KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)



tải về 3.73 Mb.
trang14/50
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích3.73 Mb.
1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   ...   50

Trả lời: (Tại Công văn số 5776/BYT-VB1 ngày 26/8/2010)

Trong thời gian vừa qua, liên Bộ Y tế - Bộ Tài chính – Bộ Công thương đã tích cực triển khai việc quản lý chặt chẽ thị trường thuốc chữa bệnh, qua đó thị trường dược phẩm cơ bản được duy trì ổn định, không có hiện tượng tăng giá đột biến, đặc biệt trong thời gian nền kinh tế toàn cầu trải qua giai đoạn khủng hoảng với sự biến động mạnh của các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới giá thành thuốc chữa bệnh (3 năm vừa qua chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm y tế có tỉ lệ giảm dần; và luôn đứng thứ 7-9 so với 11 mặt hàng trọng yếu khác).

Đối với các khu vực bệnh viện công lập, việc mua thuốc của các bệnh viện phải thực hiện thông qua các quy định về đấu thầu thuốc; các nhà thuốc bệnh viện phải thực hiện quy định về thặng số bán lẻ. Qua kết quả kiểm tra tại địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh về tình hình giá thuốc, hầu hết các mặt hàng tại các nhà thuốc bệnh viện (97,78% trong tổng số 2.491 mặt hàng được khảo sát) có giá bán thấp hơn giá bán tại các nhà thuốc ngoài thị trường, tuy nhiên vẫn còn một số trường hợp (2,22% trong tổng số 2.491 mặt hàng khảo sát) có giá bán lẻ tại nhà thuốc bệnh viện cao hơn ngoài thị trường với tỉ lệ trung bình khoảng 6,54%.

Để khắc phục tồn tại trên và tăng cường việc quản lý giá thuốc, Bộ Y tế đang tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan, chỉ đạo Sở Y tế các tỉnh, thành phố tăng cường hơn nữa việc thực hiện các quy định về quản lý giá thuốc, tích cực thanh tra, kiểm tra thị trường thuốc chữa bệnh và triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm đảm bảo sự bình ổn của thị trường thuốc chữa bệnh. Đồng thời, Bộ Y tế đang phối hợp với các đơn vị liên quan đề xuất, sửa đổi một số quy định về đấu thầu thuốc, quản lý thặng số bán lẻ của các nhà thuốc bệnh viện, quy định về khuyến mại trong kinh doanh thuốc và triển khai áp dụng thí điểm quy định về thặng số đối với một số nhóm thuốc thiết yếu do bảo hiểm y tế chi trả.



52. Cử tri các tỉnh Gia Lai, Phú Thọ, Tây Ninh, Hải Phòng kiến nghị: “Trong nhiều năm nay, giá thuốc chữa bệnh bị các doanh nghiệp nước ngoài và các nhà thuốc, đại lý thuốc trong nước đầu cơ, lũng đoạn tăng giá cao; mặt khác, tình trạng bác sĩ nhận hoa hồng của nhà thuốc cũng là nguyên nhân làm tăng giá thuốc chữa bệnh, gây thiệt hại cho quyền lợi của người bệnh và nhân dân. Đề nghị Bộ Y tế giải trình vì sao vấn đề này tồn tại nhiều năm nay vẫn chưa được giải quyêt thấu đáo. Giải pháp của Bộ như thế nào để sớm khắc phục những tình trạng trên và thông tin cho cử tri biết.”

Trả lời: (Tại Công văn số 5776/BYT-VB1 ngày 26/8/2010)

Trong những năm vừa qua, nền kinh tế toàn cầu trải qua giai đoạn khủng hoảng với sự biến động mạnh về giá của các loại hàng hóa, đặc biệt là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới giá thành thuốc chữa bệnh, nhưng với sự triển khai quyết liệt các giải pháp quản lý giá thuốc của liên Bộ Y tế - Bộ Tài chính – Bộ Công thương nên thị trường dược phẩm cơ bản được duy trì ổn định, không có hiện tượng tăng giá đột biến, ngành Dược vẫn đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng cho nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân: theo số liệu thống kê về tỉ lệ tăng giá của Tổng cục thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư: chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm, y tế trong các năm vừa qua đều thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng, so với chỉ số giá tiêu dùng chung của xã hội thì chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm y tế có tỉ lệ giảm dần; đến năm 2008, năm 2009 và 5 tháng đầu năm 2010 bằng hoặc dưới 1/2 so với chỉ số giá tiêu dùng và luôn đứng thứ 7-9 so với 11 mặt hàng trọng yếu khác.

Tuy nhiên, qua thanh tra, kiểm tra trên thị trường và bệnh viện, có một số vi phạm, tồn tại trong việc thực hiện các quy định về quản lý giá thuốc, như: một số thuốc sử dụng của bệnh viện trúng thầu với giá cao; một số trường hợp chưa thực hiện nghiêm túc việc kê khai, niêm yết giá... Sau khi phát hiện những sai phạm này, Bộ Y tế đã xử lý nghiêm khắc để chấn chỉnh. Ngoài ra, có hiện tượng một số doanh nghiệp thực hiện khuyến mại thuốc với tỉ lệ chiết khấu cao theo quy định của Luật Thương mại, không phù hợp với mặt hàng thuốc chữa bệnh, gây bức xúc trong dư luận xã hội, Bộ Y tế đã chỉ đạo thanh tra, kiểm tra và đang bổ sung, sửa đổi quy định này.

Để khắc phục bất cập trên và tăng cường việc quản lý giá thuốc, Bộ Y tế đang tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan, chỉ đạo Sở Y tế các tỉnh, thành phố tăng cường hơn nữa việc thực hiện các quy định về quản lý giá thuốc, tích cực thanh tra, kiểm tra thị trường và triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm đảm bảo sự bình ổn của thị trường thuốc chữa bệnh. Đồng thời, Bộ Y tế đang phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành đề xuất, sửa đổi một số bất cập trong văn bản quy phạm pháp luật trong đó có quy định về đấu thầu thuốc, quản lý thặng số bán lẻ của các nhà thuốc bệnh viện và dự kiến áp dụng thí điểm quy định về thặng số đối với một số nhóm thuốc thiết yếu trong đấu thầu bệnh viện nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý giá thuốc và bình ổn thị trường thuốc chữa bệnh. Đối với bất cập trong việc khuyến mại thuốc, Bộ Y tế đang phối hợp với các cơ quan chức năng sửa đổi, ban hành quy định về khuyến mại trong kinh doanh thuốc (như quy định rõ về đối tượng được hưởng khuyến mại, quy định về tỉ lệ % được phép khuyến mại đối với kinh doanh thuốc thấp hơn).



53. Cử tri tỉnh Gia Lai kiến nghị: Đề nghị Chính phủ sớm ban hành nghị định xử phạt vi phạm hành chính đối với người sinh con thứ ba trở lên theo qui định của pháp lệnh dân số”.

Trả lời: (Tại Công văn số 5776/BYT-VB1 ngày 26/8/2010)

Để triển khai nghiêm túc chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định: Đảng viên sinh con thứ ba trở lên thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của Đảng. Cán bộ, công chức, viên chức nhà nước sinh con thứ 3 trở lên thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của Chính phủ. Thành viên của các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội sinh con thứ ba trở lên thì bị xử lý theo quy định của hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, xóm, cụm dân cư nơi cư trú.

Đảng viên thực hiện theo Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 11-HD/UBKTTW ngày 24/3/2008 của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương. Tại các văn bản nêu trên đã quy định: Đảng viên nếu sinh con thứ ba thì sẽ bị kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ), nếu sinh con thứ tư trở lên thì sẽ bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ.

Đối với việc xử phạt hành chính, hiện nay, Bộ Y tế đang hoàn thiện, trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số (thay thế những quy định về xử phạt vi phạm hành chính về dân số tại Nghị định số 114/2006/NĐ-CP).



54. Cử tri các tỉnh Quảng Bình, Bắc Ninh, Lạng Sơn kiến nghị: “Đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu những giải pháp (kể cả chế tài) để ngăn chặn tình trạng vi phạm chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình, mặt khác cần quan tâm đến chế độ chính sách cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân số nhất là ở cơ sở vì hiện nay mức phụ cấp 50.000 đồng/tháng là quá thấp.”

Trả lời: (Tại Công văn số 5776/BYT-VB1 ngày 26/8/2010)

Liên quan tới những giải pháp (kể cả chế tài) để ngăn chặn tình trạng vi phạm chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình: thời gian qua, Đảng và Chính phủ cũng đã ban hành nhiều quy định xử lý kỷ luật đối với đảng viên và cán bộ công chức vi phạm. Đáng chú ý là:

- Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm số 94-QĐ/TW, ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị;

- Hướng dẫn số 11-HD/UBKTTW ngày 24/3/2008 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên;

- Nghị định 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3 /2005 về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức;

- Nghị định của Chính phủ số 114/2006/NĐ-CP ngày 03/10/2006 Quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em.

Nhìn chung,việc thực hiện các chính sách này ở các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trong thời gian qua khá tốt góp phần tạo điều kiện cho đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và công dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ trong công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình và ngăn chặn những hành vi vi phạm chính sách về dân số. Bên cạnh đó, ngành Dân số cũng đẩy mạnh việc tuyên truyền, vận động, giáo dục và thuyết phục cá nhân thực hiện các quy định về công tác dân số.

Liên quan tới chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân số nhất là ở cơ sở: trên thực tế, tổ chức, bộ máy làm công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình luôn được Đảng, Chính phủ quan tâm, đặc biệt trong những năm gần đây đã ban hành nhiều văn bản nhằm củng cố, hoàn thiện chế độ chính sách cho người làm công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình, trong đó có đội ngũ cán bộ làm công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình ở cơ sở. Tuy nhiên, do điều kiện còn hạn chế của nền kinh tế, mức đãi ngộ chưa tương xứng với đóng góp của đội ngũ này. Về mức phụ cấp 50.000 đồng/tháng/người mà cử tri nêu, đây chỉ là mức phụ cấp cho cộng tác viên DS-KHHGĐ ở các thôn, xóm, ấp, bản, làng và cụm dân cư của Chương trình mục tiêu quốc gia dân số và kế hoạch hoá gia đình theo hướng dẫn tại Thông tư số 32/2008/TTLT-BTC-BYT, ngày 17/4/2008 của liên bộ Tài chính và Y tế. Ngoài các mức phụ cấp nêu trên, nhiều tỉnh, thành phố đã bổ sung ngân sách địa phương chi phụ cấp, thù lao thêm cho cán bộ DS-KHHGĐ cơ sở. Về vấn đề này, đề nghị các cử tri có ý kiến để Hội đồng nhân dân ở địa phương bổ sung ngân sách địa phương hỗ trợ thêm cho đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ cơ sở. Hiện nay, nhiều tỉnh/thành phố, để ổn định tổ chức bộ máy và đội ngũ cộng tác viên đã bố trí đội ngũ cộng tác viên kiêm nhiệm thêm công tác y tế thôn, bản hoặc làm các công tác khác như phụ nữ, thanh niên ... để tăng thêm thu nhập.

Trong quá trình xây dựng chế độ chính sách cho cộng tác viên chu kỳ tới, Bộ Y tế sẽ nghiên cứu trình phương án tăng thêm mức phụ cấp cho đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ ở cơ sở. Tuy nhiên, điều kiện ngân sách Trung ương có hạn nên rất cần có sự ủng hộ, giúp đỡ của toàn bộ hệ thống chính trị đặc biệt là sự quan tâm của ngân sách địa phương để nâng cao mức thù lao, nhằm giảm bớt khó khăn, tạo sự an tâm cho đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ ở cơ sở.

55. Cử tri tỉnh Quảng Ngãi kiến nghị: “Đề nghị Chính phủ cần đẩy mạnh công tác quản lý, tuyên truyền để hạn chế tốc độ tăng dân số, đẩy mạnh công tác kiểm soát dân số, đảm bảo giữ mức tăng hợp lý nhằm nâng cao chất lượng dân sinh, an ninh lương thực và bảo đảm phát triển kinh tế – xã hội.”

Trả lời: (Tại Công văn số 5776/BYT-VB1 ngày 26/8/2010)

Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình thời gian qua đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần đáng kể vào những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Qua kết quả cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy tỷ lệ phát triển dân số đã giảm mạnh từ 1,7% (trong giai đoạn 1989 - 1999) xuống còn 1,2% (giai đoạn 1999 - 2009), thấp nhất trong vòng 50 năm qua; tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) đã đạt mức sinh thay thế và hiện đã ở mức 2,03 con.

Có được kết quả đó, công tác tuyên truyền có vai trò vô cùng quan trọng. Trong những năm qua, công tác tuyên truyền đã được triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp, các ngành, với nội dung, hình thức ngày càng phong phú, đã nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, vị thành niên, thanh niên góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của từng người dân và gia đình trong việc chấp nhận gia đình ít con, xoá bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, tâm lý thích có nhiều con, phải có con trai do ảnh hưởng của truyền thống nho giáo và nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, góp phần giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên, tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại...

Tuy nhiên, trong hiện tại và tương lai công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình phải đối mặt với nhiều thách thức như kết quả đạt được chưa thực sự vững chắc còn tiềm ẩn nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan có thể làm tăng mức sinh trở lại hay xu hướng giảm sinh quá mức có thể xảy ra do tác động của đô thị hóa và phổ biến lối sống công nghiệp. Ngoài ra, tỷ số giới tính (trai/gái) khi sinh có xu hướng tăng có thể dẫn đến tình trạng dư thừa nam giới so với phụ nữ cùng độ tuổi. Để tận dụng tốt cơ hội, vượt qua các thách thức, thực hiện tốt công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình trong thời gian tới, Bộ Y tế đã phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xây dựng Chiến lược dân số sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Chiến lược đặt ra mục tiêu tổng quát là: Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản (SKSS), duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân với các giải pháp tập trung vào công tác: lãnh đạo, tổ chức và quản lý; truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi; dịch vụ dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản; xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách dân số và SKSS; xã hội hóa, phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế; tài chính theo hướng xã hội hóa bằng việc đa dạng hóa các nguồn lực tài chính; từng bước tăng mức đầu tư nhưng đồng thời giảm dần tỷ trọng đầu tư từ ngân sách nhà nước; đào tạo, nghiên cứu khoa học và thông tin số liệu.

56. Cử tri các tỉnh Hà Tĩnh, Bắc Kạn kiến nghị: “Đề nghị Chính phủ tiếp tục xây dựng và thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về dân số –kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2011 -2015, quan tâm nâng cao chất lượng dân số; Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng tập trung cho cán bộ dân số cấp huyện và cấp xã về chuyên môn và nghiệp vụ. Thực hiện chuẩn hóa cán bộ chuyên trách dân số xã, đưa vào viên chức xã như Thông tư số 05/2008/TT-BYT ngày 14/5/2008 của Bộ Y tế.”

Trả lời: (Tại Công văn số 5776/BYT-VB1 ngày 26/8/2010)

Liên quan tới việc tiếp tục xây dựng và thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2011-2015: Thực hiện kết luận số 44-KL/TW ngày 01/4/2009 của Bộ Chính trị về kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22 /5/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về việc “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình”, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Y tế thực hiện đánh giá Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010, Chiến lược Chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010 và xây dựng Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020. Hiện tại, dự thảo Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020 đã nhận được ý kiến đóng góp của các Bộ ngành liên quan và được trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại tờ trình số 408/TTr-BYT ngày 24/5/2010.

Để triển khai thực hiện Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020 và để giải quyết những vấn đề dân số (duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết mất cân bằng giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số về thể chất) có tính cấp bách, tính liên ngành, tính thống nhất từ trung ương đến cơ sở và có tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và các địa phương, đồng thời để phù hợp với cam kết quốc tế trong việc thực hiện chương trình dân số và phát triển, Bộ Y tế đã xây dựng đề xuất Chương trình mục tiêu quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2011-2015 báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Vấn đề nâng cao chất lượng là một trọng tâm của Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020. Vì vậy, các mô hình, giải pháp can thiệp nâng cao chất lượng dân số đã được nghiên cứu, thử nghiệm, triển khai trong giai đoạn 2006-2010 sẽ được đánh giá, tổng kết và hoàn thiện để triển khai mở rộng trong phạm vi toàn quốc và trở thành nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn 2011-2015.

Liên quan tới kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng tập trung cho cán bộ dân số cấp huyện và cấp xã về chuyên môn nghiệp vụ và thực hiện chuẩn hoá cán bộ chuyên trách dân số xã, dựa vào viên chức xã như Thông tư số 05/2008/TT-BYT ngày 14/5/2008 của Bộ Y tế: Hàng năm, Tổng cục DS-KHHGĐ xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho công chức, viên chức làm công tác DS-KHHGĐ. Trọng tâm của chương trình là nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ về chuyên môn và nghiệp vụ, trong đó tập trung cho viên chức dân số cấp huyện và cấp xã, bảo đảm 100% cán bộ dân số huyện được hoàn thành chương trình định hướng DS -KHHGĐ, 100% viên chức dân số y tế xã có đủ năng lực chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Để chuẩn hoá đội ngũ viên chức làm công tác DS-KHHGĐ cấp huyện, xã, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng giáo trình khung Trung cấp Dân số -Y tế để đào tạo chuẩn hoá đội ngũ viên chức này, để các địa phương đào tạo đủ chuẩn cho viên chức DS-KHHGĐ theo Thông tư số 05/2008/TT-BYT. Bộ Y tế đang phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng và ban hành Thông tư về chức danh mã số ngạch viên chức DS-KHHGĐ và Thông tư ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức DS-KHHGĐ.



57. Cử tri Cao Bằng kiến nghị: “Hiện nay, cơ sở nhà trạm y tế xã và cán bộ y tế cấp xã còn thiếu, trình độ chuyên môn của cán bộ y tế xã chưa cao, nhưng tại một số địa bàn có tồn tại trùng lặp giữa Trạm y tế và Phòng khám đa khoa khu vực và Bệnh viện trung tâm cụm xã. Đề nghị Bộ Y tế cần có hướng dẫn riêng về công tác khám chữa bệnh ở những địa bàn này để tránh lãng phí.”

Trả lời: (Tại Công văn số 5776/BYT-VB1 ngày 26/8/2010)

Tổ chức sơ cứu ban đầu, khám chữa bệnh thông thường cho nhân dân tại trạm y tế là một trong 11 nhiệm vụ của Trạm y tế xã, phường, thị trấn đã được quy định tại Thông tư số 08/TT-LB ngày 20/4/1995 của liên Bộ Y tế - Bộ Tài chính – Bộ Lao động Thương binh và Xã hội - Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ hướng dẫn một số vấn đề về tổ chức và chế độ chính sách đối với y tế cơ sở (hướng dẫn Quyết định 58/TTg và Quyết định 131/TTg).

Trạm y tế xã, phường, thị trấn và các cơ sở y tế trên địa bàn cấp huyện (trong đó có Bệnh viện huyện và Phòng khám đa khoa khu vực) được tổ chức theo đơn vị hành chính (Quyết định 153/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ). Trạm y tế xã, phường, thị trấn là một trong những nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu cho những người có thẻ bảo hiểm y tế (Luật bảo hiểm y tế).

Bộ Y tế ghi nhận ý kiến của cử tri và sẽ xin ý kiến góp ý của các Bộ, ngành liên quan, các địa phương trong việc xây dựng và ban hành chức năng, nhiệm vụ của Trạm y tế xã khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định thay thế Quyết định 58/TTg để phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật và nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong tình hình mới.



58. Cử tri tỉnh Tiền Giang kiến nghị: “Tình trạng bệnh nhân tử vong tại các bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh bị bộ phận mai táng của bệnh viện ép phải mua quan tài và hàng khâm liệm với giá rất đắt. Đề nghị Bộ Y tế có ý kiến can thiệp để giảm bớt khó khăn cho các bệnh nhân.”

Trả lời: (Tại Công văn số 5776/BYT-VB1 ngày 26/8/2010)

Bộ Y tế sẽ ghi nhận vấn đề này, và sẽ chỉ đạo Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra, báo cáo thực trạng và sớm giải quyết phiền hà đối với gia đình người bệnh theo đóng góp ý kiến của cử tri.



59. Cử tri tỉnh Tây Ninh kiến nghị: “Đề nghị ngành y tế chỉ đạo các cơ sở sản xuất thuốc cho in chữ trong hướng dẫn sử dụng thuốc và các chi tiết khác ghi chú trong hướng dẫn chữ lớn hơn, rõ hơn để bảo đảm an toàn cho người dân.”

Trả lời: (Tại Công văn số 5776/BYT-VB1 ngày 26/8/2010)

Bộ Y tế đã có chỉ đạo và hướng dẫn về vấn đề này. Tại Phần III Thông tư số 04/2008/TT-BYT ngày 12/05/2008 đã quy định cụ thể cách ghi nhãn thuốc, trong đó quy định rõ “Kích thước, màu sắc của chữ ghi trên tờ hướng dẫn sử dụng phải đủ lớn, rõ ràng để dễ dàng nhận biết các nội dung bằng mắt thường”.



60. Cử tri các tỉnh Gia Lai, Kiên Giang kiến nghị: “Đề nghị xây dựng, ban hành biểu giá thu một phần viện phí chung thay thế Thông tư liên tịch số 14 và số 03 về biểu giá danh mục dùng trong phục hồi chức năng.”

Trả lời: (Tại Công văn số 5776/BYT-VB1 ngày 26/8/2010)

Chính sách viện phí hiện nay là thu một phần viện phí, quy định tại Thông tư số 14/TTLB ngày 30/9/1995 với khoảng 300 loại dịch vụ, đã được thực hiện 15 năm nhưng vẫn chưa được sửa đổi cho phù hợp với tình hình giá cả hiện nay. Trong khi chờ Chính phủ ban hành chính sách viện phí mới, liên tịch Bộ Y tế - Bộ Tài chính - Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 03/2006/TTLT-BYT-BTC-BLĐTB& XH ngày 26/01/2006 bổ sung mức thu của một số dịch vụ kỹ thuật y tế mới.

Thực hiện Kết luận số 42/KL-TW của Bộ Chính trị, Chính phủ đang chỉ đạo Bộ Y tế xây dựng Nghị định về đổi mới cơ chế họat động, cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập, trong đó có việc sửa đổi chính sách viện phí theo hướng giá dịch vụ y tế được tính đủ chi phí, trừ phần đã được ngân sách nhà nước đảm bảo, giá dịch vụ phải tương xứng và phù hợp với chất lượng dịch vụ, phù hợp với khả năng chi trả của người dân. Đồng thời sẽ ban hành khung giá dịch vụ y tế mới thay thế Thông tư số 14 và Thông tư số 03. Khung giá dự kiến mới sẽ cấp nhật đầy đủ các dịch vụ và phân theo các chuyên khoa, trong đó có tính đến các dịch vụ dùng trong phục hồi chức năng.

61. Cử tri tỉnh Hà Tĩnh kiến nghị: “Đề nghị Bộ Y tế và Bộ Tài chính tăng mức xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm Luật bảo hiểm y tế.”

Trả lời: (Tại Công văn số 5776/BYT-VB1 ngày 26/8/2010)

Để đảm bảo tuân thủ pháp luật về BHYT, phòng ngừa đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHYT, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức của các bên liên quan đến BHYT, bảo vệ quỹ bảo hiểm y tế và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về BHYT, việc xây dựng và ban hành Nghị định này có vai trò hết sức quan trọng trong hoàn thiện hệ thống pháp luật về BHYT nói riêng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế nói chung, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Hiện nay, quy định mức xử phạt vi phạm hành chính gồm cả các vi phạm Luật BHYT đều căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành sau:

- Pháp lệnh số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 02 tháng 7 năm 2002 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Xử lý vi phạm hành chính;

- Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội số 04/2008/UBTVQH12 ngày 02 tháng 4 năm 2008.

- Nghị định số 128/2008/ NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và các văn bản hướng dẫn hiện hành liên quan đến BHYT.

Bộ Y tế xin tiếp thu ý kiến của cử tri và sẽ nghiên cứu để có ý kiến với Bộ Tài chính.



62. Cử tri tỉnh Lai Châu kiến nghị: “Đề nghị Bộ Y tế ban hành qui định về cơ chế dự phòng thuốc, vật tư khi có dịch bệnh, thiên tai, thảm họa xảy ra để ngành y tế chủ động phòng, chống dịch.”

Trả lời: (Tại Công văn số 5776/BYT-VB1 ngày 26/8/2010)

Việc dự trữ hàng y tế là một việc làm hết sức cần thiết. Căn cứ vào Luật dữ trữ Quốc gia, hàng năm Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Y tế dự trữ một số mặt hàng thuốc, hóa chất, vật tư, trang thiết bị thiết yếu để sử dụng và hỗ trợ các địa phương khi xảy ra bệnh dịch, thiên tai, thảm họa. Ngoài ra, Bộ Y tế cũng được Bộ Tài chính cho phép dự phòng kinh phí phòng chống dịch để giao cho một số đơn vị mua sắm thuốc, hóa chất, trang thiết bị từ nguồn này để hỗ trợ cho các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế khi có dịch và trường hợp dịch xẩy ra ở địa phương cũng có thể sử dụng nguồn này để chi hỗ trợ khẩn cấp đáp ứng ngay công tác phòng, chống dịch.

Đối với các địa phương, hiện nay chưa có quy định cụ thể về cơ chế dự phòng thuốc, hóa chất, vật tư khi có dịch bệnh, thiên tai, thảm họa. Vì vậy, cơ chế dự phòng thuốc, vật tư khi có dịch bệnh, thiên tai, thảm họa tại địa phương có thể thực hiện theo 02 hình thức: (1) Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh khi phân bổ ngân sách hàng năm nên dành một phần ngân sách để dự phòng và giao trực tiếp cho Sở Y tế để chủ động phân bổ, sự dụng khi có dịch xẩy ra; trường hợp không có dịch được phép chuyển sang năm sau; (2) Trường hợp dự trữ bằng hiện vật như thuốc, vật tư, hóa chất, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh giao kinh phí cho đơn vị thuộc hệ thống phòng chống dịch của địa phương để chủ động mua thuốc, vật tư, hóa chất và chủ động sử dụng luôn đổi hàng trong quá trình hoạt động của đơn vị và khi có dịch sẵn sàng chủ động sử dụng nguồn này để chi cho công tác phòng chông dịch.

63. Cử tri tỉnh Kiên Giang kiến nghị: “Đề nghị Bộ Y tế tham mưu Chính phủ có chính sách ưu tiên cho tỉnh Kiên Giang trong đào tạo cán bộ ngành y, dược và các chuyên khoa (răng hàm mặt, y học cổ truyền...) vì hiện nay Kiên Giang đang rất thiếu cán bộ có trình độ y, dược bậc đại học.”

1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   ...   50


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương