Liên Hiệp Quốc A/hrc/28/66/Ad


D. Vấn đề truy đòi khắc phục pháp lý



tải về 216 Kb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích216 Kb.
1   2   3

D. Vấn đề truy đòi khắc phục pháp lý

        1. Điều 30 của Hiến pháp năm 2013 coi trọng quyền khiếu nại, tố cáo của tất cả mọi người tới các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Thật vậy, việc thi hành có hiệu quả bất kỳ quyền con người nào, bao gồm cả quyền tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng, phần lớn phụ thuộc vào việc có cơ chế truy đòi khắc phục pháp lý phù hợp. Mọi người phải có khả năng truy đòi bằng những công cụ pháp lý mà không bị bắt buộc phải đáp ứng các tiêu chí hay gánh nặng thái quá. Mọi người phải có thể thách thức quyết định của các nhà chức trách nếu họ cảm thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm. Các toà án độc lập nên được giao phó việc đánh giá các khiếu nại theo đúng tất cả các nguyên tắc đảm bảo tiến trình đúng.

        2. Báo cáo viên Đặc biệt đã không gặp bất kỳ trường hợp mà người dân đã thách thức thành công các hành vi bị cáo buộc vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo qua các cơ quan tư pháp. Các thành viên của Toà án nhân dân tối cao đã không biết bất kỳ trường hợp thành công duy nhất nào. Báo cáo viên Đặc biệt nhận thấy điều này rất đáng ngạc nhiên, đặc biệt là trong bối cảnh của một số mâu thuẫn về vấn đề đất đai đã làm ông chú ý. Một số mâu thuẫn trong số đó có vẻ liên quan đến khía cạnh tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng, ví dụ, khi phần đất trước đây được sử dụng làm nghĩa trang tôn giáo hoặc những nơi thờ tự đã bị lấy đi vì mục đích phát triển kinh tế.

        3. Khi thảo luận về các vấn đề truy đòi khắc phục pháp lý, thủ tục hành chính thường được nhắc tới như một khả năng, có nghĩa là, kiến nghị nộp đơn gửi đến cơ quan chức năng, từ cấp địa phương đến các cấp cao hơn của chính quyền. Tuy nhiên, lựa chọn này không thể tính là tương đương với một hệ thống tư pháp độc lập chịu trách nhiệm bảo đảm quyền con người của tất cả mọi người, kể cả trong những tình huống xung đột giữa các cá nhân hoặc các nhóm dân với chính quyền.

        4. Mặc dù Báo cáo viên Đặc biệt nghe nói về một vài trường hợp, trong đó kiến nghị nộp lên các cấp cao hơn, trong đó có Thủ tướng Chính phủ, đã giúp giảm bớt các cuộc xung đột, trong nhiều trường hợp khác, người khiếu nại không thấy bất kỳ phản ứng gì cả. Tuy nhiên trong những trường hợp khác, các cơ quan chức năng cấp cao hơn chỉ chuyển lại những vấn đề đó cho chính quyền địa phương xem xét, có khả năng khiến các trường hợp đó rơi vào tình trạng bị quên lãng. Từ góc độ của pháp quyền, tình hình này còn xa mới được coi là thỏa đáng.

IV. Quyền tự trị của các cộng đồng tôn giáo và tín ngưỡng

A. Thái độ phủ nhận hướng tới các cộng đồng tôn giáo không được công nhận

        1. Các đại diện của Chính phủ nhiều lần nhấn mạnh rằng, trong khi công nhận nhu cầu tinh thần của nhân dân, các tôn giáo phải góp phần củng cố sự đoàn kết của dân tộc như một thể thống nhất, ít nhất bằng cách thúc đẩy các giá trị xã hội. Kỳ vọng này dường như được thực hiện dựa trên giả định rằng giá trị tôn giáo, giá trị công dân và các giá trị vốn có trong chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh8 phần lớn là trùng lặp. Do đó, các cộng đồng tôn giáo được trông mong sẽ đóng một vai trò trong việc giảng dạy, thuyết giáo và duy trì các giá trị như quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh 21, trong đó nói rằng "Chức sắc, nhà tu hành có trách nhiệm thường xuyên giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân và ý thức chấp hành pháp luật.".

        2. Một số tôn giáo hay giáo phái đã trở thành thành viên của Mặt trận Tổ quốc, một tổ chức quần chúng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Một trong những tổ chức tôn giáo lớn nhất trong Mặt trận Tổ quốc là Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đây cũng là tổ chức tôn giáo duy nhất hợp pháp và là đại diện của các nhà sư Phật giáo Việt Nam, các sư nữ và Phật tử ở trong và ngoài nước. Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam cũng phối hợp với Mặt trận Tổ quốc với tư cách là một hiệp hội Công giáo. Ngoài ra còn có các tổ chức tôn giáo khác thuộc Mặt trận Tổ quốc.

        3. Trong các cuộc thảo luận với Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại văn phòng trung ương tại Hà Nội, Báo cáo viên Đặc biệt nhận thấy tổ chức này bao gồm chín trường phái của Phật giáo có nguồn gốc từ truyền thống Đại Thừa vốn chiếm ưu thế ở Việt Nam, cũng như truyền thống Tiểu Thừa, Hòa Hảo và những truyền thống khác. Bằng cách hợp tác trong tinh thần đoàn kết, các trường phái khác nhau của Phật giáo đã có thể duy trì các đặc tính và bản sắc riêng biệt của họ đến một mức độ nhất định, bao gồm cả các di sản ngôn ngữ khác nhau.

        4. Tuy nhiên, trong khi thừa nhận sự đa dạng trong nội bộ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Báo cáo viên Đặc biệt chú ý đến một thái độ khá thô bạo đối với thực hành Phật giáo bên ngoài tổ chức. Một số giáo chức hoạt động trong tổ chức khẳng định họ chưa bao giờ nghe nói về bất kỳ nhóm Phật giáo độc lập nào tại Việt Nam. Những người khác ám chỉ đến "ý kiến riêng" đơn thuần của một số cá nhân bị thúc đẩy bởi tham vọng có vấn đề về mặt đạo đức mà không xứng đáng với sự quan tâm nghiêm túc. Việc gán ghép những lợi ích "ích kỷ" tầm thường như "tham vọng cá nhân", "tham lam" hay "lợi ích vật chất" đến từ các nhà tài trợ nước ngoài, cho những người thực hành Phật giáo hay các tôn giáo khác bên ngoài các kênh chính thức là vấn đề thường xuyên được nêu lên trong những cuộc thảo luận.

        5. Trong bối cảnh này, Báo cáo viên Đặc biệt yêu cầu các quan chức nhiều lần liệu ít nhất họ có thể tưởng tượng được rằng việc nhất định cần đời sống cộng đồng tôn giáo độc lập cũng có thể bắt nguồn từ những động cơ đáng kể hơn, mà BCV không bao giờ nhận được một câu trả lời tích cực rõ ràng. Thái độ tiêu cực dai dẳng này đối với các cộng đồng tôn giáo độc lập trùng với lời viện dẫn thường xuyên của "lợi ích số đông" đã được giả định rằng nên đặt trên các quyền và lợi ích của thiểu số hoặc cá nhân bất đồng.

        6. Báo cáo viên Đặc biệt muốn nhấn mạnh trong bối cảnh này là tự do tôn giáo hay tín ngưỡng không chỉ là một vấn đề thiểu số9. Là một quyền con người, tự do tôn giáo tín ngưỡng là của tất cả mọi người, bất kể họ theo một tôn giáo đa số hoặc thuộc về một cộng đồng thiểu số hoặc không theo cộng đồng tôn giáo nào cả. Tuy nhiên, việc đối xử với người thiểu số như thế nào đáng nhận được sự quan tâm đặc biệt, bởi vì đó thường là chỉ báo về cái tổng thể: xu hướng khoan dung hoặc ít khoan dung hơn trong bầu không khí chung của một xã hội. Điều này cũng đúng đối với các cá nhân bất đồng tôn giáo, đó là, các cá nhân đó là những người ở các vị trí không cùng dòng với các cộng đồng và các tổ chức chính thống. Nơi các cộng đồng thiểu số có thể hoạt động tự do và độc lập, nơi mà những người bất đồng ý kiến có thể lên tiếng mà không sợ hãi, các thành viên của một nhóm lớn cũng có nhiều không gian hơn để thực hành tôn giáo của họ theo cách mà họ thấy phù hợp.

        7. Hơn nữa, tôn trọng quan điểm của cá nhân, bao gồm cả các quan điểm bất đồng, tạo điều kiện cho dòng ý tưởng trong một xã hội nói chung chảy tự do , do đó cũng làm phong phú thêm sự tương tác của con người trong số đông. Tuy nhiên, Báo cáo viên Đặc biệt chú ý rằng, trong một số cuộc thảo luận, "lợi ích đa số" được viện dẫn với ý định rõ ràng để bác bỏ ý kiến của các nhóm thiểu số hoặc cá nhân bất đồng với lý lẽ là những ý kiến đó không thích hợp hoặc thậm chí coi là có vấn đề về đạo đức và từ đó bất hợp thức hóa những ý kiến đó. Đây cũng là trường hợp trong các cuộc thảo luận liên quan đến các cộng đồng tôn giáo độc lập, chẳng hạn như Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, một số nhóm Phật giáo dân tộc thiểu số (một số người tự nhận mình là Phật tử "Khmer Krom"), các nhóm Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành độc lập, Dương Văn Mình, và Pháp Luân Công.

        8. Trong cuộc gặp với các đại diện của các cộng đồng Phật giáo độc lập, Báo cáo viên Đặc biệt đã nghe những khiếu nại về những cuộc đàn áp nặng nề liên tiếp đã ngăn cản các cá nhân thực hiện quyền tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng ngay cả ở cách thức tối thiểu. Quan điểm chung là bất hợp pháp hóa thực hành tôn giáo không chính thức, mà BCV gặp trong nhiều cuộc hội thoại, chỉ rõ rằng các cộng đồng Phật giáo độc lập hiện nay không thể thực hiện quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. Hơn nữa, một số tu sĩ Phật giáo tự nhận mình là người Khmer Krom đã bày tỏ mong muốn có quyền tự chủ nhiều hơn không chỉ trong phạm vi Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà còn bên ngoài phạm vi tổ chức bảo trợ Phật giáo chính thức. Tình hình của các cộng đồng độc lập của Phật giáo Hòa Hảo cũng gặp những khó khăn tương tự.

        9. Một tôn giáo hầu như không được biết đến bên ngoài Việt Nam là đạo Cao Đài, kết hợp truyền thống của Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo và Thiên Chúa giáo với một số giáo lý mới. Như trong trường hợp của Phật giáo, các tín đồ Cao Đài bao gồm những người thuộc về Hội thánh Cao Đài do Chính phủ thiết lập, và những người nhất địnhthực hành tôn giáo của họ một cách độc lập. Mối quan hệ giữa hai nhóm có vẻ căng thẳng. Trong khi tổ chức được công nhận chính thức của Cao Đài cáo buộc những nhóm bất đồng ý kiến có "tư tưởng chia rẽ" và tạo "sự hỗn loạn" trong nhân dân, các tín đồ Cao Đài độc lập thấy tính nguyên bản trongtruyền thống của họ bị đe dọa bởi sự can thiệp của Chính phủ mà theo họ cáo buộc, đã dẫn tới áp đặt một số thay đổi với đạo Cao Đài.

        10. Trong khi Báo cáo viên Đặc biệt không ở vị tríđánh giá những chi tiết thần học của cuộc mâu thuẫn này, ông trông đợi rằng Chính phủ đảm bảo hoạt động tự do của các cộng đồng Cao Đài độc lập và tạo điều kiện cho họ phát triển theo cách mà bản thân họ thấy phù hợp. Tình hình hiện tại của các nhóm Cao Đài độc lập chắc chắn là không phù hợp với quyền tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng, kể từ khi các cộng đồng thiếu cơ sở vật chất thích hợp cho việc thờ phụng và giảng dạy và được cho là phải đối mặt với áp lực để tham gia các tổ chức chính thức.

B. Giáo dục và đào tạo tôn giáo

        1. Điều 19 và Điều 20 của Luật Giáo dục năm 2005 nghiêm cấm việc rao giảng của tôn giáo trong các trường học và các cơ sở giáo dục khác ở Việt Nam. Luật vẫn khuyến khích "thuần phong mỹ tục" của những tín ngưỡng và lễ hội trong khi cảnh báo chống lại "mê tín" hoặc những tín ngưỡng và thực hành được coi là hủ tục.

        2. Trong khi đó, số lượng các cơ sở đào tạo cho các giáo chức của các tôn giáo khác nhau đã tăng lên đáng kể trong những thập kỷ gần đây. Theo thông tin Chính phủ cung cấp, có 46 cơ sở đào tạo tôn giáo trong nước. Trong khi các cộng đồng tôn giáo quyết định các phần chính của chương trình giảng dạy, chẳng hạn như việc giảng dạy học thuyết thần học, thực hành và các nghi lễ và lịch sử của cộng đồng, các chương trình đào tạo cũng bao gồm các khóa học bắt buộc về lịch sử và pháp luật của Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định và giám sát, theo yêu cầu của điều 14 và 15 của Nghị định 92. Báo cáo viên đặc biệt cũng được biết rằng Chủ nghĩa Mác Lê-nin cũng là một phần của chương trình giảng dạy bắt buộc đó.

        3. Ngoài các cơ sở đào tạo, các trường (phổ thông) của tôn giáo hay giáo phái không tồn tại ở Việt Nam. Tuy nhiên, Giáo Hội Công Giáo điều hành một số nhà trẻ, dường như thường liên quan đến một tu viện. Những nhà trẻ này nhận trông trẻ từ tôn giáo khác ngoài Công giáo. Một số tổ chức tôn giáo đã bày tỏ mong muốn của họ để thành lập các trường ở cấp học cao hơn, việc mà hiện nay đang rất khó khăn và đòi hỏi phải đàm phán lâu dài với Chính phủ.

C. Bổ nhiệm giáo chức

        1. Theo Chính phủ, các cộng đồng tôn giáo có thể bổ nhiệm và phong chức linh mục của mình phù hợp với các quy định và luật nội bộ của họ. Họ cho biết nói chung không cần sự chấp thuận cho các quyết định của họ từ các cơ quan chức năng. Tuy nhiên, các cộng đồng được yêu cầu phải đăng ký giáo sĩ, tu sĩ và thông báo cho các cơ quan chức năng. Điều 22 của Pháp lệnh 21 yêu cầu những người được chỉ định là công dân Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt và tinh thần đoàn kết và sự hòa hợp dân tộc. Những yêu cầu mơ hồ như vậy dường như không cân xứng và việc can thiệp vào công việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo không phải là vai trò của Nhà nước. Liên quan đến bãi nhiệm một giáo sĩ hay tu sĩ, điều hiếm khi xảy ra, các quyết định thường được thực hiện bởi các cộng đồng tôn giáo, phù hợp với luật lệ tôn giáo của họ. Tuy nhiên, Báo cáo viên Đặc biệt cũng đã gặp cáo buộc về sự can thiệp của Chính phủ trong một số trường hợp các nhà sư buộc phải hoàn tục. Mặc dù ông đã không thể tập hợp được các chi tiết cần thiết để đánh giá rõ ràng mỗi trường hợp riêng lẻ, ông tin rằng những lựa chọn rất hạn chế để có sự tự trị trong đời sống cộng đồng tôn giáo chắc chắn dẫn đến ảnh hưởng về cấu trúc, đó là, tình huống mà trong đó bổ nhiệm hoặc thải hồi trong thực tế bị ảnh hưởng phần lớn bởi lợi ích của Chính phủ. Tuy nhiên, điều 6 (g) của Tuyên bố Liên hiệp quốc về Xóa bỏ mọi Hình thức Không khoan dung và Phân biệt đối xử dựa trên cơ sở Tôn giáo hay tín ngưỡng10 (năm 1981) đảm bảo một cách rõ ràng sự tự do để "đào tạo, bổ nhiệm, bầu hoặc chỉ định bởi các nhà lãnh đạo thừa kế thích hợp theo những yêu cầu và tiêu chuẩn của bất cứ tôn giáo hoặc tín ngưỡng nào ".

        2. Tình hình Giáo hội Công giáo chứng tỏ một số chức năng đặc biệt kể từ khi việc phong chức giám mục được thực hiện bởi Tòa Thánh, đó là một cơ quan "nước ngoài" có trụ sở bên ngoài của Việt Nam. Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam tự coi là một phần của Giáo Hội thế giới. Trong bối cảnh này, việc bổ nhiệm và phong chức giám mục đã dẫn đến một số tranh cãi. Mặc dù Việt Nam và Tòa Thánh không duy trì quan hệ ngoại giao chính thức, mối quan hệ của họ đã được cải thiện nhiều trong những năm gần đây, và đoàn đại biểu cấp cao đã gặp nhau nhiều lần, trong đó có một cuộc gặp gỡ giữa Đức Giáo Hoàng và Thủ tướng Chính phủ vào tháng Mười năm 2014. Trong khi chính phủ tiếp tục khẳng định một quyền phủ quyết trong việc phong chức giám mục, được biết là các giải pháp thực dụng có thể được thương lượng.

D. Vấn đề tài sản và đất đai

        1. Trong chuyến thăm này, nhiều vấn đề về tài sản đã được Báo cáo viên Đặc biệt chú ý, không chỉ bởi các thành viên của những cộng đồng không được công nhận, mà còn bởi các đại diện của các cộng đồng được chính thức công nhận và các thành viên của Mặt trận Tổ quốc. Nhiều khiếu nại về tài sản liên quan đến bất động sản và / hoặc đất. Vì lợi ích của sự phát triển kinh tế và các dự án hiện đại hóa khác, một số các cộng đồng tôn giáo đã bị mất hoặc có nguy cơ mất phần lớn đất đai của họ, cùng với những nơi thờ tự có giá trị lịch sử11. Báo cáo viên Đặc biệt nghe nhiều yêu cầu từ các cộng đồng tôn giáo, trong đó có một số đã được công nhận, để lấy lại tài sản và đất đai để được hoạt động đầy đủ.

        2. Các tranh chấp về tài sản yêu cầu thông tin chính xác trên những chi tiết phức tạp; do đó các Báo cáo viên Đặc biệt chỉ giới hạn ở một vài nhận xét chung. Có bất động sản và đất đai là một trong những điều kiện tiên quyết cơ bản cho cuộc sống cộng đồng tôn giáo. Quyền sở hữu được xác lập rõ ràng và vững chắc càng trở thành một yếu tố quan trọng xác nhận tình trạng tự chủ hoặc thiếu tự chủ của các cộng đồng tôn giáo. Thực tế là, ở Việt Nam, tất cả đất đai nằm dưới sự quản lý của Nhà nước và không ai có thể sở hữu bất kỳ một mảnh đất nào đã tạo thêm một yếu tố bổ sung cho tình trạng không an toàn về mặt pháp lý cho cộng đồng, bao gồm các cộng đồng đăng ký chính thức, vì nhà nước có thể lấy lại đất bất cứ khi nào họ có cơ hội. Hơn nữa, một số cộng đồng, chẳng hạn như người Chăm, những người tự xưng là sự kết hợp của Ấn Độ giáo và Hồi giáo, có sự gắn kết chặt chẽ về văn hóa hay tôn giáo đối với mỗi mảnh đất cụ thể, ví dụ như với nơi chôn cất của tổ tiên họ.

        3. Các đại diện Chính phủ cởi mở thừa nhận rằng tranh chấp đất đai đã tồn tại ở Việt Nam, cũng như ở nhiều nước khác. Đồng thời, họ đặt câu hỏi liệu những mâu thuẫn này có thể có ảnh hưởng đến tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. Tuy nhiên, ít nhất là trong một số trường hợp, nhu cầu tôn giáo rõ ràng đã đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề đất đai. Ví dụ, các đại diện của các nhóm Tin Lành nói về trường hợp ở các vùng nông thôn, các giáo xứ Tin Lành khác nhau đã được sáp nhập với mục đích "quản lý dễ dàng hơn". Được biết, việc sáp nhập này không phải luôn luôn được xử lý với sự tôn trọng những đặc điểm riêng biệt của các giáo phái Tin Lành khác nhau và nhu cầu tôn giáo của các giáo dân ở những địa điểm khác nhau. Lợi thế về quản lý và lợi ích trong việc sử dụng đất cho các mục đích kinh tế khác nhau thường có vẻ được coi trọng hơn quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng của người dân.

        4. Mâu thuẫn về vấn đề đất đai luôn đòi hỏi được giải quyết một cách tinh tế để đưa ra các giải pháp chấp nhận được cho tất cả các bên quan tâm. Chính phủ nhấn mạnh rằng họ đã cung cấp đất được miễn thuế cho các cộng đồng tôn giáo sử dụng. Tuy nhiên, việc thiếu truy đòi khắc phục pháp lý đã được đề cập ở trên, đặc biệt trong ngành tư pháp, có sự liên quan mạnh mẽ đến tình hình của đất đai và các vấn đề tài sản khác có liên quan đến các cộng đồng tôn giáo. Trong cuộc trò chuyện với đại diện của các cộng đồng tôn giáo khác nhau, một lần nữa bao gồm các cộng đồng có hợp tác với Chính phủ trong Mặt trận Tổ quốc, Báo cáo viên Đặc biệt chú ý đến sự thất vọng cao độ với các thủ tục pháp lý không hiệu quả. Kết quả là, một số các cộng đồng tôn giáo cảm thấy phần lớn họ bị phó mặc cho thiện chí của chính quyền địa phương.

V. Thực hành tôn giáo trong những hoàn cảnh đặc biệt

A. Tù nhân

        1. Như đã đề cập ở trên, Điều 24 của Hiến pháp 2013 đề cập đến tất cả mọi người chứ không phải chỉ có công dân. Điều này sẽ bao gồm các tù nhân là những người ngay cả khitạm thời bị mất quyền đầy đủ của công dân, cũng vẫn có quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng là một quyền phổ quát của nhân loại vốn có của tất cả mọi người. Khi thảo luận về vấn đề này, Báo cáo viên Đặc biệt đã nhận được thông tin mâu thuẫn. Các cơ quan Chính phủ thường nhấn mạnh rằng tù nhân có thể thực hành tôn giáo của họ trong giới hạn của nhà tù với điều kiện điều này không ảnh hưởng tiêu cực đến các tù nhân khác và các hoạt động chung của cuộc sống tù.

        2. Ngược lại, một số người có kiến thức và trải qua cuộc sống trong tù cáo buộc rằng các hoạt động tôn giáo hầu như không có chỗ ở trong các nhà tù và rằng ngay cả việc tiếp nhận và sở hữu các sách tôn giáo hoặc các tài liệu thông thường sẽ bị cấm. Khi được hỏi về vấn đề này, một đại diện cấp cao của Ủy ban Chính phủ về vấn đề tôn giáo nói vớiBáo cáo viên Đặc biệt là quyền tự do của tù nhân tôn giáo hay tín ngưỡng cần được tôn trọng, trong khi thừa nhận rằng Ủy ban cho đến nay đã không đưa ra bất kỳ hướng dẫn để quản lý nhà tù để đảm bảo và bảo vệ có hiệu quả quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng cho tù nhân.

        3. Các tổ chức của giáo sĩ tuyên úy trong nhà tù, đó là, giáo sĩ của các tôn giáo khác nhau, những người phục vụ cho các nhu cầu tinh thần của tù nhân, theo yêu cầu của họ, không tồn tại ở Việt Nam. Tuy nhiên, đại diện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã giải thích sẽ họ sẽ tăng cường cung cấp dịch vụ trong các nhà tù, trong đó có các bài giảng về giáo huấn xã hội và đạo đức cho các tù nhân. Những linh mục Công giáo cũng vậy, dường như có đôi khi được cung cấp các dịch vụ tôn giáo cho tù nhân. Mục sư Tin Lành cùng với người mà Báo cáo viên Đặc biệt thảo luận về vấn đề này cho biết họ không nhận thấy bất kỳ sự hỗ trợ tinh thần cho tù nhân theo đạo Tin Lành.

B. Quân nhân

        1. Quân đội Việt Nam không có một hệ thống tuyên úy quân đội thường xuyên phục vụ cho các nhu cầu tôn giáo hay tâm linh của những người lính. Tương tự như tình hình trong các nhà tù, tuy nhiên, Giáo hội Phật giáo Việt Nam dường như đã trở nên ngày càng quan tâm. Báo cáo viên Đặc biệt được nghe rằng các nhà sư Phật giáo cầu nguyện cho những người lính phục vụ đất nước trong điều kiện khó khăn và phức tạp. Họ cũng có thể dạy kĩ thuật thiền định để hỗ trợbinh lính khi đối mặt với các những nhiệm vụ và điều kiện sống khó khăn của họ.

        2. Quyền từ chối nhập ngũ vì lương tâm thấy không đúng để phục vụ nghĩa vụ quân sự không được biết đến ở Việt Nam, và không có phương án lựa chọn một dịch vụ dân sự thay thế cho những cá nhân phản đối dùng vũ khí vì lý do lương tâm. Điều này đi ngược lại các quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo hay tín ngưỡng, trong đó cung cấp sự bảo vệ, phù hợp với Điều 18, khoản 3 của Công ước Quốc tế, chống lại bị buộc phải hành động trái với niềm tin xác thực về tín ngưỡng tôn giáo hay đạo đức12.

VI. Báo cáo về vi phạm quyền tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng

        1. Báo cáo viên Đặc biệt đã nhận được những cáo buộc nghiêm trọng liên quan đến hành vi vi phạm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Những vi phạm đó thường do chính quyền địa phương ở cấp huyện, xã và cấp tỉnh và các quan chức an ninh công cộng gây ra, bao gồm cả những người thuộc đơn vị 41 / PA 38, người được giao nhiệm vụ giám sát các vấn đề xã hội và "phát hiện người vi phạm tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng" . Một số các cuộc tấn công đặc biệt có bản chất bạo lực và liên tiếp chống lại những người vô tội và không có vũ khí, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em.

        2. Những giáo sĩ, tu sĩ nam nữ Phật Giáo hàng đầu của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã phải chịu sự giám sát, " những buổi làm việc" với an ninh (thẩm vấn), bắt bớ và giam giữ tùy tiện, chịu sự quản chế và án tù dài hạn13. Các tín đồ đã bị cấm vào các chùa, bị ép buộc phải ký một tuyên bố rằng họ sẽ không tham gia tổ chức hoặc bị đe dọa mất việc làm. Hơn nữa, các cơ quan có liên quan đã ban hành tuyên truyền chống lại tổ chức đó. Các cơ sở giáo dục và y tế và nơi thờ phượng thuộc các cộng đồng này đã bị tịch thu.

        3. Các cộng đồng độc lập của Phật giáo Hòa Hảo, những người đã tham gia vào các hình thức phản đối ôn hòa, như tuyệt thực, đã bị trừng phạt nghiêm khắc, bao gồm những án tù dài hạn được lặp lại14 . Theo tường thuật, nhân viên an ninh và côn đồ được thuê đã không ngần ngại sử dụng vũ lực quá mức trong những vụ bắt giữ hoặc các cuộc tấn công các cộng đồng vì họ tổ chức các cuộc tụ họp để cầu nguyện tại những "giáo đường bất hợp pháp" đã được xây dựng cho mục đích tôn giáo của các giáo đoàn.

        4. Một số Phật tử "Khmer Krom" đã phải đối mặt với những khó khăn tương tự trong việc cho phép tổ chức cầu nguyện, đám tang hoặc cải tạo những ngôi đền của họ, mặc dù họ đã được công nhận bởi Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nó cũng đã được báo cáo rằng họ đã bị phân biệt đối xử một cách có hệ thống và nhiều người đã không được phép để nghiên cứu hoặc giảng dạy bằng ngôn ngữ bản địa của họ. Mọi khía cạnh của đời sống tôn giáo của họ được điều chỉnh và các nhà sư sẽ có nguy cơ bị lột quần áo nếu có liên hệ với nước ngoài.

        5. Không có bất kỳ hoạt động thực hành tôn giáo Cao Đài độc lập nào được cho phép, và chính tôn giáo đó bị coi là bất hợp pháp. Những tín đồ của đạo Cao Đài gặp khó khăn thậm chí trong việc hành đạo ở nhà. Giống như các cộng đồng độc lập khác, họ đã bị gây áp lực, bị sách nhiễu và tấn công về thể xác. Những nghi lễ của họ, bao gồm cả đám tang, đã thường xuyên bị theo dõi và gây hỗn loạn. Hơn nữa, họ luôn lo sợ mất việc làm và bị phân biệt đối xử trong các thủ tục hành chính. Một số con cái của họ cũng đã phải đối mặt với khó khăn ở trường.

        6. Báo cáo viên Đặc biệt cũng đã nghe nói về cuộc đàn áp khắc nghiệt tín đồ của những nhà thờ "người Thượng", chẳng hạn như dân tộc thiểu số Êđê. Hàng trăm nhà thờ dân tộc thiểu số trong khu vực Tây Nguyên đã bị buộc phải đóng cửa và mục sư của họ bị bắt và tống giam. Hàng ngàn người đã bị buộc phải bỏ trốn hoặc đi trốn sau khi các cuộc biểu tình kêu gọi quyền đất đai và tự do tôn giáo. Những người bỏ chạy sang các nước láng giềng phải đối mặt với nhiều trở ngại và tiếp tục lo sợ cho cuộc sống của họ. Cũng theo báo cáo, trong năm 2000, Chính phủ đã ban hành văn bản hướng dẫn các quan chức địa phương được giám sát bởi Ban Chỉ đạo để ngăn chặn sự lan truyền của đạo Tin Lành.

        7. Theo thông tin nhận được, mặc dù một số người Tin Lành Hmong đã được phép đăng ký với Chính phủ để tiến hành các hoạt động tôn giáo, họ tiếp tục bị sách nhiễu và vu khống. Theo cáo buộc, các nhà chức trách đã tìm cớ để bắt giữ họ, đánh họ nặng nề trong trại giam và buộc họ phải công khai từ bỏ đạo. Thậm chí đã có một trường hợp được bị chết trong đồn công an. Trong một số làng, các quy tắc đã được tạo ra để trừng phạt người theo đạo bằng cách đuổi ra khỏi làng. Họ cũng không được phép sở hữu kinh bổn trong ngôn ngữ mẹ đẻ Hmong của họ hay sử dụng ngôn ngữ địa phương để tiến hành các hoạt động tôn giáo.

        8. Những người Hmong theo đức tin Dương Văn Mình cũng đã bị bắt giữ tùy tiện và bỏ tù, đánh đập, tra tấn, giám sát liên tục, và bị gây áp lực để từ bỏ đức tin của họ. Những người đã từ chối làm như vậy phải đối mặt với mất việc làm và chính sách hỗ trợ vớiđồng bào dân tộc thiểu số. Được biết, 24 nhà chứa đồ tang lễ của họ đã bị phá hủy vì bị cho là "bất hợp pháp" vì không có giấy phép, bao gồm cả vụ phá nhà gần đây nhất vào tháng Mười năm 2014, sau chuyến thăm của Báo cáo viên Đặc biệt. Chính phủ cũng đã bị cáo buộc tuyên truyền chống lại cộng đồng này thông qua các phương tiện truyền thông và công báo nội bộ của Chính phủ.

        9. Những cộng đồng người Chăm đang đối mặt với nguy cơ mất đất đai của họ, đặc biệt là nghĩa trang tổ tiên thiêng liêng của họ đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các dự án phát triển mới, trong đó có công trình xây dựng đường, đã không tham khảo ý kiến với các cộng đồng hoặc tôn trọng nhu cầu của cộng đồng để di dời các ngôi mộ bằng cách tiến hành các nghi lễ truyền thống thích hợp. Cũng theo báo cáo, do sự kháng cự của cộng đồng để di dời các nghĩa trang, người ta tố cáo rằng tất cả các nhà thờ Hồi giáo đã bị khóa trong tháng chay Ramadan và chỉ có thể được tiếp cận nếu họ đồng ý với kế hoạch tái định cư. Một số đền tháp của người Chăm đã được biến thành các điểm tham quan du lịch, được coi là hoàn toàn không phù hợp bởi cộng đồng vì những nơi thờ phụng linh thiêng thường nên được giữ đóng cửa. Họ cũng đã thất bại trong việc đăng ký dù đã nỗ lực rất nhiều.

        10. Báo cáo viên Đặc biệt đã nghe nhiều báo cáo về các vụ bắt giữ hoặc giam giữ ở nhà tùy tiện và bắt giữ định kỳ, trong đó có một số án tù dài không tương xứng với các cá nhân có nguồn gốc tôn giáo hay tín ngưỡng khác nhau vì sự vận động và các hoạt động cho quyền tự do tôn giáo của họ. Thông thường, họ bị buộc tội theo Điều 258 của Bộ luật Hình sự với "lợi dụng dân chủ", "tham gia phong trào ly khai" hay "xuyên tạc tình hình và chỉ trích Chính phủ", chỉ đơn giản là để thực hiện các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do quan điểm và biểu đạt và tự do hội họp và lập hội một cách ôn hòa. Báo cáo viên Đặc biệt đã gặp linh mục Nguyễn Văn Lý tại nhà tù Hà Nam, người mà ông không nghi ngờ gì công nhận là một tù nhân lương tâm hay tù nhân chính trị.15 Thất vọng thay, Cha Lý có thể là một trong rất nhiều tù nhân hoặc tù nhân lương tâm đang tồn tại ở Việt Nam.

        11. Các cá nhân khác, ví dụ, các thành viên của Giáo Hội Tin Lành Mennonite, cũng đã phải chịu đựng các cuộc bố ráp thô bạo của cảnh sát; những lời mời "làm việc" liên tục với an ninh; tra tấn trong trại giam; áp lực lên các thành viên trong gia đình, đặc biệt là những người tị nạn do bị đàn áp tôn giáo; hành vi phá hoại và phá hủy nơi thờ tự, nghĩa trang và nhà kho tang lễ và nhà cửa; tịch thu tài sản; và gây áp lực một cách có hệ thống để ép buộc từ bỏ các hoạt động tôn giáo nhất định và tố cáo tôn giáo hay tín ngưỡng của họ. Vì áp lực và đàn áp, một số người đã rời bỏ hoặc trốn khỏi đất nước vì lý do tôn giáo. Báo cáo viên Đặc biệt cũng muốn nhấn mạnh rằng việc phải đăng ký chính thức với Chính phủ không đảm bảo tôn trọng đầy đủ tự do tôn giáo tín ngưỡng.

        12. Mục đích của chuyến thăm đất nước của các Báo cáo viên Đặc biệt không phải để đánh giá toàn diện về các trường hợp cá biệt như thế này vì nó sẽ đòi hỏi nhiều hơn các thông tin để có được bức tranh đầy đủ về các sự kiện từ quan điểm của tất cả các bên liên quan. Thay vào đó, mục đích là để đánh giá độ tin cậy chung của những cáo buộc khác nhau liên quan đến vấn đề nhân quyền và xác định những thách thức lớn. Không hề có định kiến về tính chính xác của tất cả các sự kiện cụ thể của tất cả các trường hợp cá nhân được chuyển tới báo cáo viên, , Báo cáo viên Đặc biệt là tin rằng những vi phạm nghiêm trọng các quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng là một thực tế ở Việt Nam, đặc biệt, nhưng không phải là duy nhất, ở khu vực nông thôn.

        13. Đánh giá chung này được thực hiện trên cơ sở không chỉ các cuộc phỏng vấn và các tài liệu được cung cấp bởi những người bảo vệ nhân quyền và các thành viên của các cộng đồng tôn giáo khác nhau, nhưng cũng là những quan sát được thực hiện trong chuyến thăm đất nước, bao gồm:

          • Thái độ tiêu cực, thô bạo, đối với các quyền của người thiểu số và cá nhân thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng không đăng ký.

          • Những lời viện dẫn thường xuyên của những "lợi ích đa số" không rõ ràng hay lợi ích của "đoàn kết và hòa hợp dân tộc" hay "trật tự công cộng".

          • Những quy định quá rộng của các giới hạn quyền con người nói chung, do đó hạn chế quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo trong tất cả các khía cạnh của quyền này.

          • Sự diễn đạt mơ hồ trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, đặc biệt là điều luật 258 liên quan đến việc "lạm dụng" các quyền tự do dân chủ.

          • Sự thiếu vắng cơ chế truy đòi khắc phục pháp lý đủ hiệu quả và dễ tiếp cận trong ngành tư pháp

        14. Những điều kiện này tạo ra một lỗ hổng cấu trúc dễ gây tổn thương cho một số cá nhân và cộng đồng, thực sự phù hợp với báo cáo về các hành vi vi phạm cụ thể được mô tả ở trên.

        15. Báo cáo viên Đặc biệt muốn nhấn mạnh trong bối cảnh này, trong nhiều cuộc thảo luận với các thành viên của các cộng đồng tôn giáo, một số trong đó được đăng ký chính thức với chính quyền và tham gia Mặt trận Tổ quốc, các thành viên đó nói chung đều nhận biết các hạn chế liên tục về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng và những thách thức từ đó. Thật đáng ngạc nhiên là các thành viên hàng đầu của ngành tư pháp dường như chưa bao giờ nghe nói về bất kỳ trường hợp nào về hành vi xâm phạm quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng đã được đưa ra trước tòa án.

        16. Một khía cạnh quan trọng được đề cập trong nhiều cuộc thảo luận là sự phân chia giữa khu vực thành thị và nông thôn. Điều kiện của các cộng đồng tôn giáo có thể thay đổi đáng kể, theo những phong tục khác nhau ở những phần khác nhau của đất nước. Hơn nữa, dường như chính sách ở cấp trung ương không phải luôn luôn được truyền đạt hiệu quả đến các cơ quan chức năng ở địa phương, do đó có một khoảng cách giữa sự hiểu biết và thực thi các chính sách. Tuy nhiên, sẽ là không công bằng để gán cho các vấn đề còn đang tồn tại chủ yếu là thiếu sót của chính quyền địa phương. Chính quyền trung ương cần phải xem xét các chính sách và hướng dẫn để đảm bảo rằng việc thực thi các chính sách và hướng dẫn ấy tương thích với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế. Cũng là không công bằng khi đổ các vấn đề còn tồn tại cho sự thiếu giáo dục của người dân hoặc những người ở khu vực nông thôn, bởi vì nhiều thách thức trong số được mô tả là có tính chất hệ thống, bằng chứng là trong các quy định pháp luật tương ứng trong nước.



1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương