UỶ ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh bến tre độc lập Tự do Hạnh phúc



tải về 27.15 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu25.07.2016
Kích27.15 Kb.
UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH BẾN TRE Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1261/2002/QĐ-UB Bến Tre, ngày 01 tháng 4 năm 2002



QUYẾT ĐỊNH

CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

“V/v Ban hành quy định về nhiệm vụ, quyền hạn

và tổ chức của Đội dân phòng. ”




UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

Căn cứ vào Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) ngày 21/6/1994;

Để tăng cường công tác quản lý về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở cơ sở trong tình hình mới;

Theo đề nghị của Giám đốc Công an tỉnh Bến Tre tại Tờ trình số 08/TTr-CAT(PC13) ngày 04 tháng 02 năm 2002,


QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức hoạt động của Đội dân phòng trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Điều 2. Giao cho Giám đốc Công an tỉnh chịu trách nhiệm phối hợp với các ban ngành, đoàn thể tỉnh có liên quan; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị, xã, phường, thị trấn và Đội dân phòng tổ chức triển khai thực hiện Quy định này.

Điều 3. Các ông (bà) Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các sở, ban ngành có liên quan, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị, xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.



TM.UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

CHỦ TỊCH

(Đã ký)
Huỳnh Văn Be

UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH BẾN TRE Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



QUY ĐỊNH

Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức hoạt động của Đội dân phòng


Ban hành kèm theo Quyết định số 1261/QĐ-UB

ngày 01 tháng 4 năm 2002 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre”.



Chương I


NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Đội dân phòng là một tổ chức quần chúng, bao gồm những người tích cực, được nhân dân tín nhiệm giới thiệu (hoặc tự nguyện), tham gia công tác giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong khu vực dân cư.

Điều 2. Đội dân phòng được thành lập và hoạt động trong khu vực dân cư ấp, khu phố, khóm, ô (gọi tắt là ấp) ở xã, phường, thị trấn (gọi tắt là xã) là lực lượng nòng cốt trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, để vận động nhân dân trong ấp và trực tiếp tham gia công tác giữ gìn an ninh trật tự tại cơ sở.

Điều 3. Tiêu chuẩn của đội viên Đội dân phòng: nam công dân Việt Nam từ 18 đến 45 tuổi có sức khoẻ tốt, có trình độ học vấn nhất định, có uy tín với nhân dân đều được tham gia đội dân phòng.

Chương II


NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA ĐỘi DÂN PHÒNG

Điều 4. Đội dân phòng có nhiệm vụ:

- Phối hợp với Ban bảo vệ dân phố, Hội đồng bảo vệ an ninh trật tự và các lực lượng khác tuyên truyền vận động nhân dân trong ấp chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các thể lệ, quy tắc, quy ước, nội quy về bảo vệ an ninh trật tự, xây dựng khu vực, hộ gia đình an toàn về an ninh trật tự.

- Tổ chức tuần tra kiểm soát, nắm tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong ấp để phát hiện ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm đến tính mạng, sức khoẻ của công dân, xâm phạm tài sản của Nhà nước, tài sản của tập thể và của công dân, phòng chống các tệ nạn xã hội.

- Vận động nhân dân thực hiện các quy định về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; tham gia quản lý giáo dục, cảm hoá, giúp đỡ những người lầm lỗi tại cộng đồng dân cư… Phát hiện giúp đỡ cơ quan chức năng truy bắt các đối tượng có lệnh truy nã, trốn thi hành án; vận động đối tượng phạm pháp đang lẫn trốn trong địa bàn ra đầu thú.

- Khi xảy ra các vụ việc về an ninh trật tự trong ấp phải tham gia bảo vệ hiện trường, cấp cứu nạn nhân (nếu có), đuổi bắt kẻ phạm tội; đồng thời báo cáo ngay cho công an xã để xử lý.

Điều 5. Trong khi làm nhiệm vụ, đội viên Đội dân phòng được quyền:

- Bắt giữ, tước vũ khí, hung khí, tang vật gây án và dẫn giải người phạm tội quả tang, đối tượng có lệnh truy nã, giao cho Công an xã xử lý theo thẩm quyền.

- Yêu cầu người có hành vi vi phạm trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông về trụ sở Công an xã để giải quyết.

- Được trang bị và sử dụng công cụ hỗ trợ, vũ khí thô sơ, trang phục, bảng tên trong khi làm nhiệm vụ theo quy định.

- Yêu cầu quần chúng trong khu vực giúp đỡ phương tiện và tham gia giải quyết các vụ, việc xảy ra như: bảo vệ hiện trường, cấp cứu người bị nạn, đuổi bắt kẻ phạm tội quả tang, đối tượng có lệnh truy nã, phòng cháy, chữa cháy, phòng chống thiên tai…

Điều 6. Ngoài quyền hạn ghi ở Điều 5; các thành viên trong Đội dân phòng không được: bắt người, đánh người, khám người, khám nhà, đồ vật trái với quy định của pháp luật.

Chương III


CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI DÂN PHÒNG

Điều 7. Cơ cấu tổ chức Đội dân phòng: Đội dân phòng được tổ chức thành lập theo từng ấp, khu phố, căn cứ vào tình hình thực tế từng nơi, nhưng mỗi đội không quá 12 người. Đội dân phòng gồm có đội trưởng, đội phó do các thành viên trong đội bầu ra để điều hành công việc của đội.

Điều 8. Hoạt động của Đội dân phòng:

- Khi làm nhiệm vụ tuần tra canh gác phải mặc trang phục được trang cấp, đeo băng đỏ có dòng chữ “Đội dân phòng”, mang theo giấy chứng nhận do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã cấp theo mẫu thống nhất và được sử dụng công cụ hỗ trợ trong những trường hợp cần thiết.

- Mỗi tháng tổ chức họp đội một lần để kiểm điểm tình hình hoạt động trong tháng, đề ra phương hướng công tác tháng tới và báo cáo kết quả hoạt động của đội lên Uỷ ban nhân dân xã (qua Công an xã).

- Đội dân phòng được hoạt động trong phạm vi địa bàn ấp theo quy định của Uỷ ban nhân dân xã.



Điều 9. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã quyết định thành lập Đội dân phòng, đội trưởng, đội phó và các thành viên trong Đội dân phòng.

Điều 10. Kinh phí hoạt động:

Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm trích một phần kinh phí từ ngân sách; kinh phí cho công tác bảo vệ an ninh trật tự và sử dụng quỹ bảo trợ an ninh quốc phòng để duy trì hoạt động của Đội dân phòng.



Điều 11. Về chế độ chính sách được hưởng.

Đội trưởng, đội phó và đội viên Đội dân phòng được tạm miễn nghĩa vụ lao động công ích hàng năm, được hưởng thù lao theo sự đóng góp tự nguyện của nhân dân. Trong khi làm nhiệm vụ nếu dũng cảm làm những công việc cấp bách phục vụ quốc phòng và an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân mà bị thương tật hoặc hy sinh thì được hưởng các chế độ chính sách theo quy định hiện hành của Nhà nước.



Chương IV

TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ, KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT

Điều 12. Trách nhiệm quản lý:

- Đội dân phòng chịu sự chỉ đạo, điều hành và quản lý của Uỷ ban nhân dân xã. Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm bố trí các chốt dân phòng ở từng ấp trên địa bàn xã.

- Công an xã có trách nhiệm hướng dẫn tổ chức hoạt động và huấn luyện nghiệp vụ về công tác bảo vệ an ninh trật tự cho Đội dân phòng.

- Trưởng ấp, công an viên phụ trách ấp, cảnh sát khu vực trực tiếp quản lý, lãnh đạo và phân công giao nhiệm vụ cho Đội dân phòng.



Điều 13. Khen thưởng, kỷ luật.

Tập thể, cá nhân Đội dân phòng có thành tích xuất sắc được xét khen thưởng như quy chế khen thưởng lực lượng Công an xã.

Tập thể, cá nhân Đội dân phòng nếu lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn có hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, đến uy tín của tổ chức, thì tuỳ theo mức độ sẽ bị xử lý theo pháp luật bằng biện pháp hành chính hoặc hình sự.

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH


Điều 14. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với Đội dân phòng, đề ra kế hoạch tuần tra bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, có kế hoạch bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các thành viên đội dân phòng mỗi năm một lần, thời gian không quá 3 ngày.

Quá trình thực hiện cần sơ tổng kết, nhận xét, đánh giá rút kinh nghiệm kết quả thực hiện. Có gì khó khăn hoặc cần bổ sung sửa đổi, đề nghị các địa phương phản ảnh về Công an tỉnh để có hướng dẫn bổ sung.



Điều 15. Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký, những quy định của địa phương trái với Quy định này đều bãi bỏ./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH CHỦ TỊCH

(Đã ký)
Huỳnh Văn Be




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương