị đưa Nghị định này ra khỏi chương trình xây dựng văn bản vì hiện nay Bộ Nội vụ đang xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra nội vụ;

- Nghị định quy định về các điều kiện bảo đảm thi hành công vụ. Bộ Tài chính đề nghị đưa Nghị định này ra khỏi chương trình xây dựng văn bản vì các điều kiện bảo đảm thi hành công vụ đã được quy định trong các văn bản có liên quan...

4. Bộ Nội vụ đang đề nghị Chính phủ đưa ra khỏi chương trình xây dựng văn bản triển khai Luật Cán bộ, công chức 01 Nghị định:

Nghị định quy định về danh mục ngành, nghề, công việc liên quan đến bí mật nhà nước và thời hạn mà cán bộ, công chức không được làm sau khi có quyết định nghỉ hưu, thôi việc.Dự thảo Nghị định này Bộ Nội vụ đã gửi Bộ Tư pháp thẩm định, đồng thời trình Chính phủ vào tháng 3/2010 theo tiến độ. Ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp tại công văn số 5512/BTP-PLHSHC ngày 27 tháng 5 năm 2010 đề nghị Bộ Nội vụ nghiên cứu, cân nhắc về sự cần thiết ban hành văn bản trên cơ sở xem xét lại tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo Nghị định với hệ thống pháp luật hiện hành.

Ngày 21 tháng 7 năm 2010, Bộ Nội vụ đã có tờ trình Chính phủ số 2390/TTr-BNV đề nghị Chính phủ cho phép đưa Nghị định này ra khỏi chương trình xây dựng văn bản triển khai Luật Cán bộ, công chức vì việc bảo vệ bí mật nhà nước hiện đang được điều chỉnh bởi hệ thống các văn băn quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước. Mặt khác, cán bộ, công chức đã nghỉ hưu, thôi việc thì không còn là cán bộ, công chức nữa nên không chịu sự tác động của văn bản về quản lý cán bộ công chức và việc quản lý đối với các đối tượng này là rất phức tạp, khó khả thi.

Như vậy, căn cứ kết quả thực hiện nêu trên thì tiến độ hoàn thành chưa được kịp thời, do trong quá trình nghiên cứu, xây dựng các văn bản, đề án, Bộ Nội vụ thấy có một số vấn đề mới, phức tạp liên quan đến việc đổi mới về cơ chế quản lý cán bộ, công chức; có những vấn đề lần đầu tiên được triển khai thực hiện ở nước ta (như mô tả, xác định vị trí việc làm, tổ chức thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh) hoặc có những vấn đề liên quan đến các quy định của pháp luật chuyên ngành khác mà các quy định của pháp luật chuyên ngành đó cũng đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện (như Luật Doanh nghiệp, Luật Viên chức). Vì vậy, trong quá trình xây dựng và triển khai các văn bản, đề án của Chính phủ vẫn còn có ý kiến, quan điểm khác nhau cần được nghiên cứu thấu đáo để quy định cho phù hợp với thực tiễn và pháp luật, bảo đảm việc thực hiện pháp luật có hiệu quả.

Tiếp thu ý kiến của cử tri, trong thời gian tới, Bộ Nội vụ sẽ phối hợp với các cơ quan hữu quan sớm hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành các văn bản, đề án còn lại theo Kế hoạch triển khai thực hiện Luật Cán bộ, công chức; đôn đốc, hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện tốt các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Luật Cán bộ, công chức; kịp thời phát hiện và báo cáo Chính phủ sửa đổi, bổ sung các quy định không phù hợp với thực tế trong quá trình thực hiện.



14. Cử tri tp Hải Phòng kiến nghị:Hiện nay dịch bệnh xảy ra rất phổ biến và thường xuyên, do đó vai trò của cán bộ thú y cấp cơ sở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát hiện, phòng và dập dịch. Tuy nhiên, hiện nay mức trợ cấp cho cán bộ thú y mới chỉ có 350.000 đồng/tháng. Để nâng cao hiệu quả phòng dịch, đề nghị Nhà nước cần tăng cường mạng lưới thú y cấp cơ sở, nâng chế độ trợ cấp cho cán bộ thú y sao cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.

Trả lời: (Tại Công văn số 2564/BNV-TCBC ngày 03/8/2010)

1. Về hệ thống tổ chức ngành thú y:

Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thú y luôn được Chính phủ, các Bộ, ngành có liên quan và địa phương quan tâm củng cố, kiện toàn và được tổ chức từ trung ương đến cấp xã.

Tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 33/2005/NĐ-CP ngày 15/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Thú y quy định: Ở xã, phường, thị trấn có nhân viên thú y.

Thực hiện quy định của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV ngày 15/5/2008 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và nhiệm vụ quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp xã về nông nghiệp và phát triển nông thôn. Theo đó, tại điểm 2.2 khoản 2 Mục III hướng dẫn việc hợp đồng nhân viên thú y làm việc trên địa bàn xã như sau: Căn cứ đặc điểm cụ thể của địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định Chi cục Thú y được hợp đồng nhân viên chuyên môn, kỹ thuật và cộng tác viên hoạt động trên địa bàn xã.

Quyết định số 904/QĐ-BNN-KH ngày 04/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt Đề án “Tăng cường năng lực hệ thống quản lý nhà nước chuyên ngành thú y giai đoạn 2007-2010” quy định về kiện toàn tổ chức thú y cấp xã như sau: Mỗi xã bố trí một nhân viên thú y phụ trách mạng lưới thú y cấp xã (gọi là Trưởng thú y xã) và các nhân viên thú y khác có đủ điều kiện và tiêu chuẩn được hành nghề thú y tại các thôn, bản, ấp.

Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ nghiên cứu, xây dựng để trong thời gian tới ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục thú y nhằm tiếp tục kiện toàn tổ chức quản lý nhà nước về thú y ở tất cả các địa phương trong cả nước.

2. Về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với công chức, viên chức ngành thú y và phụ cấp đối với nhân viên thú y cấp xã:

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 132/2006/QĐ-TTg ngày 31/5/2006 về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức ngành kiểm lâm, bảo vệ thực vật, thú y và kiểm soát đê điều. Theo đó, công chức, viên chức làm việc tại các Chi cục Thú y cấp tỉnh và Trạm Thú y cấp huyện được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề từ 10% đến 25%.

Đối với cấp xã, Chính phủ đã ban hành 02 Nghị định giao cho chính quyền địa phương quy định cụ thể mức phụ cấp cho những người hoạt động không chuyên trách nói chung và nhân viên thú y nói riêng phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Cụ thể như sau:

Tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 33/2005/NĐ-CP ngày 15/3/2005 của Chính phủ quy định: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức phụ cấp của nhân viên thú y và kinh phí này được lấy từ nguồn ngân sách của địa phương và tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã quy định: mức phụ cấp cụ thể của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định với mức không vượt quá hệ số 1,0 mức lương tối thiểu chung.

Vì vậy, việc nâng chế độ trợ cấp cho cán bộ thú y sao cho phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trên cơ sở phù hợp với quy định của Chính phủ.



15. Cử tri tỉnh Nghệ An kiến nghị:Đề nghị tăng biên chế làm công tác tôn giáo đối với các địa phương có đông giáo dân.

Trả lời: (Tại Công văn số 2539/BNV-TCBC ngày 30/7/2010)

Tại Điều 4 Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức quy định căn cứ xác định biên chế công chức, trong đó có căn cứ vào tính chất, đặc điểm, mức độ phức tạp và quy mô, phạm vi, đối tượng quản lý của ngành, lĩnh vực.

Để có cơ sở bổ sung biên chế công chức làm công tác tôn giáo ở địa phương, Bộ Nội vụ đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó có tỉnh Nghệ An căn cứ vào quy định tại Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức và chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc thực tế trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở địa phương để xác định số lượng biên chế công chức cần thiết đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ làm công tác tôn giáo trong kế hoạch biên chế công chức hàng năm của địa phương mình gửi Bộ Nội vụ tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

16. Cử tri tỉnh Bắc Giang kiến nghị:Đề nghị sớm điều chỉnh mức lương cho nhân viên bưu điện văn hóa xã và cho họ được tham gia đóng BHXH.

Trả lời: (Tại Công văn số 2871/BNV-TL ngày 24/8/2010)

Căn cứ quy định tại Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì nhân viên bưu điện văn hoá xã không phải là cán bộ, công chức cấp xã. Đồng thời, nhân viên bưu điện văn hoá xã cũng không thuộc số lượng những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã quy định tại Điều 13 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Nhân viên bưu điện văn hoá xã làm việc theo chế độ hợp đồng với các công ty cung cấp dịch vụ bưu điện. Vì vậy, vấn đề tiền lương và bảo hiểm xã hội của nhân viên bưu điện văn hoá xã được thực hiện trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động theo quy định của Bộ Luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội.

17. Cử tri tỉnh Thái Bình kiến nghị:Đề nghị Nhà nước cần có quy định cụ thể về chế độ phụ cấp đối với cán bộ thôn bán chuyên trách trong cả nước chứ không để từng địa phương quy định như hiện nay.

Trả lời: (Tại Công văn số 2846/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Ngày 22 tháng 10 năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP “Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã”. Tại Nghị định này, Chính phủ đã quy định rõ số lượng những người hoạt động không chuyên trách cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã, cụ thể là: Cấp xã loại 1: không quá 23 người; cấp xã loại 2: không quá 21 người; cấp xã loại 3: không quá 19 người; mỗi thôn, tổ dân phố được bố trí không quá 03 người hoạt động không chuyên trách. Mức phụ cấp mỗi người hoạt động không chuyên trách không quá 1,0 hệ số mức lương tối thiểu chung (trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ 2/3 hệ số 1,0 mức lương tối thiểu chung).

Để tạo sự chủ động, đồng thời bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế ở cơ sở và khả năng ngân sách của địa phương, Chính phủ giao cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào khung số lượng và mức phụ cấp nêu trên, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định chức danh, mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh, mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh, mức khoán kinh phí chi trả phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách theo loại đơn vị hành chính ở cấp xã, thôn, tổ dân phố; thực hiện khoán phụ cấp và hoạt động phí, nhằm nâng cao mức sinh hoạt phí và hiệu quả làm việc của những người hoạt động không chuyên trách.

18. Cử tri tỉnh Gia Lai kiến nghị:Cử tri đề nghị Bộ giải trình vì sao hiện nay cán bộ, công chức cấp xã không được hưởng phụ cấp khu vực và không được nghỉ phép hàng năm theo quy định của Luật cán bộ, công chức và Bộ luật lao động. Đề nghị Bộ trình Chính phủ quy định 02 chính sách nêu trên để bảo đảm quyền lợi chính đáng đối với cán bộ, công chức cấp xã.

1   ...   26   27   28   29   30   31   32   33   ...   50


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương