Minh Thực lục và sách Minh Thực lục: Quan hệ Trung Hoa –Việt Nam thế kỷ XIV-XVII phạm Hoàng Quân Lời mở



tải về 189.81 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu02.09.2016
Kích189.81 Kb.
Minh Thực lục và sách

Minh Thực lục: Quan hệ Trung Hoa –Việt Nam thế kỷ XIV-XVII

Phạm Hoàng Quân

Lời mở

Khoa học nào cũng coi trọng tư liệu, với khoa học lịch sử thì tư liệu lại là vấn đề tiên quyết, mọi tác phẩm lịch sử đều hình thành trên nền tảng sử liệu và nhà làm sử nào cũng muốn tiếp cận những nguồn tư liệu gốc. Trong các sách sử Việt Nam cổ đại, sử liệu thành văn là thành phần chính, thành phần này từ khởi thủy đã không ngại tiếp thu những di sản trong kho tàng văn hiến Trung Hoa. Sự lưu thông tự nhiên bởi hoàn cảnh địa lý và yếu tố đồng văn khiến các nguồn sử liệu trở thành những giá trị chung. Ngày nay việc khai thác sử liệu từ nguồn sử Trung Quốc vẫn là việc đáng phải làm, vừa để tạo sự phong phú trong nhu cầu tư liệu cho sử Việt, vừa góp phần làm cơ sở khảo cứu một nền văn hóa lớn của nhân loại. Sử ghi chép của Trung Quốc vừa lâu đời vừa liên tục, đó là một đặc điểm ít có trong tổng thể lịch sử thế giới, sự phát triển về sau để hình thành các thể tài hoặc khuynh hướng sử học đều từ cơ sở hoàn bị của sử liệu, Minh Thực lục mà chúng ta tiếp cận là một đại diện tiêu biểu cho nhiều loại sử liệu thành văn xuất hiện vào giai đoạn thịnh đạt của nền sử học Trung Hoa.



Thực lục là một thể tài sử thư, chuyên ghi chép những sự kiện lớn nhỏ trong suốt thời gian trị vì của một hoàng đế, đồng thời cũng ghi chép tiểu truyện của các văn thần võ tướng trong triều vua ấy. Thực lục sớm nhất xuất hiện thời nhà Lương (Nam Triều), với bộ Lương Hoàng đế Thực lục 梁 皇 帝 實 錄do Chu Hưng Tự 周 興 嗣soạn, chép về sự việc triều Lương Võ Đế (501-520), sau đó là bộ Lương Hoàng đế Thực lục chép sự việc triều Lương Nguyên Đế (552-555) do Tạ Hạo 謝 昊soạn. Từ đầu đời Đường về sau, sau khi hoàng đế mất, vua kế vị lập Thực lục quán và bổ nhiệm các chức vụ cho sử quan để biên soạn Thực lục về đời vua trước, các thời Ngũ đại, Tống, Liêu, Kim, Nguyên, Minh, Thanh đều theo phép ấy mà soạn Thực lục, đến triều Quang Tự cuối đời Thanh thì dừng. Thực lục các loại, các đời kể trên cộng hơn 110 bộ, tuyệt đại đa số đã mất. Nhà Đường chỉ còn Thuận Tông Thực lục 順 宗 實 錄 (805) do Hàn Dũ 韓 愈soạn, nhà Tống chỉ còn một bản bị thiếu (20 quyển) Thái Tông Thực lục 太 宗 實 錄 (976-983) do Tiền Nhược Thủy 錢 若 水và Dương Ất 楊 亿 soạn. Đến ngày nay chỉ có Thực lục hai triều Minh, Thanh là khá toàn vẹn.

I. Tổng quan về Minh Thực lục

Minh Thực lục - về thể loại - được giới sử học Trung Quốc hiện đại định tính là “biên niên”, được biên soạn trong suốt 13 triều vua nhà Minh, từ Thái Tổ đến Hy Tông, cộng được 3.053 quyển và phụ thêm Hoài Tông Thực lục gồm 17 quyển chép việc triều Sùng Trinh (1628–1644) được biên soạn sau này. Minh Thực lục là tên gọi chung của 13 bộ, năm biên soạn và người chủ trì biên soạn tóm lược như sau:

  1. Thái Tổ Thực lục 太 祖 實 錄, 257 quyển, chép sự việc triều Hồng Vũ và Kiến Văn (1368–1402). Minh Thái tổ họ Chu, tên Nguyên Chương sinh năm 1328, lên ngôi năm 1368, đặt quốc hiệu là Minh, niên hiệu Hồng Vũ, ở ngôi 31 năm, mất năm 1398. Minh Huệ đế tên Duẫn Văn, cháu nội của Nguyên Chương, sinh năm 1377, lên ngôi năm 1398, năm 1399 đổi niên hiệu Kiến Văn, mất năm 1402 trong cuộc chính biến gây ra bởi người chú. Thái tổ Thực lục biên soạn trong khoảng niên hiệu Kiến Văn (1399-1402) do Vương Cảnh 王 景làm tổng tài [chủ biên], đầu niên hiệu Vĩnh Lạc sửa chữa lần thứ nhất do Giải Tấn 解 縉làm Tổng tài, năm Vĩnh Lạc thứ chín (1411) sửa chữa lần thứ hai, do Dương Sĩ Kỳ 楊 士 奇làm Tổng tài, đến năm 1418 hoàn thành. Bản Thái Tổ Thực lục lưu hành hiện nay là bản do Dương Sĩ Kỳ sửa chữa lần hai. Dương Sĩ Kỳ (1365-1444) hiệu Đông Lý, người huyện Thái Hòa tỉnh Giang Tây, quan đến Thị lang bộ Lễ, Đại học sĩ điện Hoa Cái.

  2. Thái Tông Thực lục 太 宗 實 錄, 274 quyển, chép sự việc triều Vĩnh Lạc (1403– 1424). Thái tông tên Đệ (Lệ), sinh năm 1360, con thứ tư của Nguyên Chương, lên ngôi năm 1403, đổi niên hiệu là Vĩnh Lạc, ở ngôi 22 năm, mất năm 1424. Năm Gia Tĩnh thứ 17 (1358) đổi miếu hiệu là Thành tổ, sử gọi Minh Thành tổ, Thực lục vẫn giữ miếu hiệu cũ là Thái tông. Thái Tông Thực lục làm xong năm Tuyên Đức thứ năm (1430), do Dương Sĩ Kỳ làm Tổng tài.

  3. Nhân Tông Thực lục 仁 宗 實 錄, 10 quyển, chép sự việc triều Hồng Hi (1424–1425). Nhân tông tên Cao Sí, sinh năm 1378, con trưởng của Đệ, lên ngôi năm 1424, năm 1425 đổi niên hiệu là Hồng Hi, ở ngôi không đầy năm. Nhân Tông Thực lục làm xong năm 1430, do Dương Sĩ Kỳ làm Tổng tài.

  4. Tuyên Tông Thực lục 宣 宗 實 錄, 115 quyển, chép sự việc triều Tuyên Đức (1426–1435). Tuyên Tông tên Chiêm Cơ, sinh năm 1398, con trưởng của Cao Sí, lên ngôi năm 1425, năm 1426 đổi niên hiệu là Tuyên Đức, ở ngôi 10 năm, mất năm 1435. Tuyên Tông Thực lục làm xong năm 1438, do Dương Sĩ Kỳ làm Tổng tài.

  5. Anh Tông Thực lục 英 宗 實 錄, 361 quyển, chép sự việc triều Chính Thống (1436-1449), Cảnh Thái (1450-1456), Thiên Thuận (1457–1464). Anh Tông tên Kỳ Trấn, sinh năm 1427, con trưởng của Chiêm Cơ, lên ngôi năm 1435, năm 1436 đổi niên hiệu là Chính Thống, năm 1449 cử binh đánh Ngõa Lạt , bị bắt, em là Kỳ Ngọc [Minh Đại Tông] lên thay, năm 1450 Kỳ Ngọc đổi niên hiệu là Cảnh Thái. Tháng 8 năm 1450 Kỳ Trấn được thả về, làm Thái thượng hoàng. Năm 1457 Kỳ Trấn lấy lại ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Thuận, lại ở ngôi đến năm 1464. Anh Tông Thực lục do Lý Hiền 李 賢làm Tổng tài, làm xong năm Thành Hóa thứ ba (1467). Lý Hiền (1408-1466) người Trịnh Châu, Hà Nam, làm quan đến Thượng thư bộ Lại, Đại học sĩ điện Hoa Cái.

  6. Hiến Tông Thực lục 憲 宗 實 錄, 293 quyển, chép sự việc triều Thành Hóa (1465–1487). Hiến Tông tên Kiến Thâm, sinh năm 1447, con trưởng của Kỳ Trấn, lên ngôi năm 1464, năm 1465 đổi niên hiệu là Thành Hóa, ở ngôi 23 năm, mất năm 1487. Hiến Tông Thực lục do Lưu Cát 劉 吉làm Tổng tài, làm xong năm Hoằng Trị thứ tư (1491). Lưu Cát (1427-1493) tự Hựu Chi, hiệu Ước Am, người huyện Bác Dã, Bắc Trực Lệ, quan đến Thượng thư bộ Hộ, Đại học sĩ điện Cẩn Thân.

  7. Hiếu Tông Thực lục 孝 宗 實 錄, 224 quyển, chép sự việc triều Hoằng Trị (1488–1505). Hiếu Tông tên Hựu Đường, sinh năm 1470, con thứ ba của Kiến Thâm, lên ngôi năm 1487, năm 1488 đổi niên hiệu là Hoằng Trị, ở ngôi 18 năm, mất năm 1505. Hiếu Tông Thực lục do Lưu Kiện 劉 健, Tiêu Phương 焦 芳làm Tổng tài, làm xong năm Chính Đức thứ tư (1509). Tiêu Phương người huyện Bá Dương tỉnh Hà Nam, quan đến Thượng thư bộ Lại, Đại học sĩ điện Hoa Cái.

  8. Võ Tông Thực lục 武 宗 實 錄, 197 quyển, chép sự việc triều Chính Đức (1506–1521). Võ Tông tên Hậu Chiếu, sinh năm 1491, con trưởng của Hựu Đường, lên ngôi năm 1505, năm 1506 đổi niên hiệu là Chính Đức, ở ngôi 16 năm, mất năm 1521. Võ Tông Thực lục do Phí Hoằng làm Tổng tài, làm xong năm Gia Tĩnh thứ tư (1525). Phí Hoằng 費 宏 (1468-1535), tự Tử Sung, người huyện Diên Sơn tỉnh Giang Tây, quan đến Thượng thư bộ Hộ, Thượng thư bộ Lại, Đại học sĩ điện Cẩn Thân.

  9. Thế Tông Thực lục 世 宗 實 錄, 566 quyển, chép sự việc triều Gia Tĩnh (1522–1566). Thế Tông tên Hậu Thông, sinh năm 1507, cháu nội của Kiến Thâm [Hiến Tông], con trưởng của Hưng Hiến vương Hựu Nguyên, lên ngôi năm 1521, năm 1522 đổi niên hiệu là Gia Tĩnh, ở ngôi 45 năm, mất năm 1566. Thế Tông Thực lục do Trương Cư Chính 張 居 正 làm Tổng tài, làm xong năm Vạn Lịch thứ năm (1577). Trương Cư Chính (1525-1572) người huyện Giang Lăng tỉnh Hồ Bắc, tự Thúc Đại, hiệu Thái Nhạc, chính trị gia. Đầu niên hiệu Vạn Lịch, chấp chính 10 năm (1573-1582) thực hiện cải cách.

  10. Mục Tông Thực lục 穆 宗 實 錄, 70 quyển, chép sự việc triều Long Khánh (1567–1572). Mục Tông tên Tải Hậu, sinh năm 1537, con thứ ba của Hậu Thông, lên ngôi năm 1566, năm 1567 đổi niên hiệu là Long Khánh, ở ngôi sáu năm, mất năm 1572. Mục Tông Thực lục làm xong năm Vạn Lịch thứ hai (1574), do Trương Cư Chính làm Tổng tài.

  11. Thần Tông Thực lục 宗 實 錄, 594 quyển, chép sự việc triều Vạn Lịch (1573–1620). Thần Tông tên Dực Quân, sinh năm 1563, con thứ ba của Tải Hậu, lên ngôi năm 1572, năm 1753 đổi niên hiệu là Vạn Lịch, ở ngôi 48 năm, mất năm 1620. Thần Tông Thực lục do Cố Bỉnh Khiêm 顧 秉 謙làm Tổng tài, làm xong năm Sùng Trinh thứ ba (1630). Cố Bỉnh Khiêm người Côn Sơn phủ Tô Châu, Nam Trực Lệ, quan đến Thượng thư bộ Lễ, Đại học sĩ điện Trung Cực.

  12. Quang Tông Thực lục 光 宗 實 錄, tám quyển, chép sự việc triều Thái Xương (1620). Quang Tông tên Thường Lạc, sinh năm 1582, con trưởng của Dực Quân, lên ngôi năm 1620, niên hiệu Thái Xương, ở ngôi hai tháng thì mất. Quang Tông Thực lục ban đầu do Diệp Hướng Cao 葉 向 高làm tổng tài, sau do Cù Duy Hoa 霍 維 華sửa lại, làm xong năm Thiên Khải thứ ba (1623).

  13. Hy Tông Thực lục 熹 宗 實 錄, 84 quyển, chép sự việc triều Thiên Khải (1621–1627). Hy Tông tên Do Hiệu, sinh năm 1605, con trưởng của Dực Quân, lên ngôi năm 1620, năm 1621 đổi niên hiệu là Thiên Khải, ở ngôi 7 năm, mất năm 1627. Hy Tông Thực lục do Ôn Thể Nhân làm Tổng tài, làm xong khoảng cuối niên hiệu Sùng Trinh (1634, 1635). Ôn Thể Nhân 溫 體 仁người huyện Ô Trình tỉnh Triết Giang, quan đến Thượng thư bộ Lại, Đại học sĩ điện Trung Cực.

Như trên là những thông tin thật cơ bản về những yếu tố hình thành Thực lục, trong đó gồm đối tượng chính được biên chép [các đời vua], thời gian biên chép và người chủ trì việc biên chép. Nên lưu ý là số Thực lục ít hơn số triều vua được chép trong sử, vì hai triều Kiến Văn và Cảnh Thái không có Thực lục riêng, và triều Sùng Trinh với Hoài Tông Thực lục không được xem là chính thức bởi chỉ thâu lượm những văn bản rời rạc của người đời sau. Theo quy chế đương thời, Thực lục một triều vua được biên soạn sau khi vua triều ấy mất, cử bậc danh thần giữ chức Giám tu [giám sát việc biên soạn], đại thần trong nội các giữ chức Tổng tài [chủ trì việc biên soạn], Học sĩ viện Hàn lâm giữ chức Phó Tổng tài, các thành viên tham gia biên soạn được lấy từ Nội các, viện Hàn lâm, phủ Thiêm sự, bộ Lễ và ty Kinh cục. Nguồn tư liệu để biên soạn Thực lục được lấy từ những chỉ dụ, tấu nghị lưu ở Nội phủ và Nội các, các văn bản Khởi cư chú, Nhật lịch của sử quán, hồ sơ ở các ty sở, nha môn, vương phủ, sự tích, mộ chí, dã sử…, sau đó phân loại tài liệu chia ra sáu quán (loại) Lại, Hộ, Lệ, Binh, Hình, Công. Người biên soạn ở sáu quán cứ theo trình tự năm, tháng mà biên chép. Bản sơ cảo [tổng hợp lần đầu] giao cho Phó Tổng tài đọc và cắt, chữa, sau đó giao bản đã sửa chữa cho Tổng tài nhuận sắc, bản đã nhuận sắc gọi là bản định cảo. Bản định cảo của Tổng tài được sao thêm một bản [phó bản], hai bản này dâng lên vua còn bản sơ cảo thì đốt đi. Bản định cảo tức bản chính được giữ ở nội phủ, bản sao tức phó bản được giữ ở nội các, không khắc in.

Nội dung Thực lục ghi chép rất rộng, gồm: chính sách pháp lệnh, điển chương chế độ, việc sách lập hoàng thái hậu, hoàng phi, hoàng thái tử, sách phong quận vương, vương phi, công chúa; việc hoàng đế tuần thú biên cương hoặc thân chinh, cùng các loại lễ nghi, tế tự; đất đai của các thân vương, việc phong tước và thế tập, văn võ đại thần tước công, hầu, bá tật bệnh về hưu; việc phong chức cho hàng tam công, tam thiếu, hai kinh, năm phủ, sáu bộ, đô sát viện và quan chức cao cấp ở trung ương và địa phương; việc lập mới hoặc bãi bỏ, sáp nhập nha môn các cấp; sự lai vãng của các bộ tộc ở biên cương; việc triều cống, giao thiệp hoặc buôn bán của các nước lân cận; nguyên nhân và diễn biến các cuộc chiến tranh; tiểu truyện các nhân vật trọng yếu; thiên văn, địa lý, khí tượng, thủy lợi, thuế khóa, nhân khẩu, điền thổ, trồng trọt, chăn nuôi, vận chuyển, đồn điền, thương mại… Các lĩnh vực, sự kiện, hiện tượng trong mỗi điều mục được biên chép một cách có đối chiếu và hệ thống, vì thế Minh Thực lục được xem là nguồn tư liệu tối cơ bản trong việc nghiên cứu lịch sử nhà Minh.

Vì được biên soạn theo quan điểm của nhà cầm quyền, nên trong Minh Thực lục nhiều sự thật bị che đậy hoặc được ghi nhận sai. Tuy nhiên giới sử học vẫn xem đây là nguồn tư liệu gốc rất quý báu, nhất là về biên niên sự kiện, do việc tổ chức biên soạn có quy mô lớn, sự đối chiếu rộng khắp và đọc duyệt chu đáo nên sự kiện được đề cập có khi sai khác về chi tiết hoặc mâu thuẫn trong nội dung nhưng ngày tháng thì khá chính xác.

Minh Thực lục chưa từng được khắc in, nên chỉ lưu hành bản chép tay. Đương thời, bản chính được lưu trữ trong tòa Hoàng Sử Thinh1, nơi này, ngoài Thực lục, còn cất chứa ngự bút của các vua tiền triều cùng tài liệu cơ mật. Phó bản được cất giữ ở nội các, dùng làm tài liệu tham khảo riêng cho các quan tham gia biên soạn Thực lục của các đời vua tiếp theo. Năm Vạn Lịch thứ 6 (1578), có chỉ dụ cho sao chép Thực lục cỡ nhỏ, nhân vụ này, Thực lục của 10 triều trước đó được sao chép rộng rãi. Các bản lưu hành đến nay đa số là những bản sao hoặc sao lại của đợt sao chép năm 1578, bản chính ở Hoàng Sử Thinh và phó bản ở nội các đều không còn nguyên vẹn, vì chuyển sao nhiều lần nên nội dung Minh Thực lục không ít chỗ sai biệt.

Ngoài ra, Thanh Sử cảo - Nghệ văn chí còn ghi nhận các bộ Thực lục do tư nhân biên soạn, chép việc cuối đời Minh và triều Vĩnh Lịch (1647-1661), là các bộ Minh Quý Thực lục 明 季 實 錄sáu quyển do Cố Viêm Võ 顧 炎 武soạn, Vĩnh Lịch Thực lục 永 歷 實 錄25 quyển do Hoàng Tông Hy 黃 宗 羲soạn, Vĩnh Lịch Thực lục 26 quyển do Vương Phu Chi 王 夫 之soạn2. Các Thực lục trên ứng với giai đoạn mà sử Trung Quốc gọi là thời kỳ Nam Minh (1644-1661), lúc này người Mãn đã làm chủ Trung Hoa, hậu duệ họ Chu chỉ còn giữ được vài vùng đất ở mấy tỉnh phía Nam.



II. Giá trị sử liệu Thực lụcMinh Thực lục
II. 1. Về việc xếp loại và xác định giá trị Thực lục

“Họ Triều nói: Đời sau làm Sử, về thể loại có ba: thể Biên niên tức lấy ngày tháng của sự kiện mà sắp xếp theo từng năm, gốc từ Tả Khâu Minh; thể Kỷ truyện, chép về hành trạng, sự tích trước sau của từng nhân vật vua, quan, gốc từ Tư Mã Thiên; thể Thực lục, tên gọi này bắt đầu từ nhà Lương, đến đời Đường thì thịnh hành, về cách thức, thể này gồm thu hai thể Biên niên và Kỷ truyện, do các sử quan muốn biên chép cho đầy đủ sự việc nên thâu thập làm vậy, chứ ban đầu không có ý gia công tạo tác, nên không đủ để xem là phương pháp [của sử gia]” [Nguyên. Mã Đoan Lâm. Văn hiến Thông khảo, Kinh tịch khảo, Sử bộ, tự].

Trích dẫn của Mã Đoan Lâm về ý của Triều Công Võ trong Quận Trai độc thư chí cho thấy thể Thực lục là một thể tài hỗn hợp giữa Biên niênKỷ truyện.

Thư mục qua các đời như Kinh tịch chí trong Tùy thư, Kinh tịch chí trong Cựu Đường thư, Nghệ văn chí trong Tân Đường thư, Nghệ văn chí trong Tống sử, Nghệ văn chí trong Minh sử, Tứ khố toàn thư tổng mục, Nghệ văn chí trong Thanh sử cảo… đều không xếp Thực lục thành một loại độc lập mà thảng hoặc được chép phụ theo loại tạp sử hoặc loại biên niên. Đến đầu thế kỷ XX, Lương Khải Siêu, trong một nghiên cứu về truyền thống sử học Trung Quốc, xếp Thực lục vào nhóm “biệt thể” loại Truyện ký3.

Giữa thế kỷ XX, bằng nhãn quan khoa học trong việc phân loại và nhận định giá trị sử liệu, giá trị sử liệu trong Thực lục được giới sử học nhìn nhận một cách khách quan hơn. Trong Trung Quốc sử luận tập, Tiễn Bá Tán 翦 伯 贊xem Thực lục là một thể tài lịch sử độc lập, như các thể tài Chính sử (như 24 bộ sử), Biên niên (như Tư trị Thông giám), Kỷ sự bản mạt (như Thông giám kỷ sự bản mạt), Biệt sử (như Thông điển), Tạp sử (như Đại Thanh hội điển), Phương chí (như Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư), Phổ Diệp (các loại gia phả), Bút ký4. v.v…

Các từ điển chuyên ngành lịch sử hoặc văn hiến học hiện nay xác định tính chất Thực lục thuộc loại Biên niên tức là loại sử liệu dài hơi5. Khi bình luận về thể tài Thực lục, Uông Đan 汪 丹– một sử gia hiện đại chuyên khảo bình sử thư – nhận xét: “Thể loại Thực lục tuy chép việc không thẳng nhưng do sự phong phú về chi tiết, rõ ràng và thực tế nên có giá trị cao về mặt sử liệu, cung cấp nhiều tài liệu trọng yếu cho việc soạn sử các đời”6.

Tóm lại, dần về sau này, giới sử học càng xem trọng sử liệu từ Thực lục, nếu cẩn thận kê cứu và loại bỏ các việc được biên chép sai sự thật do bị chi phối bởi quan điểm của nhà cầm quyền đương thời, thì Thực lục quả thật là một kho tư liệu cho nhiều ngành, ngoài chuyên ngành sử học.

II. 2. Giá trị Sử liệu của Minh Thực lục đối với việc soạn sử ở Trung Quốc

Như đã nói qua ở phần tổng quan, Thực lục được biên soạn dựa vào nguồn văn bản hành chính các loại, có thể phân thành hai nguồn chính yếu là các chỉ dụ từ trên xuống và các tấu sớ từ dưới lên, hai nguồn này phản ánh rõ nét sự hoạt động /tồn tại của một thể chế, chi phối mọi hoạt động của xã hội.

Ưu điểm nổi bật của Thực lục nằm ở những văn bản đã sao lục gần như toàn vẹn các chỉ dụ của nhà vua và các báo cáo, kiến nghị của các quan với ngày tháng cụ thể cho từng sự việc cụ thể, một số trong các văn bản này gần với hình thức công báo ngày nay. Các nhà làm sử thuộc mọi thể tài như thông sử, biên niên, kỷ sự v.v… đều có thể dựa vào nguồn tư liệu Thực lục để sắp xếp thành sách sử. Do nguồn tư liệu tối cơ bản về triều Minh là nguồn Đáng án (Hồ sơ lưu trữ) hiện đã thất tán hư hủy phần lớn trong những biến cố lịch sử, vì vậy Minh Thực lục hiện tồn là một tập hợp sử liệu cơ bản, hệ thống nhất về thời Minh, nơi bảo lưu chủ yếu các tư liệu đầu tiên.

Ngược dòng lịch sử học thuật, có thể thấy từ cuối thời Minh đầu Thanh, một số sử quan và sử gia có điều kiện tiếp cận với nguồn Thực lục đã sử dụng tư liệu này cho việc biên soạn của họ, như Cốc Ứng Thái trong Minh sử kỷ sự bản mạt (1658)7, Đàm Thiên trong Quốc xác (1653)8, Vạn Tư Đồng trong Minh sử cảo (1702).

Trong đó, Minh sử cảo là cơ sở để Vương Hồng Tự 王 鴻 緒 và Trương Đình Ngọc 張 廷 玉 đời Thanh cải bổ thành bộ Minh sử, bộ chính sử cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Quốc do sử quan quản lý việc biên soạn9.

Dùng Thực lục các triều đầu nhà Minh như Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông làm đối tượng để nghiên cứu, tức bình luận, phân tích, so sánh với các nguồn sử liệu khác đã được một số học giả giữa thời Minh như Lang Anh 郎 瑛trong Thất tu loại cảo10, Chúc Doãn Minh 祝 允 明trong Quốc triều điển cố11 [Dã ký], Vương Thế Trinh 王 世 貞trong Sử Thừa khảo ngộ12 v.v… Trong nhiều học giả thời Minh, Vương Thế Trinh được xem là xuất sắc hơn cả, bởi những ý kiến hoài nghi sự chân xác trong một số sự kiện, đồng thời, ở những điểm có thể lý giải bằng phép biện chứng hoặc căn cứ vào ưu thế trên xác suất tư liệu đồng đại, họ Vương tiến hành khảo đính, chứng minh sự sai lầm hoặc cố ý làm sai sự thực lịch sử của các sử quan.

Đầu đời Thanh, việc khảo chứng được tiếp tục bởi học giả Tiền Khiêm Ích 錢 謙 益với Thái Tổ Thực lục biện chứng [trong Mục trai sơ học tập]13, họ Tiền gần như cả đời nghiên cứu sử nhà Minh, rất chú trọng phép biện chứng, dùng từ tư liệu gốc cho đến dã sử, bút ký đương thời, tiếp cận cả văn bản từ các kho lưu trữ của tiền triều làm căn cứ khảo biện. Nối tiếp họ Tiền, những học giả tên tuổi trong suốt đời Thanh như Tiền Đại Hân 錢 大 昕, Cố Viêm Võ 顧 炎 武, Toàn Tổ Vọng 全 祖 望, Từ Càn Học 徐 乾 學v.v… đều gia công nghiên cứu Minh Thực lục và có những thành tựu nhất định góp vào lịch sử học thuật.

Như vậy, ngoài giá trị sử liệu, Minh Thực lục còn là một đối tượng khá hấp dẫn cho học giả khai thác để nghiên cứu, ngay cả trong giai đoạn lịch sử mà nó còn được xem như vùng cấm.

Từ thời [Trung Hoa] Dân quốc (1911) đến nay, việc ứng dụng sử liệu và nghiên cứu sử liệu Minh Thực lục ngày càng chuyên sâu và có hệ thống, học giả trong và ngoài Trung Quốc mỗi người mỗi cách tiếp cận, khai thác và hoàn thiện không ngừng, ở đây chúng tôi chỉ khái quát về ba lĩnh vực nổi bật và cần thiết đối với độc giả Việt Nam, đó là các vấn đề văn bản học (Trung Quốc gọi là Bản bản học版 本 學); dùng Minh Thực lục khảo đính Minh sử và nghiên cứu/hệ thống Minh Thực lục theo chuyên đề.
II. 2. a. Văn bản và văn bản học

Như đã nói sơ lược ở phần tổng quan, Minh Thực lục là tên gọi chung cho 13 Thực lục các triều vua Minh, toàn là văn bản viết tay, tổng cộng hơn 40.000 trang. Trước thời Vạn Lịch (1573–1615), mỗi triều chỉ có hai bộ Thực lục được chia ra cất kỹ ở Văn khố Nội các và Văn khố Hoàng cung. Năm 1578, do đợt sao chép nhân bản nên số lượng có tăng thêm, mặc dù trải qua nhiều biến cố, ngày nay vẫn còn nhiều bản để có thể bổ sung cho nhau thành một bộ hoàn chỉnh. Dưới đây là 4 bản khá tốt về chất lượng và khá nhiều về số trang:

1. Quán bản 館 本, nay ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, là bản từng lưu trữ ở Quốc lập Bắc Bình đồ thư quán, đây là bản sao từ bản Hồng cách14 紅 格 本, gồm các Thực lục từ Thái Tổ đến Hi Tông (13 bộ), nguyên sao lại từ bản ở Văn khố Nội các. Thời Dân quốc, khi chưa có quy ước của nhóm hiệu khám, các học giả cũng gọi bản này là bản Hồng cách, bản này rộng 17,3 cm, cao 22,2 cm, mỗi trang 12 hàng, mỗi hàng 24 chữ.

Quán bản tuy đủ 13 bộ, nhưng mất nhiều trang, là bản được thống nhất dùng làm bản nền trong công tác hiệu khám.

2. Quảng bản 廣 本, tức “Quảng phương ngôn quán bản 廣 方 言 館 本”, bản này viết trên giấy có kẻ hàng, kích thước 17,3 x 22,2cm, trang 13 hàng, hàng 22 chữ. Gồm các Thực lục từ Thái Tổ đến Quang Tông (12 bộ)

3. Bão bản 抱 本, tức “Bão Kinh lâu bản 抱 經 樓 本”, kích thước 16,2 x 26,5 cm, trang 9 hàng, hàng 20 chữ. Đầu thời Dân quốc, Bão bản từng được cất giữ trong tàng thư tư gia họ Lưu ở Ngô Hưng, Thư viện tỉnh Giang Tô chép lại một bộ. Năm 1940, Lương Hồng Chí 梁 鴻 志lấy Bão bản bổ sung cho Gia bản (xem dưới) và in ảnh ấn Minh Thực lục. Bão bản gồm các Thực lục từ Thái Tổ đến Thần Tông (11 bộ).

4. Gia bản 嘉 本, tức “Gia Nghiệp đường bản 嘉 業 糖 本.” Bản này viết trên giấy viền chỉ tơ hồng, có kẻ hàng, kích thước 15,4 x 21,4cm, trang 10 hàng, hàng 22 chữ. Gia bản có đủ 13 bộ, thiếu một số quyển, cũng ở tàng thư nhà họ Lưu ở Ngô Hưng. Lương Hồng Chí lấy Bão bản bổ túc mấy quyển bị thiếu của Gia bản, in ảnh ấn năm 1942 (xem trên).

Ngoài bốn bản khá dày dặn nêu trên, còn có hơn 10 loại bản viết khác có thể bổ túc riêng cho Thực lục từng triều như: Trung bản/中 本[Quốc lập trung ương đồ thư quán bản], Lễ bản/禮 本[Quốc lập Bắc Bình đồ thư quán tàng Lễ Vương phủ bản] bổ túc thêm cho triều Thái Tổ; Thần bản/晨 本[Thần Phong Các bản] bổ túc triều Nhân Tông; các bản An Lạc đường, Bắc Đại [Bắc Kinh Đại học], Bắc Nhân [Sở nghiên cứu khoa học Nhân văn Bắc Kinh], bản viện Hàn lâm đời Minh bổ túc cho triều Anh Tông; Các bản/閣 本[Thiên Nhất Các bản, Triết Giang] bổ túc cho triều Thế Tông; bản Võ Hán đại học bổ túc cho triều Mục Tông; Chu bản/朱 本 [Nội các đại khố tàng Minh Nội các chu ti lan tinh tả bản/bản son – từ kho lớn Nội các (Thanh), nguyên từ Nội các đời Minh, viết trên giấy có viền chỉ tơ màu son, chữ viết cực đẹp] bổ túc triều Thần Tông…và Khố bản [Nội các đại khố bản] gồm những tờ rời rạc được thu gom lại sau những biến cố, bản này bổ túc cho Thực lục vài triều đại, tuy nhiên đã mất đầu mất đuôi không thành quyển được.

Tóm lại, tình trạng văn bản Minh Thực lục đã phải qua nhiều biến cố, lần nhà Minh mất vào tay nhà Thanh và những biến loạn đầu thời Dân quốc, tuy có nhiều bản mà nằm tản lạc, không nơi nào đủ. Một nỗ lực đầu tiên là của học giả Lương Hồng Chí, ông đã tập họp tương đối khá đầy đủ và cho ra đời bản in chụp vào năm 1940, bản này đã tạo thuận lợi rất nhiều cho phong trào nghiên cứu Minh Thực lục thời kỳ đầu.

Thành quả to lớn của ngành văn bản học riêng trong việc chỉnh lý Minh Thực lục thuộc về tập thể học giả, lần lượt trước sau có thể kể là Phó Tư Niên 傅 斯 年, Lý Tấn Hoa 李 晉 華, Na Liêm Quân那 廉 君, Lý Thi Hi李 詩 熙, Phan Xác 潘 悫, Lý Quang Đào李 光 濤, Vương Sùng Võ王 崇 武, Ngô Tương Tương 吳 相 湘, Diêu Gia Tích 姚 家 積, Hoàng Chương Kiện黃 彰 健, Dương Khánh Chương 楊 慶 章v.v…Họ đã miệt mài trong 30 năm, từ năm 1931 đến năm 1961, để làm công tác hiệu khám, các văn bản được tập họp lại để so sánh đối chiếu, đánh dấu từng chữ nhầm chữ sai, hoặc dư thiếu… của từng trang văn bản. Trên cơ sở lấy Quán bản làm nền, các bản khác giúp xác định những sai lầm, hoặc dựa vào xác suất hoặc dựa vào sự hợp lý, đồng thời tham khảo các nguồn sử khác. Các ghi chép về những chữ sai hoặc dị biệt được đánh số quyển, trang, hàng tương đương với văn bản gốc, rất tiện dụng trong tra cứu, về chi tiết của công việc có thể nêu ba thí dụ:

1/ Trong Thái Tổ Thực lục quyển 47, có một đoạn văn nói về việc Minh Thái Tổ sai sứ sang tế thần sông núi nước Nam, ở trang 5b hàng thứ 6, Quán bản có cụm từ “An Nam chi sơn/Núi ở An Nam” hiệu khám so với Quảng bản và nêu: “trên chữ An có chữ phàm 凡”, tức dòng này trong Quảng bản viết là “ phàm An Nam chi sơn.”

2/ Cũng ở quyển 47, trang 5b, dòng thứ 7, địa danh “Tiên Du” (Quán bản), hiệu khám so thấy Quảng bản viết là “Du Tiên”[sai vẫn ghi nhận].

3/ Thái Tổ Thực lục quyển 128, trang 5a, hàng thứ 4 có câu “Nãi khiển tứ chiếu dụ Vĩ huynh tiền An Nam Trần Thúc Minh” (bèn ban chiếu dụ anh của Vĩ là Trần Thúc Minh [vua] trước của An Nam). Nhóm hiệu khám căn cứ vào 3 bản và nêu: “Quảng bản, Gia bản, Bảo bản viết chữ Tứ là Sứ 使, đúng, Gia bản chữ Huynh viết nhầm thành chữ Cập 及”15.

Các trường hợp nêu trên để thấy việc làm cẩn thận, chi tiết, tinh tế của nhóm hiệu khám. Tuy nhiên việc làm của nhóm hiệu khám chỉ dừng ở sự sai lệch giữa các bản Minh Thực lục hiện có hoặc giữa Minh Thực lục với các sách sử Trung Quốc, nếu mở rộng hiệu khám thêm nữa thì có thể thấy trong thí dụ thứ 3, cả bản nền (Quán bản) và ba bản đối chiếu đều sai ở điểm: Trần Vĩ (nhà Minh gọi Phế Đế Nghiễn là Trần Vĩ) là bác của Trần Thúc Minh (nhà Minh gọi Trần Nghệ Tông là Trần Thúc Minh), không phải là anh như các bản chép. Tuy nhiên vẫn phải thừa nhận việc hiệu khám của các vị này rất nghiêm túc, và toàn bộ Minh Thực lục hiệu khám ký [khoảng 12.500 trang in] ra đời cùng lúc với bản ảnh ấn Minh Thực lục năm 196216 quả là đã đem đến những lợi ích thiết thực cho giới học thuật.


II. 2. B. Dùng Minh Thực lục hiệu đính Minh sử

Minh sử, về thể tài, thuộc kỷ truyện thể đoạn đại sử, tức là sử một giai đoạn (nhà Minh) chép theo lối kỷ, truyện. Về phân loại sử thư, thuộc Chính sử. Chính sử Trung Hoa gồm tập hợp 24 bộ sử các triều đại do sử quan/sử gia đời sau biên soạn về triều đại đã qua. 24 bộ ấy gồm: 1. Sử Ký (Hán, Tư Mã Thiên), 2. Hán Thư (Đông Hán, Ban Cố), 3. Hậu Hán Thư (Tống, Phạm Diệp), 4. Tam Quốc Chí (Tấn, Trần Thọ), 5. Tấn Thư (Đường, Phòng Huyền Linh), 6. Tống Thư (Lương, Thẩm Ước), 7. Nam Tề Thư (Lương, Tiêu Tử Hiển), 8. Lương Thư (Đường, Diêu Tư Liêm), 9. Trần Thư (Đường, Diêu Tư Liêm), 10. Ngụy Thư (Bắc Tề, Ngụy Mục), 11. Bắc Tề Thư (Đường, Lý Bách Dược), 12. Chu Thư (Đường, Lệnh Hồ Đức Phần), 13. Nam Sử (Đường, Lý Diên Thọ), 14. Bắc Sử (Đường, Lý Diên Thọ), 15. Tùy Thư (Đường, Ngụy Trưng …), 16. Cựu Đường Thư (Hậu Tấn, Lưu Hú), 17. Tân Đường Thư (Tống, Âu Dương Tu – Tống Kỳ), 18. Cựu Ngũ Đại Sử (Tống, Tiết Cư Chính), 19. Tân Ngũ Đại Sử (Tống, Âu Dương Tu), 20. Tống Sử (Nguyên, Thoát Thoát), 21. Liêu Sử (Nguyên, Thoát Thoát), 22. Kim Sử (Nguyên, Thoát Thoát), 23. Nguyên Sử (Minh, Tống Liêm), 24. Minh Sử (Thanh, Trương Đình Ngọc)17. Trong 24 bộ sử nêu trên, Minh sử là bộ cuối cùng được biên soạn bởi sử quán của chế độ quân chủ (Thanh), thuận lợi của việc biên soạn Minh sử là tiếp nhận được nguồn tư liệu hoàn chỉnh nhất trong lịch sử sử học Trung Hoa, trong đó gồm văn khố quốc gia, Thực lục các đời vua Minh và cả bản thảo Minh sử cảo của Vạn Tư Đồng (một sử gia tư nhân, sống lúc giao thời Minh–Thanh), và các loại khác. Những thuận lợi đã nêu khiến cho Minh sử trở thành một công trình có nhiều ưu điểm hơn so với các bộ sử trước nó, chỉ riêng trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, tức phần Ngoại quốc truyện, Minh sử đã ghi chép được 92 vương quốc/vùng/lãnh địa, đây là một tiến bộ vượt bậc so với Nguyên sử (ghi nhận 11 nơi) và Tống sử (ghi nhận 34 nơi), những mảng sử lẻ các nơi được miêu thuật góp phần không nhỏ trong việc nhận diện một Đông Nam Á cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XVII. Tuy nhiên, Minh sử vẫn bị hạn chế bởi thể lệ truyền thống trong việc soạn sử và nặng hơn nữa là quan điểm của nhà cầm quyền, việc tuyển chọn sử liệu và cắt xén không thể không xảy ra. Minh Thực lục sẽ giải quyết được nhiều vấn đề mà Minh sử vì nguyên tắc thể lệ và sự ước thúc, kiểm duyệt của Thanh đình mà buộc phải thông qua hoặc lờ đi không nhắc đến hoặc có chép mà không rõ ràng. Với tổng dung lượng hơn hai lần Minh sử18, Minh Thực lục hẳn nhiên là chi tiết cụ thể hơn và mặt khác, vì được viết ngay trong thời Minh nên nó còn có được tính thời sự, một ưu thế mà Minh sử không thể có. Tư liệu trong Minh Thực lục giúp cho các nhà nghiên cứu giai đoạn Minh có thêm cơ sở phân tích và có thể đi đến những kết luận gần với sự thật về nhà Minh hơn là chỉ dựa vào Minh sử vốn đã bị uốn nắn bởi các sử quan triều Thanh. Lý do này làm nảy sinh các công trình mang tính chất rà soát lại Minh sử, tiêu biểu cho các công trình loại này có thể kể Minh bản kỷ hiệu chú của Vương Sùng Võ, Minh sử Nhật Bản truyện chính bổ (1981) của Trịnh Lương Sanh, và Minh sử khảo chứng (1979) của Hoàng Vân Mi黃 雲 眉,…Một điều hữu ích sẽ không khó nhận ra khi độc giả tiếp xúc hai bộ Minh Thực lụcMinh sử, đọc Minh sử để nắm rõ đầu đuôi sự việc và đọc Minh Thực lục để bổ sung tình tiết, thí dụ như trong Minh sử mục viết về An Nam19, trong sự kiện rút quân khỏi An Nam vào năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) có đoạn: “Ban đầu, lúc Hoàng đế mới lên ngôi [1426], cùng Dương Sĩ Kỳ và Dương Vinh nói chuyện An Nam, [đế] có ý muốn bỏ. Đến nay [1427], đem ý ấy bảo với đám bầy tôi, muốn ra lệnh bãi binh cho dân được nghỉ ngơi. Sĩ Kỳ và Vinh hết sức tán trợ, duy có Kiển Nghĩa và Hạ Nguyên Cát cho là không nên. Nhưng ý đế đã quyết, các quan không cãi lại được” [初,帝 嗣 位,與 楊 士 奇,楊 榮 語 交 阯 事,卽 欲 棄 之。至 是,以 表 示 廷 臣,諭 以 罷 兵 息 民 意。士 奇,榮 力 贊 之,惟 蹇 義,夏 原 吉 不 可。然 帝 意 已 決,廷 臣 不 敢 爭。(quyển 321, tr. 8324) ]. Minh sử chỉ chép có vậy, nếu dừng ở đây để bình phẩm, người đọc sử cũng có thể kết luận rằng đây là màn diễn nhằm xoay hướng dư luận, che lấp sự thất bại. Đọc Thực lục, ta sẽ biết thêm sáu bảy văn bản là những tấu biểu của cả hai phe chủ hòa (Dương Sĩ Kỳ) và chủ chiến (Kiển Nghĩa), với những lời lẽ phân tích tình thế, nêu rõ khó khăn, thuận lợi và những lý do buộc phải hành động theo cách của hai phe. Khi liên kết những văn bản thuộc về sự kiện này lại, ta như biết thêm về kịch bản, về hậu trường của vở kịch mà sử quan đời Thanh diễn trong Minh sử, mặt khác có thể nhận định thêm về những hư cấu cao tay của sử quan đời Minh trong Minh Thực lục, và vấn đề này sẽ phân tích ở phần sau.
II. 2. c. Nghiên cứu Minh Thực lục và hệ thống Minh Thực lục theo chủ đề

Từ lúc phổ biến Minh Thực lục, học giả chuyên nghiên cứu sử nhà Minh tiến một bước thật xa so với trước đó, một khuynh hướng dùng các sử liệu loại khác Minh Thực lục hoặc các sự kiện lịch sử có tính tương quan được chép ngắt quãng trong Minh Thực lục để nghiên cứu về sự chân xác của sự kiện, công việc này có thể xếp vào loại nghiên cứu Minh Thực lục, gần giống với việc dùng Minh Thực lục để hiệu đính Minh sử, tuy nhiên ở đây, đối tượng được khảo đính là Minh Thực lục. Vì khó có thể khảo đính toàn bộ Minh Thực lục, các học giả chỉ chọn chuyên đề hoặc một giai đoạn nào đó để nghiên cứu, như Trần Học Lâm陳 學 霖, chọn giai đoạn đầu nhà Minh với Minh Thực lục dữ Minh sơ sử sự nghiên cứu/ 明 實 錄 與 明 初 史 事 研 究(1995), Lê Bang Chính 黎 邦 正và Lê Minh 黎 明với Minh Thực lục đích tu soạn cập sử liệu giá trị bình hỗ/ 明 實 錄 的 修 撰 及 史 料 價 值 評 詁 (1992). Đối với khối tư liệu quá đồ sộ như Minh Thực lục, việc nghiên cứu chúng sẽ rất khó tiến hành nếu không có sự trích lục thành hệ thống chuyên đề, vì vậy lại nảy sinh khuynh hướng tập hợp sử liệu theo lĩnh vực, như dân tộc, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật…hoặc theo vùng địa lý v.v… Năm 1943, Haneda Toru [亨 羽 田] đã làm xong phần liên quan đến Mãn Châu và Mông Cổ trong Thái Tổ Thực lục Thái Tông Thực lục20, và Tamura Jitsuzo [田 村 實 造] đã làm tiếp việc này trong Thực lục của các triều kế tiếp21, rất nhiều những công trình loại này đã được xuất bản mà đỉnh cao là khoảng từ 1990 đến 1995 với 20 quyển Minh Thực lục loại toản, trong đó là từng tập các trích lục thuộc lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, quan hệ ngoại giao, quân sự, luật pháp, tiểu sử và chuyên đề phân vùng địa lý [một số tỉnh thành] và chương trình này vẫn đang tiếp tục. Độc giả quan tâm các thông tin này nên lưu ý thêm phần “Sưu tập các trích dẫn Minh Thực lục” trong bài viết của Tiến sĩ Geoff Wade mà chúng tôi đã dịch toàn bộ và in trong sách này. Bảng thư mục ấy sẽ giúp chúng ta theo dõi tiến trình nghiên cứu và tổng hợp tài liệu của các học giả Trung Quốc và Nhật Bản một cách có hệ thống hơn. [Ngoài các công trình được biên soạn chỉ dựa trên Minh Thực lục, thư mục của Wade còn thu thập các nghiên cứu thuộc dạng có đề cập hoặc có trích dẫn Minh Thực lục cùng với nhiều tư liệu từ nguồn khác như Minh Thực lục phân loại chỉ dẫn/ 明 實 錄 分 類 指 引 (1983–1988) của giáo sư Từ Hoằng thuộc đại học Đài Loan, hay như công trình Minh Thực lục nghiên cứu/明 實 錄 研 究 (2003) của Tạ Quý An, đây là các sách đáng tham khảo để có một cái nhìn khái quát về Minh Thực lục và những vấn đề liên quan đến Minh Thực lục.



III. Sử liệu Đông Nam Á trong Minh Thực lục

Những nhà chép sử Trung Hoa từ rất sớm đã lưu ý đến những nơi ngoài vương quốc của họ, những nơi này được ghi nhận hoặc với tính cách Man Di, hoặc thuộc quốc, hoặc ngoại Phiên v.v…Hãy gác qua một bên vấn đề nội hàm trong ngôn ngữ biểu đạt các danh xưng ấy, bởi vì khi diễn giải đương nhiên phải rơi vào phạm trù triết học lịch sử với các khái niệm Thiên mệnh sử quan, Thánh nhân sử quan hay tư tưởng Đại Nhất thống v.v…vốn đã thâm căn cố đế trong truyền thống thuộc về ý thức hệ của các quân chủ và một bộ phận trí thức Trung Hoa. Nhìn riêng ở góc độ sử liệu, phải thừa nhận rằng, các nước lân cận Trung Hoa đã tiếp nhận được không ít tư liệu quý giá. Riêng trong Chính sử, bắt đầu từ Sử ký và định hình ở Hán thư, các nơi ngoài Trung Hoa như Hung Nô, Triều Tiên, Tây Nam Di, Tây Vực…được ghi chép. Thể lệ Truyện ngoại quốc được duy trì liên tục trong các bộ sử từng triều đại Trung Hoa với nội dung ngày càng tăng, số nơi ngày càng nhiều. Trước nhà Minh tức từ Tần Hán đến Nguyên, nguồn tư liệu ngoài Trung Hoa chủ yếu trong các bộ sử, Thực lục các triều vua Minh được xem là một nguồn mới, chi tiết hơn và chính xác hơn về mặt thời gian so với Minh sử. Vì sự phong phú của nó, năm 1968, giáo sư La Hương Lâm thuộc Đại học Hongkong đã hướng dẫn bốn sinh viên Triệu Lệnh Dương, Trần Học Lâm, Trần Chương và La Văn biên soạn công trình Trích lục sử liệu về Đông Nam Á trong Minh Thực lục, công trình này hoàn thành vào năm 1976. Một số các sưu tập khác từ Minh Thực lục tiếp tục được xuất bản như Sưu tập sử liệu về nước Lào của Cảnh Chấn Quốc (1985), Sưu tập sử liệu về Campuchia của Trần Hiển Tứ (1985), Tâp hợp tư liệu về người Thái của Đao Vĩnh Minh(1989)…Những tập hợp sử liệu này một mặt góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu chung về lịch sử hàng hải, kinh tế, văn hóa trong khu vực Đông Nam Á, mặt khác, các quốc gia riêng lẻ hoặc nhóm sắc tộc, tôn giáo có thể thu thập các tư liệu ấy cho những trang sử của riêng mình. Năm 2001, Đại học Quốc gia Singapore (NUS) tổ chức dịch tất cả các sử liệu Đông Nam Á trong Minh Thực lục sang tiếng Anh. Tập hợp chọn dịch của NUS tuy với mục tiêu là các dữ liệu Đông Nam Á, nhưng hình như công trình này đã mở rộng cho mục đích nghiên cứu về tộc người Thái, tư liệu của hơn 30 lãnh địa của người Thái thời Minh mà nay vẫn thuộc Vân Nam cũng đã được chuyển ngữ chung trong chương trình này. Có hơn 40 quốc gia/nơi/địa phương thuộc Đông Nam Á xác định được qua đối chiếu cách phiên thiết địa danh và mô tả địa lý, thí dụ như Calicut – Thực lục viết là 古 里 (Cổ Lý), Aden – Thực lục viết là 阿 丹 (A Đan), Pangasinan – Thực lục viết là 馮 家 施 蘭 (Phùng Gia Thi Lan)…và hơn 50 địa danh được ghi nhận trong Minh Thực lục không xác định nay là vùng đất nào, hoặc có nhiều giả thuyết phỏng định không đồng nhất về vị trí địa lý, thí dụ như các nơi có tên là Bách Hoa, Bất Lạt Oa, Đạm Ba… Đối với những nơi không hoặc chưa xác định được, NUS dừng lại bằng biện pháp trình bày các giả thuyết hoặc của Mills J. V. G người đã từng chú giải về các nơi Mã Hoan22 ghi nhận trong Doanh nhai thắng lãm (1433), hoặc của Phùng Thừa Quân trong các chú giải Tinh sai thắng lãm (1436) của Phí Tín23, hoặc công trình đối chiếu địa danh khá hoàn bị gần đây của Trần Giai Vinh, Tạ Phương và Lục Tuấn Linh: Chú thích tổng hợp về địa danh cổ đại ở Nam Hải (1986)… Cho dù có những trở ngại chưa giải quyết được đối với sử liệu Minh Thực lục, công trình của NUS vẫn đáng xem là nơi tập hợp tư liệu nguồn khá lý tưởng cho những ai có chủ trương tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử và lịch sử địa lý Đông Nam Á.

Với ý đồ để độc giả Việt Nam tiếp cận tổng quan chương trình và mục tiêu mà NUS hướng đến, chúng tôi giới thiệu trong sách này bản dịch tiếng Việt từ nguyên tác tiếng Anh bài nghiên cứu Minh thục lục, một nguồn sử liệu Đông Nam Á24 của tiến sĩ Geoff Wade, một thành viên của NUS, người đã qua quá trình tiếp cận, nghiên cứu về đề tài này từ những năm 80 của thế kỷ trước25. Trong vài chương đoạn, nghiên cứu của G. Wade có thể xem là luận đề Trung Quốc học, cũng có thể xem là luận đề Việt Nam học, tôi hy vọng độc giả sẽ tìm thấy ở đó những dấu vết và cung âm hấp dẫn của vài mảng khuất trong những thời điểm lịch sử mà Wade gợi lên.



IV. Sử liệu Việt Nam trong Minh Thực lục
IV. 1. Tiền đề

Trong dòng chính sử Trung Hoa thì Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản là ba quốc gia được biên chép nhiều hơn các nơi khác, do có quan hệ sớm, do đồng văn, do tiếp cận địa lý và có lẽ đều là mục tiêu mà Trung Quốc muốn bị ảnh hưởng. Đời Minh mở rộng hơn sự giao thông về phía biển Nam, tức vùng Đông Nam Á ngày nay, khiến cho Việt Nam từ chỗ quan hệ đất liền với Trung Hoa lại thêm phần quan hệ trên biển. Do chồng chất bởi điều kiện lịch sử ấy nên đối với khu vực Đông Nam Á, Việt Nam lại chiếm một số lượng lớn sử liệu trong Minh Thực lục.

Bắt đầu từ năm 1368, là năm Chu Nguyên Chương lên ngôi Hoàng Đế Trung Hoa, sự kiện có liên quan đến Đại Việt và Champa (Chiêm Thành) được ghi chép đến năm 1640 tức gần dứt triều Sùng Trinh (đến năm 1644). Thời gian ấy (1368–1640) Đại Việt trải qua Trần – Hồ, Lê – Mạc, Lê – Trịnh – Nguyễn, cụ thể từ 2 năm cuối triều vua Trần Dụ Tông (1341-1369) cho đến đời vua Lê Chân Tông (1634-1649). Trong khoảng thời gian 272 năm này, các vương triều Champa lui dần về Nam, khoảng những năm cuối cùng triều Sùng Trinh nhà Minh, vài văn bản cho thấy vẫn còn có sự giao thiệp với quốc vương Chiêm Thành, địa bàn của Champa trong giai đoạn này ở khoảng phía nam Đại Lãnh đến Phan Thiết. Như trên là tóm tắt về thời gian và không gian mà tập sử liệu biên dịch từ Minh Thực lục này đề cập đến.
IV. 2. Thời điểm sử dụng tư liệu Minh Thực lục

Tham khảo tư liệu từ Minh Thực lục vào việc biên soạn hoặc nghiên cứu sử Việt Nam, trên thực tế cho thấy khá muộn. Năm 1950, học giả Nhật Bản Yamamoto Tatsuro đã xuất bản An Nam sử nghiên cứu (quyển 1), công trình này thu thập khá nhiều văn bản Minh Thực lục với hình thức sao y nguyên bản. Đến khoảng những năm 1955, 1956, học giả Đào Duy Anh bắt đầu tham khảo An Nam sử nghiên cứu I để bổ sung cho quyển Lịch sử Việt Nam (1955), trong lời tựa cho lần tái bản 1958, Đào Duy Anh viết: “…Trong sự viết lại này, tôi đã nhờ được vài chuyên tác gần đây của các nhà sử học để bổ sung và sửa chữa, đặc biệt là sách Lý Thường Kiệt của ông Hoàng Xuân Hãn và sách Việt Nam lịch sử nghiên cứu I của nhà sử học Nhật Bản Sơn Bản Đạt Lang [Yamamoto Tatsuro]. Đối với tác phẩm sau viết bằng chữ Nhật, tôi rất tiếc chưa thể khai thác nó đầy đủ, song những tài liệu bằng chữ Hán, nhất là tài liệu Trung Quốc do tác giả dẫn dụng đã giúp tôi rất nhiều” (trang 5 – LSVN). Trong lần viết lại này, tư liệu Minh Thực lục đã giúp tác giả bổ sung nhiều sự kiện và tình tiết, số liệu quan trọng thời thuộc Minh và kháng chiến chống Minh. Khoảng mười năm sau, ở các chú thích trong Đại Việt sử ký toàn thư (1967) [Toàn thư] của Đào Duy Anh thỉnh thoảng ta thấy dẫn nguồn Hoàng Minh Thực lục, hoặc những khảo cứu địa lý, địa danh trong Đất nước Việt Nam qua các đời (1964) vẫn được tham khảo gián tiếp từ nguồn Yamamoto Tatsuro26. Tên sách Hoàng Minh Thực lục mà Đào Duy Anh nêu nguồn chính là Minh Thực lục, vài học giả Nhật Bản giai đoạn sớm sử dụng bản in 1942 của Lương Hồng Chí để tiến hành nghiên cứu thường gọi Minh Thực lụcHoàng Minh Thực lục, như ngoài Yamamoto Tatsuro còn thấy Mano Senryu với Hoàng Minh Thực lục tư khảo.



An Nam sử nghiên cứu I chủ yếu nghiên cứu về hai cuộc chiến tranh chống Nguyên và chống Minh của An Nam, các trích lục Minh Thực lục trong đó chỉ nhằm phục vụ cho chủ đề ấy, vì vậy các học giả Việt Nam như Đào Duy Anh và cả sau này chỉ tham khảo được một số văn bản trong phạm vi của thời kỳ thuộc Minh và cuộc chiến chống Minh, ngoài ra, do khảo cứu sâu về các địa danh liên quan đến chiến sự và vấn đề lịch sử địa lý An Nam thời thuộc Minh cũng được Yamamoto Tatsuro lưu ý, nên một số văn bản thời Vĩnh Lạc (Thái Tông Thực lục) về tình hình dựng đặt hành chính cũng được sao lục.

Năm 1976, trong công trình nghiên cứu Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc27, chương III và chương IV của sách này viết về chiến thắng Tốt Động – Chúc Động và chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang, là hai trận đánh lớn mang ý nghĩa quyết định trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhóm tác giả đã sử dụng nhiều tư liệu Minh Thực lục trong An Nam sử nghiên cứu28, những dữ liệu về quân số, về nhân vật tham chiến hoặc những tình tiết thuộc phạm vi nội tình quân Minh… rõ ràng đã làm sinh động hơn trong việc phục dựng lại các chiến trường cách nay đã gần 600 năm. Tuy nhiên nếu như được tham khảo trực tiếp tất cả các văn bản liên quan đến cuộc chiến chống Minh, nhiều chi tiết khá đắt giá khác hẳn đã được khai thác, thí dụ như trong văn bản ngày 26/12 năm Tuyên Đức thứ nhất [23/1/1427], một sắc lệnh của hoàng đế Tuyên Đức điều động quân lực cả hai Kinh Nam, Bắc, các đô ty của 13 hành tỉnh trong toàn quốc, luôn cả Trung đô Lưu thủ ty [Lâm Hào, An Huy] vốn là đội quân bảo vệ lăng…tất cả gom được bảy vạn, giao cho Liễu Thăng và Mộc Thạnh29. Số phận của đạo quân này chúng ta đều đã biết, nhưng đằng sau thông tin của văn bản ấy và một vài văn bản liên quan đã bộc lộc sự mòn mỏi sức dân, sự kiệt quệ kinh tế và cũng cho thấy đó là niềm hy vọng cuối cùng của Minh triều nhằm duy trì sự đô hộ An Nam.

Nhìn chung, trong giai đoạn đầu tham khảo Minh Thực lục gián tiếp từ An Nam sử nghiên cứu, vài sử phẩm của giới sử học Việt Nam đã khai thác những gì có được một cách hữu hiệu, điều này độc giả có thể thấy qua các trang viết về tài chính – kinh tế và hành chính thời thuộc Minh trong Lịch sử Việt Nam (1958) của Đào Duy Anh.

Sau An Nam sử nghiên cứu I, năm 1985 ra đời một nghiên cứu chuyên đề viết về triều đại Hồ Quý Ly, chuyên đề này đã sử dụng khá nhiều tư liệu Minh Thực lục của hai triều Thái Tổ (Hồng Vũ) và Thái Tông (Vĩnh Lạc), Việt Nam, Hồ Quý Ly và triều Minh (1371–1421) của John. K. Whitmone30 [Viện nghiên cứu Châu Á, Đại học Michigan, USA] là một cuốn sử khá hiếm về đề tài và thể loại này, và hình như công trình này được biết đến rất ít ở Việt Nam.

Việc khai thác trực tiếp sử liệu Việt Nam từ Minh Thực lục bắt đầu thấy qua bộ thông sử được biên soạn gần đây của Viện Sử học, trước mắt, trong tập III - Lịch sử Việt Nam, thế kỷ XV–XVI31, lời nói đầu của tập này viết: “Về nguồn sử liệu cổ của Trung Quốc, ngoài các bộ sách như “Minh sử”, “Minh sử kỷ sự bản mạt”…, đã khai thác trực tiếp nhiều tư liệu quý giá về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc thế kỷ XV – XVI, trong bộ “Minh Thực lục” tàng trữ tại thư viện Trung Quốc học ở Matxkva mà Việt Nam không có (với các quyển Minh Thái Tông Thực lục,…, Minh Thần Tông Thực lục).” Về xuất xứ, đây là bản in năm 1942 của Nam Kinh quốc học đồ thư quán (bản Lương Hồng Chí). Giới hạn niên đại của Lịch sử Việt Nam III ứng với 10/13 triều Minh Thực lục, các tư liệu được khai thác rất nhiều, theo ba hướng: một là, tóm tắt ý chính hoặc rút tỉa những số liệu cần thiết; hai là, chọn dịch nguyên văn những văn bản cần thiết và ba là dùng tư liệu từ Minh Thực lục để đối chiếu với các tài liệu khác. Nguồn tư liệu phong phú trong Minh Thực lục đã giúp nhóm tác giả Lịch sử Việt Nam III triển khai việc mở rộng nhiều vấn đề mà Toàn thư hoặc các nguồn tài liệu khác chỉ nhắc đến mà không nói rõ nội dung sự kiện hoặc thậm chí chưa từng đề cập đến, thí dụ như phần viết về “Vấn đề biên giới Việt Nam – Trung Quốc ở thế kỷ XV” (chương V), ở đây ta sẽ thấy những sự kiện được Toàn thư ghi nhận rất nhạt như: “Năm 1442, tháng 10, sai Triệu Thái sang Minh tâu về việc địa phương châu Khâm”, sự kiện được nhắc đến với cách ghi nhận như vậy khá nhiều trong Toàn thư, người đọc đời nay không tài nào hiểu nổi “việc địa phương châu Khâm” là việc gì, đầu đuôi ra sao, chỉ có thể đoán rằng đó là việc khá quan trọng, phải giải quyết ở cấp sứ bộ, những văn bản tường thuật nội dung từ nguyên nhân đến hiện trạng việc này có trong Minh Thực lục phần nào giúp chúng ta hiểu rõ hơn vấn đề chỉ được ghi chép đại khái trong Toàn thư.

Nhóm tác giả Lịch sử Việt Nam III đã nỗ lực khá nhiều trong việc sử dụng các tư liệu mới và qua công trình này có thể thấy được giá trị thực dụng của sử liệu Minh Thực lục. Bên cạnh những thành công đáng kể, Lịch sử Việt Nam III cũng có vài sơ suất – thường khó tránh khỏi đối với loại công trình phải xử lý quá nhiều tư liệu – như trong sự kiện tấn công Lão Qua (Bắc Lào) của vua Lê Thánh Tông, từ chỗ hiểu nhầm Xa Lý32 là 1 thôn dẫn đến lý luận không phù hợp (Lịch sử Việt Nam III, tr. 291,292), thật ra Xa Lý là một ty Tuyên ủy (gần như khu tự trị) thuộc loại diện tích rộng (tương đương một phủ) thống hạt nhiều lãnh địa của những tộc Thái khác, giáp và ở phía bắc Lão Qua. Rất nhiều văn bản trong Minh Thực lục đề cập đến những xung đột trong nội bộ Xa Lý, giữa Xa Lý và các ty Tuyên ủy khác.



Tóm lại, trong phạm vi khảo sát của phần này, với mục đích điểm qua quá trình sử dụng tư liệu Minh Thực lục trong sử Việt, những gì vừa trình bày cho thấy sự tiến triển khá chậm. Bắt đầu từ học giả Đào Duy Anh khoảng năm 1956 đến năm 2007 trong Lịch sử Việt Nam III, lượng tư liệu có quan hệ đến sử Việt trong Minh Thực lục ước chừng chỉ mới sử dụng gần phân nửa.


1 Thinh (): Nơi cất chứa sách. Đời Minh lập Hoàng Sử Thinh 皇 史 宬trong đại nội để lưu trữ ngự bút các vua tiền triều cùng với Thực lục và mật điển. [Khang Hi].

2 Thanh Sử cảo, quyển 146, Nghệ Văn chí 2, Sử bộ, Tạp sử loại, Trung Hoa Thư cục, 2003, tr. 1476, 1477.

3 Tân Sử học, chương 1, “Trung Quốc chi cựu sử học”, Tân Dân tùng báo, số 1, 1902; in lại trong “Trung Quốc hiện đại học thuật kinh điển”,. Lương Khải Siêu quyển, Hà Bắc Giáo dục Xuất bản Xã (xbx), Thạch Gia Trang, 1996.

4 Tiễn Bá Tán, Trung Quốc sử luận tập, “Lược luận Trung Quốc văn hiến học thượng đích sử liệu.”, Quốc tế văn hóa phục vụ xã phát hành, Thượng Hải, 1947.

5 Trịnh Thiên Đĩnh, Ngô Trạch, Dương Chí Cửu chủ biên, Trung Quốc lịch sử đại từ điển, Thượng Hải Từ thư xbx, 2000, tập Hạ, trang 1990; và Hoàng Trác Việt, Tang Tư Phấn chủ biên, Trung Quốc đại thư điển, Trung Quốc thư điếm xuất bản, Hà Bắc, 1994, tr. 201.

6 Môn Khuy chủ biên, Trung Quốc lịch đại văn hiến tinh túy đại điển, Học Uyển xbx. Bắc Kinh 1991, tập Hạ, tr. 2135.

7 Trung Hoa Thư cục, 1977.

8 Quốc xác, Trung Hoa Thư cục, 1958.

9 Minh Sử cảo khởi soạn năm Khang Hi thứ 17 (1678) do Vạn Tư Đồng trực tiếp biên soạn, đến năm 1702 thành sách, cũng năm này Vạn Tư Đồng mất. Các sử quan sau đó như Vương Hồng Tự, Trương Đình Ngọc chỉ gia giảm cải bổ thành bộ Minh sử. Lương Khải Siêu cho rằng Vương Hồng Tự vì ham danh mà trộm sách của Vạn Tư Đồng, rồi sau đó lại bị Trương Đình Ngọc dùng quyền lực đứng tên chủ biên.

10 Đài Loan Thương vụ ấn thư quán, 1986. (in chụp bản Văn Uyên các, Tứ khố toàn thư).

11 Bắc Kinh Đại học xbx, 1993.

12 Xem chú thích 10.

13 Thượng Hải Cổ tịch xbx, 1996 (quyển 100 – 105).

14 Hồng cách là một loại giấy, bản này còn có đặc điểm là có dấu mực son của nhân viên văn phòng Nội các đánh dấu vào những quyển có sự đọc qua của Hoàng đế.

15 Xem thêm v.b [51], tháng chạp năm Hồng Vũ thứ 12 (1-2/1380), Thái Tổ Thực lục, q. 128, tr. 5a-5b.

16 Minh Thực lục bản mới có bổ khuyết (đầy đủ hơn bản của Lương Hồng Chí 1942), xuất bản cùng lúc với công trình Minh Thực lục hiệu khám ký tại Đài Bắc từ 1962 đến 1966. Lần lượt là, Thái Tổ Thực lục 1962, Thái Tông Thực lục, Nhân Tông Thực lục, Tuyên Tông Thực lục 1963, Anh Tông Thực lục, Hiến Tông Thực lục, Hiếu Tông Thực lục 1964, Võ Tông Thực lục, Thế Tông Thực lục 1965 Mục Tông Thực lục, Thần Tông Thực lục, Quang Tông Thực lục, Hy Tông Thực lục 1966.

17 Cũng có một số học giả chủ trương nhập thêm Tân Nguyên sử của Kha Chiêu Vận vào tập hợp này và gọi là Nhị thập ngũ sử (25 bộ sử), lại nhập thêm Thanh sử cảo do Triệu Nhĩ Tốn chủ biên và gọi là Nhị thập lục sử (26 bộ sử). Tuy nhiên 2 bộ này được soạn thời Dân quốc, tức đã qua thời đại quân chủ, mặt khác phương pháp luận Tân sử học đã du nhập vào Trung Hoa, khái niệm/ quan điểm “Chính sử” không còn phù hợp. Hiện có 3 nhóm học giả Trung Quốc theo 3 cách xếp bộ số. Về quan điểm cá nhân, tôi thấy xếp 24 bộ là hợp lý.

18 Minh sử hơn 8.600 trang in, ước 5 triệu chữ; Minh Thực lục ước 11.520.000 chữ.

19 Minh sử quyển 321, Liệt truyện 209, Ngoại quốc 2, An Nam, bản Trung Hoa Thư cục, t. 27, tr. 8.309.

20 Xem “Sưu tập các trích dẫn Minh Thực lục” trong bài nghiên cứu “Minh Thực lục, một nguồn sử liệu Đông Nam Á” của Geoff Wade.

21 Như trên.

22 J.V.G. Mills, Ma Huan Ying-yai Sheng-lan, the overall Survery of the Ocean’s Shores (1434), Cambridge University Press for the Hakluyt Society, 1970. [Mã Hoan là người trong đoàn hải hành với Trịnh Hòa].

23 Tinh sai thắng lãm hiệu chú (Minh, Phí Tín), Phùng Thừa Quân hiệu chú, Thương vụ ấn thư quán, 1936 – Trung Hoa thư cục, 1954. [Phí Tín là người trong đoàn hải hành với Trịnh Hòa].

24 The Ming shi-lu as a source for southeast Asian History.

25 Tiểu biểu như: Po–luo and Borneo: A Re-examination, BMJ, vol.6 (1986); The Ming shi-lu As a Source for Thai History: 14th to 17th century. SOAS, London, 1993; Melaka in Ming Dynasty Texts, Jouranal of the Malaysian Brahch of the Royal Asiatic Society 70, pt-1 (1997).

26 Chương XI: “Những thay đổi về địa lý Hành chính ở thời thuộc Minh” sách Đất Nước Việt Nam qua các đời ta thấy 1 chú thích dẫn nguồn của cụ Đào viết: “sách Hoàng Minh Thực lục là sách do An Nam sử nghiên cứu I của Sơn Bản Đạt Lang dẫn” (xem bản in Thuận Hóa, 1994).

27 Do nhóm tác giả Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí – nxb Quân đội nhân dân , H., 1976.

28 Theo ghi nhận về nguồn tham khảo trong các chú thích ở tr. 195, 236 của nhóm tác giả.

29 Xem thêm ở v.b [731], ngày 26/12 năm Tuyên Đức 1 (23/1/1427), Tuyên Tông Thực lục, q.23, tr.10a-10b, về số quân 7 vạn nêu trên là theo văn bản này.

30 Whitmore. J. K. Vietnam, Ho Quy-ly and the Ming (1371–1421), New Haven, Yale Center for International and Area Studies, 1985.

31 Tạ Ngọc Liễn (chủ biên), Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Đức Nhuệ, Nguyễn Minh Tường, Vũ Duy Mền. Lịch sử Việt Nam thế kỷ XV–XVI, nxb Khoa học xã hội, H., 2007 (sau này sẽ viết là LSVN III).

32 Xa Lý 車 里, thổ ty vùng Vân Nam. Xưa gọi là Sản Lý 產 里, là đất của tộc Nụy Nê 倭 泥, Điêu Đảng 貂 黨. Năm Minh Hồng Vũ thứ 15, Thủ lĩnh họ Đao thần phục, đổi tên gọi là Xa Lý, đặt phủ Quân dân Xa Lý, Họ Đao nối đời làm tri phủ. Năm Vạn Lịch thứ 10 (1582) đổi làm ty Tuyên Úy Xa Lý (Tiểu truyện Xa Lý chép trong Minh Sử, quyển 315, Liệt truyện 203, Vân Nam Thổ ty 3, trang 8156). Vùng này nay một phần thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.




: Upload -> Files -> Documents
Documents -> Thanh thực lục và giá trị SỬ liệu về quan hệ giữa nhà thanh và nhà TÂy sơn pgs. Ts sử học Tạ Ngọc Liễn
Documents -> Sơn Tây dư đồ, Sơn Tây địa chí, Sơn Tây tỉnh chí, Sơn Tây quận huyện khảo, Cầu Đơ tỉnh nhân đinh phong tục tổng sách, Hà Đông toàn tỉnh tổng xã thôn danh sách, Hà Đông tỉnh các phủ huyện tổng xã thôn danh hiệu
Documents -> Tranh dân gian Việt Nam đi triển lãm lưu động
Documents -> Trong vài thập kỷ trở lại đây, nguồn tư liệu địa bạ được nhiều nhà khoa học quan tâm khai thác
Documents -> An Nam phong tục
Documents -> PHẦn thứ nhấT: VĂn học thăng long hà NỘI
Documents -> Điều kiện tự nhiên (Đktn), tài nguyên thiên nhiên (tntn), môi trường sinh thái của Hà Nội khá phong phú và đa dạng




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương