KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)



tải về 3.73 Mb.
trang22/50
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích3.73 Mb.
1   ...   18   19   20   21   22   23   24   25   ...   50

Trả lời: (Tại Công văn số 5435/BGTVT-CQLXD ngày 10/8/2010)

1. Đối với dự án sửa chữa mặt cầu Thăng Long:

Qua thời gian hơn 20 năm đưa vào khai thác sử dụng, mặt cầu Thăng Long đã bị bong bật lớp Bê tông nhựa, đòi hỏi phải sửa chữa kịp thời nhằm đảm bảo và kéo dài tuổi thọ của cầu. Bộ GTVT đã giao Viện Khoa học công nghệ GTVT và Tổng Cục Đường bộ Việt Nam nghiên cứu để đưa ra loại vật liệu thay thế tốt nhất. Quá trình nghiên cứu, thiết kế Viện KHCN GTVT đã tiếp nhận và chuyển giao công nghệ lớp phủ tiên tiến đó là sử dụng lớp bê tông nhựa nóng SMA (Stone Matrix Asphalt) để thay thế lớp BTN cũ. Đây là loại vật liệu mới đã sử dụng ở nhiều nước trên thế giới nhưng mới được áp dụng lần đầu ở Việt Nam. Vì vậy, quá trình áp dụng loại vật liệu này cho mặt cầu Thăng Long đã được thiết kế và đưa ra quy trình thi công khá nghiêm ngặt với điều kiện nhiệt độ, thời tiết khô ráo. Sau khi thi công xong ngày 29/12/2009 và đưa vào khai thác sử dụng trên mặt cầu có hiện tượng xuất hiện một số vết nứt lớp thảm BTN (Khoảng 5% diện tích sửa chữa).

Ngay sau khi nhận được thông tin về việc xuất hiện các vết nứt trên mặt cầu Thăng Long Bộ GTVT đã chỉ đạo các cơ quan tham mưu, các cơ quan khoa học trực thuộc Bộ đồng thời mời các chuyên gia đầu ngành xem xét, đánh giá quá trình thực hiện. Do chưa có kinh nghiệm nên việc kiểm soát công nghệ cũng như biện pháp thi công thực tế chưa đảm bảo yêu cầu đã dẫn đến sự cố nêu trên và xác định đây là hiện tượng hư hỏng cục bộ một số vị trí của lớp Bê tông nhựa. Bộ GTVT đã chỉ đạo các đơn vị liên quan sửa chữa, khắc phục ngay những hư hỏng nêu trên đồng thời chỉ đạo Chủ đầu tư, với sự tham gia của các nhà khoa học trong và ngoài nước có nhiều kinh nghiệm, xác định đúng nguyên nhân hư hỏng để tiếp tục theo dõi trong quá trình khai thác và đưa ra giải pháp xử lý triệt để.

Hiện nay công tác sửa chữa, khắc phục sự cố hư hỏng mặt cầu Thăng Long đang được Nhà thầu sửa chữa, khắc phục bằng kinh phí bảo hành của Nhà thầu. Đồng thời Bộ GTVT cũng đã giao Viện KHCN GTVT nghiên cứu, thí nghiệm từ đó đưa ra các giải pháp tối ưu để xử lý triệt để lớp bản mặt cầu BTN trình Bộ GTVT xem xét quyết định.

2. Đối với dự án xây dựng hầm Thủ Thiêm:

Dự án xây dựng hầm Thủ Thiêm do UBND thành phố Hồ Chí Minh làm Chủ đầu tư và giao cho Ban QLDA Đại lộ Đông - Tây thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chức năng Ban QLDA của Chủ đầu tư.

Với trách nhiệm người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước ngành GTVT, Bộ GTVT đã có văn bản gửi UBND thành phố Hồ Chí Minh, Ban QLDA Đại lộ Đông – Tây thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Lãnh đạo UBND thành phố Hồ Chí Minh và Ban quản lý dự án nghiên cứu, xử lý nội dung kiến nghị cử tri tỉnh Lào Cai và có thông tin phản hồi đến Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai.



59. Cử tri tp Hải Phòng kiến nghị: Cử tri tiếp tục phản ánh tình trạng đường xá bị đào lên, lấp xuống để làm các hệ thống điện, thoát nước, cấp nước... vẫn diễn ra rất phổ biến, nhất là ở các thành phố lớn. Cử tri kiến nghị Bộ Giao thông vận tải phải có trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn trong việc thực hiện đồng bộ hoá các công trình điện, thoát nước, cấp nước; yêu cầu các Sở giao thông vận tải áp dụng triệt để và có chế tài, biện pháp xử lý nặng nếu có vi phạm xảy ra.

Trả lời: (Tại Công văn số 5222/BGTVT-KCHT ngày 02/8/2010)

Căn cứ qui định tại Khoản 7, Điều 2 Nghị định số 17/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng; Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 04/2008/TT-BXD ngày 20/02/2008 về việc hướng dẫn quản lý đường đô thị; Thông tư số 16/2009/TT-BXD ngày 30/6/2009 về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 04/2008/TT-BXD ngày 20/02/2008 của Bộ Xây dựng hướng dẫn quản lý đường đô thị.

Tại Mục II, Phần III, Thông tư số 04/2008/TT-BXD về trách nhiệm quản lý đường đô thị qui định: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống đường đô thị thuộc địa phương mình quản lý...”; Mục I, Phần III, Thông tư số 16/2009/TT-BXD qui định: “Sở Xây dựng các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương là cơ quan tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện công tác quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng giao thông đô thị trên địa bàn...”.

Về chế tài, biện pháp xử lý vi phạm đối với hoạt động xây dựng, quản lý khai thác sử dụng đường đô thị được qui định tại Mục IV phần I (Thông tư số 04/2008/TT-BXD) và Điều 4 của Thông tư số 16/2009/TT-BXD.



60. Cử tri tỉnh Kiên Giang kiến nghị: Cử tri đề nghị cho phép tỉnh Kiên Giang được lập thủ tục đăng ký đăng kiểm và cấp phép một lần đối với các vỏ máy có trọng tải dưới 02 tấn và máy có công suất dưới 10 CV là phương tiện đi lại hàng ngày của các hộ dân trong vùng sông nước nông thôn; được kéo dài thời gian đăng ký đăng kiểm ghe từ 3 – 5 năm thay vì 1 lần/năm như hiện nay để tiết kiệm chi phí và giảm thời gian đi lại của người dân.

Trả lời: (Tại Công văn số 6069/BGTVT-KHCN ngày 06/9/2010)

Ngày 25/02/2010, Bộ GTVT đã có Công văn số 301/BGTVT-VP trả lời các kiến nghị này.

Tiếp theo công văn trên, từ ý kiến kiến nghị của Đoàn ĐBQH tỉnh Kiên Giang, Bộ GTVT đã gửi lấy ý kiến của các địa phương về nội dung đề nghị kéo dài thời gian đăng kiểm phương tiện thủy nội địa cỡ nhỏ và trên cơ sở tổng hợp ý kiến chung, BGTVT đã tiếp thu chỉnh sửa nội dung có liên quan trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia “Quy phạm giám sát và đóng phương tiện thủy nội địa cỡ nhỏ” – QCVN 25 : 2010/BGTVT(ban hành kèm theo Thông tư số 15/2010/TT-BGTVT ngày 28/6/2010 của BGTVT).

Tại điều 1.3.4.2 của Quy chuẩn này đã kéo dài thời gian đăng kiểm ra 2 năm (thay vì 1 lần/năm) đối với các loại phương tiện chở hang khô, không kinh doanh vận tải, không có động cơ trọng tải toàn phần từ 5 đến 15 tấn; phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính từ 5 mã lực đến 15 mã lực.



61. Cử tri tỉnh Hà Giang kiến nghị: Đề nghị Bộ Giao thông - Vận tải xem xét đưa đoạn đường từ Km 130 quốc lộ 4C đến cột cờ Lũng Cú về trung tâm huyện lỵ Đồng Văn vào cấp quốc lộ, vì đây là đoạn đường đến địa danh đỉnh đầu Tổ quốc Việt Nam

Trả lời: (Tại Công văn số 5206/BGTVT-KCHT ngày 30/7/2010)

1. Quốc lộ 4C xuất phát từ thị xã Hà Giang (Km00) qua các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang), kết thúc tại Km217+00 (giao nhau với QL.34, thuộc địa phận xã Lý Bôn, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng). Toàn tuyến có tổng chiều dài 217Km. Tuyến đường này đã cơ bản được cải tạo nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp IV và V miền núi, bề rộng mặt đường từ 3,5m-:-05m; bề rộng nền đường từ 05m-:-07m, riêng đoạn thuộc địa phận tỉnh Cao Bằng (17Km) được xây dựng mới hoàn toàn. QL.4C cùng với các quốc lộ: QL.4A, 4B, 4D…tạo thành tuyến đường vành đai biên giới hoàn chỉnh.

Tuyến đường địa phương từ Km130/QL.4C đi cột cờ Lũng Cú dài khoảng 18 thuộc địa phận huyện Đồng Văn có bề rộng mặt đường 3,5m; bề rộng nền đường 05m; kết cấu mặt đường nhựa và đá răm thấm nhập nhựa, một số đoạn mặt đường cấp phối. Tuyến đường này đang được tỉnh Hà Giang cho lập dự án đầu tư (tại Quyết định số 1270/QĐ-UB ngày 28/4/2010 của UBND tỉnh Hà Giang).

2. Theo đề nghị của cử tri tỉnh Hà Giang, nếu chuyển đoạn tuyến từ Km130 (trên QL.4C) đi cột cờ Lũng Cú, huyện Đồng Văn thành QL.4C thì QL.4C có điểm đầu từ thị xã Hà Giang (Km00) và có hai điểm cuối là Km217+00 (giao nhau với QL.34) và cột cờ Lũng Cú thì không hợp lý; nếu thay đoạn từ Km 130/QL.4C đến Km127/QL.4C bằng đoạn từ Km130/QL.4C đến cột cờ Lũng Cú (để thống nhất tuyến QL.4C chỉ có một điểm đầu và một điểm cuối) thì việc kết nối các tuyến QL.4 thành tuyến đường vành đai biên giới hoàn chỉnh sẽ không hợp lý về mặt quy hoạch. Mặt khác, nếu chuyển từ đoạn tuyến Km130/QL.4C đến cột cờ Lũng Cú thành một tuyến quốc lộ mới riêng biệt thì không bảo đảm tiêu chí về quốc lộ (quy định tại Điều 39, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 Điều về Phân loại đường bộ)

3. Với các điều kiện nêu trên, việc chuyển tuyến đường từ Km130, QL.4C đi cột cờ Lũng Cú, huyện Đồng Văn thành quốc lộ là không phù hợp. Tuy nhiên, cột cờ Lũng Cú là địa danh nổi tiếng đối với nhân dân cả nước, có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển du lịch và kinh tế - xã hội của địa phương, vì vậy Bộ Giao thông vận tải ủng hộ chủ trương nâng cấp, cải tạo tuyến đường này của UBND tỉnh Hà Giang.

62. Cử tri tỉnh Phú Thọ kiến nghị:

Đề nghị Bộ GTVT, Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện để tỉnh Phú Thọ thực hiện tốt việc bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư dự án xây dựng đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Trả lời: (Tại Công văn số 5049/BGTVT-QLXD ngày 27/7/2010)

Dự án xây dựng đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai (giai đoạn 1), được Bộ GTVT phê duyệt đầu tư tại Quyết định số 3415/QĐ-BGTVT ngày 05/11/2007. Dự án được chia làm 8 gói thầu xây lắp, hiện nay các gói thầu này đã được khởi công xây dựng.

Tiểu dự án giải phóng mặt bằng (GPMB) đã được bàn giao cho các địa phương có dự án đi qua tổ chức thực hiện. Công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam đã bàn giao cho các địa phương Hồ sơ GPMB và hệ thống cọc mốc ngoài thực địa.

Trong quá trình triển khai Tiểu dự án, Chủ đầu tư Dự án đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương, giải quyết các vướng mắc và đã tạo điều kiện để các tỉnh thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, luôn đáp ứng đủ kinh phí kịp thời cho các tỉnh để chi trả cho các hộ bị ảnh hưởng. Đồng thời, Bộ GTVT đã trình chính phủ cho phép chỉ định thầu với tất cả các hạng mục tư vấn, xây lắp các khu tái định cư và công trình công cộng khác, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương trong quá trình thực hiện.

Để dự án hoàn thành theo tiến độ yêu cầu, công tác GPMB cần sớm được hoàn thành (đặc biệt là công tác xây dựng các khu tái định cư); Bộ GTVT, Công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam luôn mong muốn được phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để địa phương thực hiện, đẩy nhanh tiến trình GPMB cho Dự án.

63. Cử tri tỉnh Cà Mau kiến nghị: Cử tri phản ánh hiện nay Nhà nước quy định trên phương tiện thủy nội địa khi tham gia giao thông phải có đầy đủ các vật dụng như: khăn lau, gàu tát nước, dầm, khi kiểm tra nếu phương tiện nào không trang bị đầy đủ sẽ bị phạt. Cử tri đề nghị loại bỏ những quy định không cần thiết gây khó khăn cho nhân dân.

Trả lời: (Tại Công văn số 5105/BGTVT-VT ngày 28/7/2010)

Việc quy định trên phương tiện thuỷ nội địa khi tham gia giao thông phải có đầy đủ các vật dụng như: khăn lau, gàu tát nước, dầm là cần thiết. Đây là những vật dụng tối thiểu phải trang bị nhằm mục đích đề phòng khi phương tiện gặp sự cố đột xuất thì có thể sử dụng để khắc phục.

Cụ thể là: khăn lau được sử dụng để lau khô, bít lỗ thủng tạm thời; gàu tát nước được sử dụng để tát nước khỏi phương tiện khi phương tiện bị nước tràn, rò rỉ vào bên trong; dầm dùng để chèo, chống đưa phương tiện đến nơi an toàn khi gặp trường hợp máy chính của phương tiện bị hỏng.

Đề xuất của cử tri đề nghị loại bỏ quy định phải trang bị những vật dụng tối thiểu như đã nêu trên là chưa phù hợp. Vì vậy, cần thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và phải trang bị những vật dụng tối thiểu trên phương tiện thuỷ nội địa để đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông.



64. Cử tri tỉnh Tây Ninh kiến nghị: Đề nghị bộ xem xét và triển khai thực hiện dự án xây dựng vòng xoay tại ngã ba đường Xuyên Á- Quốc lộ 22B thị trấn Gò Dầu, để tạo điều kiện thuận tiện cho việc lưu thông, vì hiện tại vòng xoay này quá hẹp gây cản trở rất lớn cho các phương tiện giao thông qua lại khu vực này.

Trả lời: (Tại Công văn số 4985/BGTVT-KHĐT ngày 26/7/2010)

Bộ GTVT ủng hộ việc thực hiện dự án xây dựng mở rộng vòng xoay tại ngã ba đường Xuyên Á – Quốc lộ 22B thị trấn Gò Dầu để tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông. Bộ GTVT sẽ xem xét, nghiên cứu việc triển khai dự án nêu trên.



65. Cử tri tỉnh Cà Mau kiến nghị:Đề nghị Bộ GTVT kiến nghị Quốc hội sửa đổi một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa để phù hợp cho việc sửa dụng phương tiện thủy nội địa đi lại ở một tỉnh có hệ thống sông ngòi chằng chịt như ở Cà Mau, hiện nay hệ thống giao thông đường bộ chưa phát triển nên nhân dân đi lại chủ yếu bằng đường thủy. Người trên 60 tuổi có phương tiện thủy gia dụng, nhưng sống độc thân rất nhiều, nhưng Luật Giao thông đường thủy nội địa quy định người 60 tuổi không cấp chứng chỉ điều khiển phương tiện thủy gia dụng thì gây khó khăn cho việc đi lại của người trên 60 tuổi. Cử tri Cà Mau đề nghị Quốc hội điều chỉnh sửa đổi, bổ sung Luật Giao thông đường thủy nội địa cho phù hợp đối với người lái phương tiện thủy gia dụng từ 60-65 tuổi.

Cử tri đề nghị phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 5 mã lực, có sức chở 5-12 người không phải đăng kiểm mà chỉ đăng ký để quản lý (trừ số kinh doanh).

Trả lời: (Tại Công văn số 5025/BGTVT-PC ngày 26/7/2010)

  1. Về độ tuổi của người lái phương tiện:

- Luật Giao thông đường thuỷ nội địa không có khái niệm “Phương tiện thuỷ gia dụng” và “Người lái phương tiện thủy gia dụng”. Tại khoản 20 Điều 3 giải thích về khái niệm người lái phương tiện như sau: “Người lái phương tiện là người trực tiếp điều khiển phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần đến 15 tấn hoặc phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính đến 15 mã lực hoặc phương tiện có sức chở đến 12 người hoặc bè”

- Độ tuổi của người lái phương tiện được quy định tại Điều 35 của Luật Giao thông đường thuỷ nội địa, theo đó Người lái phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần từ 5 đến 15 tấn, phương tiện có động cơ công suất máy chính từ 5 đến 15 mã lực hoặc có sức chở từ 5 người đến 12 người phải đủ 18 tuổi trở lên và không quá 55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam.



Người lái phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần dưới 5 tấn hoặc có sức chở dưới 12 người; phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 5 mã lực hoặc có sức chở dưới 5 người phải đủ 15 tuổi trở lên. Trường hợp sử dụng phương tiện vào mục đích kinh doanh thì độ tuổi của người lái phương tiện phải đủ 18 tuổi trở lên và không quá 55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam.

Như vậy, độ tuổi của người lái phương tiện không bị khống chế độ tuổi (55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam) nếu điều khiển phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần dưới 5 tấn hoặc có sức chở dưới 12 người; phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 5 mã lực hoặc có sức chở dưới 5 người mà không tham gia kinh doanh vận tải; tuy nhiên người đó phải đủ sức khoẻ, biết bơi, phải học pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa và được cấp giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật Giao thông đường thuỷ nội địa.

2. Về đăng kiểm phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 5 mã lực, có sức chở 5- 12 người:

Theo quy định của Luật Giao thông đường thuỷ nội địa và các văn bản hướng dẫn thi hành thì:



- Phương tiện có động cơ có sức chở từ 5 người đến 12 người, khi hoạt động trên đường thuỷ nội địa phải có giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường.

- Phương tiện không có động cơ có sức chở từ 5 người đến 12 người, phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 5 mã lực khi hoạt động trên đường thuỷ nội địa phải bảo đảm an toàn, sơn vạch dấu mớn nước an toàn.

Như vậy, đối với phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 5 mã lực, có sức chở dưới 5 người thì không phải đăng kiểm nhưng khi hoạt động trên đường thuỷ nội địa phải tuân thủ các điều kiện an toàn được quy định tại Quyết định số 19/2005/QĐ-BGTVT ngày 25 tháng 3 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định điều kiện an toàn của phương tiện thuỷ nội địa phải đăng ký nhưng không thuộc diện đăng kiểm.

Đối với phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 5 mã lực nhưng có sức chở từ 5 đến 12 người (bất kể có kinh doanh chở hành khách hay không), khi hoạt động trên đường thuỷ nội địa vẫn phải đăng kiểm phương tiện theo quy định hiện hành nhằm bảo đảm an toàn tính mạng cho chính người lái phương tiện, hành khách và các đối tượng tham gia giao thông khác.

3. Về kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Giao thông đường thủy nội địa:

Luật Giao thông đường thủy nội địa có hiệu lực từ 01/01/2005. Hiện nay, Bộ Giao thông vận tải đã giao nhiệm vụ cho Cục Đường thủy nội địa và các cơ quan, đơn vị liên quan tiến hành sơ kết, đánh giá 6 năm thực hiện Luật Giao thông đường thuỷ nội địa và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm tổng hợp những quy định không khả thi hoặc chưa phù hợp với thực tiễn để trình Chính phủ xem xét, báo cáo Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung Luật Giao thông Đường thuỷ nội địa.

66. Cử tri tỉnh Gia Lai kiến nghị: Đề nghị bộ sớm xem xét, quy định tăng học phí đào tạo lái xe ô tô để các cơ sở đào tạo có đủ kinh phí đào tạo bảo đảm chất lượng. Đồng thời, đề nghị bộ nghiên cứu ban hành giá dịch vụ đào tạo lái xe thay thế học phí để tính đúng, tính đủ dịch vụ này theo thị trường.

Trả lời: (Tại Công văn số 5248/BGTVT-TC ngày 02/8/2010)

1. Theo quy định mức thu, phí và lệ phí thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính.

2. Trên cơ sở đề nghị của Tổng cục Đường bộ Việt Nam về việc sửa đổi Thông tư 26/2007/TT-BTC ngày 03/4/2007 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn mức thu học phí, quản lý và sử dụng học phí đào tạo lái xe cơ giới đường bộ (Thông tư 26/2007/TT-BTC), Bộ Giao thông vận tải đã có văn bản gửi Bộ Tài chính đề nghị sửa đổi một một số nội dung, trong đó có việc tăng mức học phí lái xe. Bộ Tài chính đã dự thảo sửa đổi Thông tư Thông tư 26/2007/TT-BTC gửi Bộ GTVT và các địa phương tham gia. Sau khi tổng hợp các ý kiến của các Bộ ngành và địa phương, Bộ Tài chính đã hoàn thiện chuẩn bị ban hành. Tuy nhiên, ngày 14/5/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 49/2010/NĐ-CP quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015, trong đó tại Mục 4, Điều 12 quy định “Học phí đối với sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên được thu theo thỏa thuận”. Hiện nay, Bộ Tài chính đang tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi lại Thông tư hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đào tạo lái xe cơ giới đường bộ phù hợp với quy định hiện hành để thay thế Thông tư 26/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính.

67. Cử tri tỉnh Long An kiến nghị:Đối với việc cấm lưu thông xe ba gác, xe công nông tự chế, nhiều cử tri cho rằng đây là chủ trương đúng đắn nhưng không khả thi vì hỗ trợ chuyển đổi nghề thấp trong khi người lái xe là người lao động nghèo, không có trình độ để tiếp nhận đào tạo nghề mới. Đề nghị Chính phủ xem xét, điều chỉnh lại cho phù hợp.

Trả lời: (Tại Công văn số 4968/BGTVT-VT ngày 23/7/2010)

Việc thực hiện nghiêm Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn ắc giao thông là trách nhiệm của mỗi người dân để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông, khắc phục ùn tắc giao thông và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông.

Nhằm giải quyết khó khăn cho người dân có phương tiện thuộc diện bị đình chỉ lưu hành theo Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2009 về việc hỗ trợ thay thế xe công nông; xe lôi máy; xe cơ giới ba bánh; xe thô sơ ba, bốn bánh thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông.

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 122/2009/TT-BTC ngày 17 tháng 6 năm 2009 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2009 về việc hỗ trợ thay thế xe công nông; xe lôi máy; xe cơ giới ba bánh; xe thô sơ ba, bốn bánh thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông.

Hiện nay, nhiều địa phương trên cả nước đã và đang hoàn thành việc hỗ trợ thay thế xe công nông; xe lôi máy; xe cơ giới ba bánh; xe thô sơ ba, bốn bánh thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông theo Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2009.

Nhằm tạo điều kiện cho người dân, tại văn bản số 679/TTg-KTN ngày 27 tháng 4 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép kéo dài thời gian thực hiện Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2009 đến hết năm 2010. Như vậy, với số lượng 3.926 phương tiện thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông được hưởng chính sách hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Long An, việc chuyển đổi và chấp hành theo quy định của pháp luật như các địa phương khác đã làm là hoàn toàn thực hiện được./.



BỘ CÔNG THƯƠNG
1. Cử tri các tỉnh Quảng Ninh, Tiền Giang, Bình Dương, Long An, Nam Định, Hòa Bình, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lâm Đồng, Hưng Yên, Hải Phòng, Hậu Giang kiến nghị: Tình trạng cắt điện liên tục không báo trước trong thời gian gần đây gây thiệt hại lớn cho sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt gây bức xúc trong nhân dân. Đề nghị ngành điện phải có kế hoạch cụ thể về lịch cắt điện luân phiên, thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin để các doanh nghiệp và người dân biết, chủ động trong việc bố trí, điều hành sản xuất sinh hoạt. Đồng thời, đề nghị Chính phủ có giải pháp để tập trung đầu tư nhanh hơn cho ngành sản xuất điện trước hết là mua hết công suất các nhà máy điện; về lâu dài nên thực hiện thị trường hóa ngành điện để thu hút vốn đầu tư sản xuất điện, không để ngành điện quản lí độc quyền như hiện nay.

Trả lời: (Tại Công văn số 8281/BCT-KH ngày 17/8/2010)

1. Về huy động hết các nguồn điện và điều tiết điện

Ngay từ đầu năm 2010, dự báo trước khả năng có thể căng thẳng về điện trong mùa khô năm 2010, Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã có báo cáo Thủ tướng Chính phủ và đề ra những giải pháp hết sức tích cực để nhằm hạn chế khả năng thiếu điện trong mùa khô (Bộ đã có Chỉ thị số 04/CT-BCT ngày 28 tháng 1 năm 2010 về việc thực hiện các công tác cần thiết cho việc đảm bảo cung cấp điện mùa khô 2010; tiếp theo là Chỉ thị số 12/CT-BCT ngày 7 tháng 4 năm 2010 triển khai Chỉ thị 424/CT-TTg ngày 5 tháng 4 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu EVN và các đơn vị ngành điện thực hiện các biện pháp đảm bảo cung cấp điện trong mùa khô 2010.

Để kịp thời ứng phó với các thay đổi trong tình hình cung cấp điện giữa mùa khô, Bộ Công Thương đã có các Chỉ thị số 16/CT-BCT ngày 20 tháng 5 năm 2010 và Chỉ thị 17/CT-BCT ngày 21 tháng 6 năm 2010 về việc đảm bảo cung cấp điện phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, theo đó đã yêu cầu huy động tối đa các nhà máy nhiệt điện, kể cả chạy dầu FO. DO có giá thành cao; trưng dụng cả các tổ máy nhiệt điện than mới còn đang trong thời gian thử nghiêm hoặc nghiệm thu; để giảm thiểu việc tiết giảm điện, đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

Thực tế diễn ra đã như dự báo. Trong 6 tháng đầu năm 2010, tình hình thời tiết, thủy văn các lưu vực sông ở nước ta diễn biến hết sức bất thường, khác hoàn toàn với qui luật nhiều năm: nắng nóng diễn ra sớm ngay những ngày sau Tết, khô hạn khốc liệt, kéo dài xảy ra trên cả nước, nhất là ở miền Bắc; mùa mưa, lũ đến chậm ở cả miền Bắc và miền Nam dẫn đến các nhà máy thủy điện không đủ nước để phát điện, một số nguồn nhiệt điện than mới hoạt động không ổn định, Vì vậy, công tác vận hành hệ thống điện quốc gia và đảm bảo cung ứng điện cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, ngành điện buộc phải áp dụng biện pháp điều hòa, tiết giảm điện trong các tháng 4,5,6 năm 2010. Việc điều hòa, tiết giảm điện được tuân thủ theo Quyết định số 39/2005/QĐ-BCN ngày 23 tháng 12 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) quy định về điều kiện, trình tự và thủ tục ngừng, giảm mức cung cấp điện.

Trong quá trình thực hiện, nhìn chung Điện lực các tỉnh đã có sự phối hợp với Sở Công Thương và các ngành xây dựng phương án cung cấp điện, báo cáo UBND tỉnh và thực hiện việc cấp điện theo phương án được phê duyệt. Các Điện lực thông báo thời gian tiết giảm điện cho các khách hàng sử dụng điện trước 5 ngày theo đúng qui định tại Quyết định 39/2005/QĐ-BCN nêu trên.

Tuy nhiên, vẫn còn một số trường hợp thông báo lịch tiết giảm điện cho khách hàng muộn hơn so với quy định, cơ cấu tiết giảm phụ tải tại một số địa phương chưa hợp lý, dẫn đến việc vẫn còn xảy ra một số bức xúc trong xã hội (như cắt điện không báo trước, cắt điện kéo dài đối với một địa bàn hoặc một số hộ tiêu thụ...). Bộ Công Thương đã đi kiểm tra trực tiếp một số vụ việc cụ thể và đã có chỉ đạo EVN chấn chỉnh tình trạng trên nhằm thực hiện nghiêm túc chủ trương của Chính phủ về tiết giảm điện, đảm bảo cắt điện luân phiên, công bằng.

Tình hình sản xuất và cung ứng điện từ tháng 7 trở đi đã được cải thiện.

2. Về thực hiện thị trường hoá ngành điện

Chấp hành nghiêm chỉnh Điều 18 Luật Điện lực và Quyết định số 26/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt lộ trình, các điều kiện hình thành và phát triển các cấp độ thị trường điện lực tại Việt Nam, Bộ Công Thương đã và đang tích cực chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các cơ quan liên quan thực hiện, để thị trường phát điện cạnh tranh thí điểm (cấp độ 1- bước 1) sớm hình thành và đi vào họat động, trong đó có công tác cổ phần hóa các nhà máy điện.

Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của ngành và theo quy định của pháp luật, một số khâu quan trọng như truyền tải, các nhà máy thuỷ điện quan trọng, khâu điều độ, ... vẫn do Nhà nước nắm giữ 100% vốn, không cổ phần hoá. Tính đến thời điểm này, EVN đã cổ phần hóa được 31 Doanh nghiệp, trong đó:

- Khối phát điện: 07 nhà máy điện.

- Khối phân phối: Đã thí điểm cổ phần hóa Điện lực Khánh Hòa. Các công ty còn lại đang được EVN tiến hành sắp xếp lại theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

- Khối cơ khí điện lực: 03 DN.

- Khối tư vấn: 04 DN.

- Các đơn vị trực thuộc đơn vị thành viên EVN: đã cổ phần hóa 16 đơn vị.

Bộ Công Thương cũng đã ban hành quyết định xác định giá trị doanh nghiệp của Công ty viễn thông điện lực và đang chỉ đạo EVN xây dựng phương án cổ phần hoá công ty.

Ngoài ra, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Bộ Công Thương đã quyết định thành lập 05 Tổng công ty phân phối điện (Tổng công ty Điện lực miền Bắc, miền Trung, miền Nam và Tổng công ty Điện lực TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh) hoạt động theo mô hình công ty TNHH 1 thành viên, trên cơ sở 5 công ty điện lực (cũ). Đối với Công ty Nhiệt điện Uông Bí, do chưa hoàn thành việc đầu tư nên Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho chuyển thành công ty TNHH 1 thành viên. Do vậy, việc cổ phần hoá các đơn vị thành viên còn lại cần có lộ trình, bước đi cụ thể, để bảo đảm an ninh năng lượng và phù hợp với sự chỉ đạo chung của Đảng và Nhà nước.



2. Cử tri tỉnh Gia Lai kiến nghị: Đề nghị Bộ chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam sớm hoàn thành việc đưa điện đến các thôn, buôn, làng chưa có điện theo dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
1   ...   18   19   20   21   22   23   24   25   ...   50


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương