Kinh lời vàng tác giả: Dương Tú Hạc Dịch Giả: ht. Trí Nghiêm



tải về 0.93 Mb.
trang10/11
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.93 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

CHƯƠNG III - PHẬT ĐÀ


 

A.TỪ BI


Rõ biết tất cả các pháp sanh diệt, rồi những pháp đáng tu phải tu, đáng diệt phải diệt hết mới gọi là Phật. Phật khi còn tại thế, như hoa sen sanh trong bùn mà chẳng dính bùn, ở đời mà chẳng nhiễm đời, phá tất cả phiền não, rốt ráo lìa ngăn mé sanh tử mới được gọi là Phật vậy. 

Kinh Trương A Hàm
 
 

Giác ngộ gọi là Phật. 



Kinh Đại Nhựt
 
 

Ví như người nhận biết có giặc, thời kẻ giặc không làm gì được. Các vị Đại Bồ tát, năng giác ngộ tất cả phiền não nhiều vô lượng. Đã giác ngộ thì khiến các phiền não kia, không thể làm gì được. Cho nên gọi là Phật. 



Kinh Niết Bàn  

Nay trong ba cõi này, đều là vật sở hữu của Ta. Trong ấy có bấy nhiều chúng sanh, đều là con Ta. Mà ngày nay cõi này lắm hoạn nạn, duy một mình Ta, có thể cứu được mà thôi. 



Kinh Pháp Hoa  

Ví như người có bảy đứa con, có một đứa bị bệnh sự lo lắng của cha mẹ chẳng phải bất bình đẳng, nhưng tâm niệm của cha mẹ phải nghiêng nặng về đứa con bị đau. Đức Như Lai đối với các chúng sanh, tuy chẳng phải bất bình đẳng, nhưng kẻ có tội, lòng thương phải nặng hơn. 



Kinh Niết Bàn  

Đức Phật gọi ngài Xá Lợi Phất: Này Xá Lợi Phất! Tại sao tâm Như Lai chẳng khá nghĩ bàn! Vì lòng đại bi của Như Lai thường chẳng bỏ tất cả chúng sanh, khiến cho thành thục nên thường thương xót; vậy nên tâm đại bi của Như Lai không có hạn lượng, chẳng khá nghĩ bàn vậy.

Này Xá Lợi Phất! Tự tánh bồ đề sáng suốt, nên Ta thành tựu chánh giác. Tự tánh sáng suốt ấy là không bị ô nhiễm như hư không, hư không biến khắp các nơi chỗ mà vẫn bình đẳng, cho nên sáng suốt vậy. Như lai vì muốn khiến chúng sanh giác ngộ tự tánh Bồ đề sáng suốt của mình, nên khởi lòng đại bi.

Này Xá Lợi Phất! Bồ đề không có ra vào, cho nên Ta thành tựu chánh giác. Không ra vào ấy là không có hình tướng, nên chẳng ra cũng chẳng vào, vì bình đẳng không có sai khác kia đây, Như Lai muốn khiến chúng sanh biết như thế, nên mới chuyển khởi tâm đại bi.

Này Xá Lợi Phất! Như Lai muốn khiến những kẻ ngu phu dị sanh hiểu biết chơn lý, nên khởi đại bi. 

Kinh Đại Thừu Bồ Tát Chánh Pháp
 

Tâm Phật là tâm đại từ bi vậy. Đem lòng từ vô duyên, mà nhiếp hóa chúng sanh. 



Kinh Quán Vô Lượng Thọ  

Đại từ đại bi gọi là Phật tánh. Từ tức Như Lai, Như Lai tức từ.

 Kinh Niết Bàn  

Ta ở trong vô lượng kiếp làm ông Đại thí chủ, giúp khắp các kẻ nghèo khổ, mới thệ nguyện thành quả chánh giác. 



Kinh Vô Lượng Thọ  

Này Thiên nam tử! Bậc trí giả nhận thấy tất cả chúng sanh chìm đắm trong biển cả sanh tử phiền não, vì cứu vớt, nên sanh lòng thương.

Lại thấy chúng sanh, mê nơi đường tà mà không ai chỉ dẫn, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, nằm trên đống bùn năm dục mà chẳng biết tránh, hãy còn buông lung, nên sanh lòng thương.

Lại thấy chúng sanh, thường bị của cải vợ con trói buộc, mà chẳng bỏ rời, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, thân, miệng, ý gây nghiệp chẳng lành, chịu nhiều quả khổ, hãy còn vui đắm, nên sanh lòng thương.

Lại thấy chúng sanh, khao khát tìm cầu năm món dục lạc, như kẻ khát nước, uống nhằm nước mặn, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, tuy muốn cầu sướng, mà chẳng tạo nghiệp vui; tuy chẳng ưa khổ, lại thích tạo nhơn ác; muốn hưởng vui cõi trời, mà chẳng tu đầy đủ giới hạnh, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, đối với cái không phải ta và không phải của cải bị có của cái ta mà sanh ý tưởng ta và của ta, nên sanh lòng thương.

Lại thấy chúng sanh sợ sanh, già chết mà lại gây tạo nghiệp sanh, già chết nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, ở chỗ tối tăm, mà chẳng biết thắp đèn trí huệ cho sáng tỏ, nên sanh lòng thương.

Lại thấy chúng sanh, bị lửa phiền não đốt cháy, mà chẳng biết tìm nước chánh định để tưới cho tắt, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, vì vui năm dục, chẳng cầu dứt đi, như kẻ đói ăn cơm độc, nên sanh lòng thương.

Lại thấy chúng sanh gặp Phật ra đời, nghe pháp cam lồ, mà chẳng chịu tu trì, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, tìm bạn tà ác, trọn chẳng nghe theo lời dạy của Thiện tri thức, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, có nhiều của cải, chẳng tu bố thí, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, làm ruộng làm nghề, buôn ngược bán xuôi, mọi điều khổ sở, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, cha mẹ, anh em, vợ con, tôi tớ, bà con giòng họ, chẳng thương mến nhau, nên sanh lòng thương. 



Kinh Ưu Bà Tắc Giới  
 

B. TRÍ TUỆ


Tâm, ý thức của Như Lai rất khó lường, in như hư không làm chỗ nương cho tất cả. Trí của Như Lai làm chỗ nương cho trí thế gian và xuất thế gian. Ví như pháp giới thanh tịnh thường làm chỗ nương dựa giải thoát cho Thanh văn, Duyên giác, và Bồ tát. Ví như nước biển cả chảy thấm nhuần khắp đất bốn thiên hạ. Trí của Như Lai trong sạch sáng suốt, bình đẳng không hai, không có phân biệt. Nhưng chỉ tùy theo chỗ sai khác tâm hành của chúng sanh, nên chỗ được trí huệ đều chẳng đồng vậy. 

Kinh Hoa Nghiêm  

Đức Như Lai thành quả chánh giác với tất cả nghĩa: không còn quan sát pháp bình đẳng, không còn chỗ nghi hoặc; không hình, không tướng, không đi cũng không đứng, không lường không ngăn, lìa hai bên, trụ trung đạo, vượt ra ngoài tất cả văn tự ngữ ngôn; mà biết tất cả bản tánh ưa muốn, tâm nghĩ, chỗ làm và những phiền não tập nhiễm của chúng sanh; với trong một niệm biết hết tất cả các pháp trong ba đời, in như biển cả, có bấy nhiêu thân sắc hình tượng của chúng sanh trong bốn thiên hạ đều có thể ẩn hiện trong biển ấy vậy. 



Kinh Hoa Nghiêm  

Cõi nước trong sạch ở phương đông có Đức Phật hiệu Nhựt Nguyệt Quang. Vị Phạm Thiên Tư Ích bái hào quang của Đức Phật, rồi đến chỗ Phật mà thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Tôi nay muốn đến thế giới Ta bà để lễ bái Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và cúng dường thân cận?

Phật Nhựt Nguyệt Quang bằng lòng và bảo: Cõi Ta bà hiện nay đang tập hội rất đông Bồ tát, ngươi nên dùng 10 pháp mà đến cõi kia: 

Với việc chê khen, tâm chớ thêm bớt 

Nghe được thiện ác, tâm đừng phân biệt 

Với kẻ ngu kẻ trí đều đem lòng thương mà giao tiếp 

Với ba bậc chúng sanh thượng, trung, hạ, ý thường bình đẳng 

Việc cúng dường không nên hai lòng 

Họ có khuyết điểm, đừng chấp chỗ lỗi 

Với các Thừa chỉ thấy Nhất thừa 

Nghe tên ba ác đạo, đừng sợ hãi 

Thấy các Bồ tát nên tưởng đó là Như Lai 

Đức Phật bên ấy, xuất hiện nhằm đời năm món đục vẩn, nên tưởng là hiếm có 

Người, nên lấy mười pháp nầy mà qua bên ấy.

Ngài Phạm Thiên Tư Ích thưa: Tôi nay xin đi, nhờ Phật biết cho và hộ niệm.

Kinh Phạm Thiên Tư Ích Sở Vấn  

Huệ sáng chói không lường, thân như núi Chơn Kim, sắc vàng màu chói sáng, khắp soi các thế giới, theo vật hiện màu sắc, vậy nên cúi đầu lễ. 



Luận Thập Trụ Tì Bà Ta  

Thí như mặt trời xuất hiện cõi Diêm Phù Đề, trước chiếu núi Tu di và các núi cao cả, thứ chiếu núi Bắc Sơn, thứ nữa chiếu gò cao, nhiên hậu mới chiếu tất cả đại địa. Nhưng mặt trời không có quan niệm sai biệt chiếu chỗ nầy trước nơi nọ sau, mà bởi chốn đại địa có cao thấp, nên mới có sự chiếu soi trước sau sai khác.

Đức Như Lai thuyết pháp cũng giống như thế. Đã trọn nên bánh xe trí huệ vô lượng pháp giới, thường phóng ra trí huệ chói sáng không ngăn ngại, trước chiếu các Bồ Tát là bậc Đại sơn vương, thứ chiếu Duyên Giác, thứ nữa chiếu Thanh Văn và sau cùng mới chiếu soi những chúng sanh có căn lành quyết định, tùy theo tâm lượng, mà hiện trí rộng lớn; nhiên hậu mới chiếu soi khắp tất cả chúng sanh cho đến những kẻ tu tà định cũng đều soi tới.

Nhưng đại trí Nhựt Quang của Như Lai chẳng bao giờ nghĩ sai khác như vậy, chỉ phóng yến sáng bình đẳng chiếu soi khắp cả, không có ngăn ngại; mà vì tâm trí chúng sanh có cao thấp, nên sự chiếu soi mới có trước sau sai khác vậy thôi. 



Kinh Hoa Nghiêm 

Ví như mặt, trời mọc sáng soi mà kẻ mù chẳng từng thấy, vì không mắt từ trong bụng mẹ, tuy không thấy, nhưng họ vẫn được hưởng lợi ích ánh sáng của mặt trời. Trí quang cũng như vậy. Những chúng sanh mù không tin, không hiểu, phá giới, sống lối sống tà mạng, vì không có con mắt tin, chẳng thấy vầng huệ nhựt của các đức Phật; nhưng cũng được trí nhật của các đức Phật làm lợi ích cho. Tại sao? Vì các Phật Như Lai dùng sức thành tựu khiến chúng sanh có bấy nhiêu khổ nơi thân và phiền não nơi tâm, cùng những nhơn khổ vị lai đều tiêu dứt mà được căn lành vậy. 



Kinh Hoa Nghiêm  

Đức Phật: 

Có chúng sanh chuyên tâm nhớ nghĩ, thời hiện trước mặt 

Có chúng sanh, thân tâm điều thuận, vì hiện nói pháp 

Có chúng sanh, hay sanh tịnh trí, quyết được căn lành vô lượng 

Có chúng sanh, hay vào ngôi pháp, đều khiến hiện chứng hiểu rõ 

Có chúng sanh, thời giáo hóa không biết nhàm mỏi 

Dạo nước các đức Phật qua lại không ngại 

Vì lòng đại bi, nên chẳng bỏ một chúng sanh nào 

Hiện thân biến hóa, hằng chẳng dứt bặt 

Thần thông tự tại, chưa từng ngừng nghĩ 

An trụ pháp giới mà năng quan sát 



Kinh Hoa Nghiêm  

C. CỨU TẾ


Đức Phật năng lấy pháp tự trừ mê, cũng khiến người trừ mê; tự được thiền định, cũng khiến người được thiền định; tự qua bờ bên kia, cũng khiến người qua bờ bên kia; tự giải thoát, cũng khiến người được giải thoát; và tự được diệt độ, cũng khiến người được diệt độ. 

Kinh Trường A Hàm  

Đức Phật hỏi ông thầy tập voi về phương pháp điều phục con voi có mấy thứ?

Thầy tập voi đáp: Thưa Ngài có 3 thứ là: 

Lấy móc sắt móc nơi miệng, rồi xỏ dây cột dắt 

Giảm ăn thường khiến nó đói ốm 

Lấy gậy đánh cho thật đau 

Nhờ cái móc móc miệng, mới chế được cái miệng dữ; nhờ chẳng cho ăn nhiều mới chế được cái thân hung bạo; nhờ đánh đập, mới chế phục được cái tâm hung hăng.

Đức Phật bảo với ông thầy voi rằng: Ta cũng có 3 pháp như vậy, để mà điều phục mọi chúng sanh, và cũng tự điều phục mình nữa, khiến cho được đạo vô vi: 

Lấy tâm chí thành mà chế ngự lỗi nơi miệng 

Lấy lòng trong lành, mà chế phục cái thân cang cường 

Lấy trí huệ diệt ngu si 

Ai mà đủ ba món nầy, thời độ được mọi người xa lìa ba ác đạo.



Kinh Pháp Cú Thí Dụ  

Đức Phật bảo Phạm thiên Tư ích: Này Tư Ích! Nếu ai hay biết Phật dùng năm sức mà nói pháp, thì kẻ ấy mới có thể làm Phật sự.

Tư Ích thưa: Bạch Thế Tôn! Phật dùng năm món sức là thứ gì?

Phật dạy: 1. Lời nói, 2. Tùy nghi, 3. Phương tiện, 4. Pháp môn, 5. Đại bi. 

Lời nói: Là nói các pháp ba đời quá khứ, vị lai và hiện tại; nói pháp thế gian và xuất thế gian; nói pháp có tội không tội; nói pháp hữu lậu vô lậu; nói pháp hữu vi vô vi; nói pháp sanh tử Niết bàn. Nhưng các pháp ấy không thể nói mà phải nói. Nếu khi biết như thế, tuy có tất cả lời nói, mà với các pháp ấy không tham đắm, vì không tham đắm nên tài biện luận không bị ngăn ngại, vì các lời nói ấy chẳng phá hoại được pháp tánh của các pháp, là vì lời nói chẳng phải pháp tánh vậy. 

Tùy nghi: Là cầu pháp nói tịnh pháp mà tịnh pháp nói cấu pháp; vì kẻ chấp trước nơi lời nói, nên thật ngữ nói hư vọng; vì kẻ ngạo mạn quá nặng, nên hư vọng nói thật ngữ; vì muốn diệt các chấp điên đảo phiền não nên nói có Niết bàn; vì muốn diệt cái chấp các pháp bất sanh, bất diệt và vô thường, nên nói không có Niết bàn; tùy theo pháp thế gian, nói có chúng sanh; tùy theo pháp xuất thế gian, nói không có chúng sanh. 

Phương tiện: Phật vì chúng sanh nói bố thí được đại phước, trì giới được lên trời, nhẫn nhục được quả báo thân tốt đẹp tinh tấn được các công đức, thiền định được pháp vui, trí huệ được bỏ các phiền não, đa văn được thêm lớn trí huệ, tu thập thiện hưởng phước người trời; từ bi hỷ xả, được làm Phạm thiên; thiền định được như thật trí huệ; trí huệ được đạo quả; bậc "học" được bậc vô học, bậc Phật mới được vô thượng trí huệ; Niết bàn diệt tất cả phiền não. Nhưng Như Lai vô ngã tướng, vô nhơn tướng, vô chúng sanh và vô thọ giả các tướng. Cũng không bố thí cùng tham lam, không trì giới cùng phá giới, không nhẫn nhục cùng giận dữ; không tinh tấn cùng biếng lười, không thiền định cùng tán loạn, không trí huệ và quả trí huệ. Không có tất cả các tướng mà thường nói pháp, là đều vì tất cả chúng sanh mới phương tiện mà nói pháp vậy. 

Pháp môn: Là mắt tai mũi lưỡi thân ý sáu căn, với sắc thanh hương vị xúc pháp sáu cảnh, đều là cửa giải thoát. Tại sao thế? Vì là sáu căn sáu cảnh kỳ thiệt là: không, vô ngã, vô ngã sở, không, vô tướng, vô tác, vô sanh, vô diệt, vô sở lai, vô sở Khứ, vô thối, vô khởi, là vì pháp tánh thanh tịnh mà Ta phương tiện dùng văn tự để chỉ vẽ mà thôi. 

Đại bi: Là Phật dùng 32 đại bi cứu độ chúng sanh: 

Tất cả các pháp vô ngã mà chúng sanh chẳng tin chẳng biết, Ta nơi ấy mà sanh khởi lòng đại bi 

Tất cả chúng sanh, thật không mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp, không thọ mạng mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp, không tướng người mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp, không bị có mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp, không trụ mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp, không chỗ về mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp, không phải vật bị có của ta mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp, không sở thuộc về ai mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp, không có tướng khá lấy mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp, không sanh mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp, chẳng thối sanh mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp, không dơ mà chấp dơ, nên khởi đại bi 

Tất cả pháp, lìa nhiễm mà cho có nhiễm, khởi đại bi 

Tất cả pháp, lìa sân mà cho có sân, khởi đại bi 

Tất cả pháp, lìa si mà cho có si, khởi đại bi 

Tất cả pháp không chỗ đến, mà tin có đến, nên khởi đại bi 

Tất cả pháp không chỗ đi, mà tin có đi, khởi đại bi 

Tất cả pháp không khởi, mà tin có khởi, khởi đại bi 

Tất cả pháp không hí luận mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp vô tướng mà tin có, khởi đại bi 

Tất cả pháp vô tác mà tin có, khởi đại bi 

Thế gian thường khởi giận dữ, tranh dành, khởi đại bi 

Thế gian khởi niệm tà kiến, làm tà hạnh, khởi đại bi 

Thế gian tham ăn không nhàm, cướp giựt lẫn nhau, khởi đại bi 

Chúng sanh đối với sản nghiệp vợ con v.v… mến chấp chắc cứng, nên khởi lòng đại bi 

Chúng sanh tham đắm với cái thân, nên khởi đại bi 

Chúng sanh ưa dối gạt, làm tà mạng, nên khởi đại bi 

Chúng sanh vui ở nhà bất tịnh, nên khởi đại bi 

Chúng sanh lười biếng tu hạnh chánh giải thoát, khởi đại bi 

Chúng sanh bỏ trí huệ cao tột, mà cầu mong trí huệ Thanh văn, Duyên giác, nên khởi đại bi 

Tất cả pháp không diệt, mà tin có diệt, nên khởi đại bi 

Nếu có Bồ tát nào sanh khởi lòng đại bi như thế là đấng Đại Phước Điền vậy. 



Kinh Phạm Thiên Tư Ích Sở Vấn  

Phật dùng một âm diễn nói pháp, tùy các loài chúng sanh đều được hiểu.



Kinh Duy Ma  

Tiếng Như Lai mầu nhiệm, vang dội nghe mười phương.



Luận Trí Độ  

Có lời hỏi: Pháp mà đức Phật đã chứng chỉ có một, nhưng cớ chi lại hiện cõi nước vô lượng, giáo hóa chúng sanh vô lượng, diễn tiếng nói vô lượng và hiện thân vô lượng vậy?

Đáp: Ví như tánh đất chỉ có một, chúng sanh ở rải rác, đất không nghĩ là đồng hay là khác. Lại như tánh lửa cũng chỉ có một, mà hay đốt mọi vật, lửa không phân biệt chi hết. Và như nước ở biển cả chỉ có một, mà hiện ngàn vạn hình sóng mòi, nước không phân biệt. Lại cũng như tánh gió chỉ có một mà thổi tất cả vật, gió cũng không có nghĩ thổi riêng từng vật nào. Và như vầng thái dương không bị mây mù, thì soi khắp mười phương mà tánh chói sáng chẳng sai khác.

Pháp của các đức Phật cũng in như vậy.



Kinh Hoa Nghiêm  

D. PHÁP THÂN


Phật nói: Từ nay về sau, các đệ tử Ta truyền nhau hành đạo, tức là pháp thân Như Lai thường còn ở đời mà chẳng mất vậy.

Kinh Di Giáo  

Pháp thân là bất động, bất sanh, bất hý luận, bất phân biệt, yên lặng vậy. Chẳng khá thấy, chẳng khá nghe, chẳng khá ngửi, chẳng khá nếm, chẳng khá rờ, in như thấy các bóng trong gương, tùy theo tâm chúng sanh, mọi sức tin hiểu, mà thị hiện các thân sai khác.



Kinh Phật Cảnh Giới  

Trí Như Lai sâu thẩm, khắp chuyển nới pháp giới, dẫn đường sáng cho đời, đồng pháp thân các Phật, tùy theo ý chúng sanh, cho thấy các hình sắc, một cõi một Phật thân, hóa làm vô lượng Phật.



Kinh Hoa Nghiêm  

Ngài Đại Huệ Bồ Tát lại thưa với đức Phật rằng: Thưa Thế Tôn! Vì sao Như Lai có mật ý đối với đại chúng mà xướng lời như vậy: "Ta là tất cả các đức Phật đời quá khứ."

Đức Phật đáp: Này Đại Huệ! Vì Như Lai nương 4 món bình đẳng nên có mật ý với trong đại chúng mà nói lời như thế. Là 4 món gì? Gọi là: 1. Tự bình đẳng, 2. Ngữ bình đẳng, 3. Thân bình đẳng, 4. Pháp bình đẳng. 

Tự bình đẳng là: Ta gọi là Phật, tất cả các đức Như Lai khác cũng gọi là Phật, tên Phật không sai khác, ấy là tự bình đẳng. 

Ngữ bình đẳng là: khởi lên các lời bằng tiếng phạm âm, tất cả các Như Lai cũng nói tiếng ấy, vì tánh của tiếng phạm âm chẳng thêm chẳng bớt, không có sai khác, ấy là ngữ bình đẳng. 

Thân bình đẳng là: pháp thân sắc tướng và các món tùy hình hảo của Ta cùng với các đức Phật khác thảy đều đồng, không có sai biệt, ấy là thân bình đẳng. 

Pháp bình đẳng là: Ta cùng các đức Phật khác đều đồng nói được 37 món bồ đề phận pháp, ấy là pháp bình đẳng. 

Do đó cho nên Như Lai đối giữa đại chúng mà nói lời như thế.



Kinh Nhập Lăng Già
 

Thân Phật dầy nhẫy trong pháp giới.

Khắp hiện trước mặt mọi chúng sanh.

Theo duyên cảm đến thảy đều khắp.

Mà thường ngồi tòa các Bồ tát.

Kinh Hoa Nghiêm  

Pháp thân Như Lai với pháp thân Bồ tát bản thể tuy không khác, mà với công đức oai lực thời chẳng đồng. Tất cả pháp tánh tướng bình đẳng, bản thể đồng nhất: Phàm Thánh, mê ngộ, nhiễm tịnh, nhơn quả khứ lai, tiến thoái, đều đồng một tướng vậy. Nhưng như ngọc ma ni chưa được mài đủa lau chùi thời chưa có ánh sáng vẻ vang. Pháp thân của Bồ Tát cũng như viên ngọc ma ni chưa dũa lau, cho nên không thể nói là đồng với Pháp thân Như Lai được.



Kinh Hoa Nghiêm  

Đức Phật bảo Ngài Ca Diếp rằng: Thân Như Lai là thân thường trú, cái thân cứng như kim cương không thể phá hoại được. Hễ ai có nhơn duyên hay hộ trì Chánh pháp, thời thành tựu được thân kim cương này. Ta nhiều đời về trước, nhờ nhân duyên hộ pháp, mới được trọn nên thân kim cương thường trú chẳng khá hoại nầy.



Kinh Niết Bàn  

Ngài Di Lặc Bồ Tát hỏi Phật rằng: Khi Phật ở thành Tì Gia mà thành đạo dưới gốc cây Bồ đề, cho đến nay chưa bao lâu, mà được vô số Phật, Bồ tát đã nhiều kiếp tu hành đến nay kính lễ Thế Tôn, in như ông già trăm tuổi bảo một kẻ thanh niên hơn hai mươi tuổi rằng: "Ngươi là cha ta vậy". Cha mà nhỏ tuổi hơn con, cả người đời chẳng ai tin nổi. Xin Phật vì người đời sau mà giải thích cho điều nghi này.

Bấy giờ đức Thế Tôn bảo cả chúng Đại Bồ tát rằng: Từ khi Ta thành Phật đến nay đã 500 vạn ức số mảy trần, cũng đã trải qua trăm ngàn vạn ức thời gian số kiếp. Từ ấy đến nay ta thường ở thế gian này thuyết pháp giáo hóa, và còn ở trăm ngàn vạn ức thế giới khác nữa, mà dìu dắt lợi ích cho chúng sanh.

Này các Bồ Tát! Ta ở trong ngần ấy thời gian, làm các món Phật sự, và lại nói rằng nhập Niết Bàn như thế, đều là dùng phương tiện vậy thôi. Các Bồ Tát! Ta tiếp người ứng theo tri thức của họ mà nói ra danh tự chẳng đồng, tuổi tác lớn nhỏ; lại có lúc nói nhập Niết Bàn, có lúc chẳng nhập Niết Bàn. Như Lai với chúng sanh nào ưa tiểu pháp, thời Ta nói Ta xuất gia từ nhỏ, rồi chứng được quả vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhưng kỳ thật Ta thành Phật đến nay đã lâu lắm rồi, chỉ dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh khiến vào Phật Đạo nên mới nói như vậy thôi.

Này các Bồ Tát! Như Lai diễn nói kinh điển đều nhắm mục đích độ thoát chúng sanh. Tuy là hoặc nói thân mình, hoặc nói thân người, hoặc hiện việc mình, hoặc hiện việc người; đã nói ra đều là chân thật, chẳng hư.

Tại sao thế? Tại vì Như Lai thật biết thấy toàn tướng ba cõi không có sanh tử, hoặc vào hay ra, không có kẻ tại thế hay diệt độ, chẳng thật cũng chẳng hư, chẳng đồng cũng chẳng dị, chẳng phải giống như cái thấy biết ba cõi của phàm phu.

Như Lai thấy biết rõ ràng, không có lầm lẫn. Bởi chúng sanh có nhiều lòng tham muốn, nhiều món phân biệt, cho nên phải nói nhiều nhơn duyên, nhiều phương pháp, để khiến tu các điều lành. Như vậy Ta từ khi thành Phật đến nay, đã rất lâu xa, sống lâu vô lượng thường trú chẳng diệt; mà lại nói rằng "Diệt" là vì muốn giáo hóa chúng sanh vậy. Thế thì tại sao mà chẳng nói Như Lai thường trú bất diệt? Bởi những người bạc đức, chẳng trồng căn lành, nều nói thế họ càng bần cùng hạ tiện, tham lam ngũ dục mà bị đọa vào vọng kiến, cho nên phải phương tiện bảo rằng: "Các Đức Phật ra đời khó gặp, qua trăm vạn kiếp mới có Phật ra đời, mà còn có người chẳng thấy Phật". Chúng sanh nghe lời nói này, thời nhất định sẽ nghĩ là khó gặp, mới sanh lòng khao khát trong gặp Phật, muốn trồng các căn lành, vậy nên Như Lai chẳng diệt mà bảo rằng "diệt độ" vậy.

Kinh Pháp Hoa  

Pháp thân Như Lai phi lai, phi khứ, vì thật tánh của các pháp chẳng lay động vậy. Chơn như là Như Lai, pháp giới là Như Lai, pháp tánh là Như Lai, tánh không hư vọng là Như Lai, tánh không biếng nhác là Như Lai, tánh bình đẳng là Như Lai, tánh ly sanh là Như Lai, thật tánh là Như Lai, trụ tánh là Như Lai, thật tế là Như Lai, cõi hư không là Như Lai, cõi chẳng nghĩ bàn là Như Lai, tánh vô sanh là Như Lai, tánh vô diệt là Như Lai, tánh như thật là Như Lai, tánh xa lìa là Như Lai, tánh vắng lặng là Như Lai, không tánh là Như Lai, vì là không đến không đi vậy.



Kinh Đại Bát Nhã  

Đức Phật gọi Ngài Ca Diếp: Này Ca Diếp! Phật tánh thẳm sâu khó thấy khó vào. Ví như như có một trăm kẻ mù, vì muốn chữa mắt, mới rủ nhau đến một danh sư. Vị thầy thuốc lấy con dao bằng vàng cắt màng trong con mắt; rồi ông đưa một ngón tay hỏi bọn kẻ mù thấy không? Đáp: chưa thấy được. Ông lại đưa hai ba ngón, bọn kẻ mù mới thấy lờ mờ. Cũng như có vô lượng Bồ Tát, đầy đủ các món Ba la mật, tuy chứng đến Thập trụ, mà Như Lai chưa nói Phật tánh nên chẳng hay thấy được Phật tánh, Thập Trụ Bồ Tát hãy còn chẳng thấy huống hồ nhị thừa. Và đến khi Như Lai đã nói Phật tánh, mới thấy chút ít vậy.

Ví như có người đi ngoài đồng nội, khát mà tìm nước, vừa có con hạc trắng ở trong đám cây rừng rậm, kẻ khát kia vì mê muội, nên không thể phân biệt được, cho con hạc là nước, và khi đến nơi xem kỹ mới biết là con hạc trắng.

Kinh Niết Bàn  

Đức Phật dạy: Các Đệ tử ví như có một nhà vua, phán quan Đại thần đem một con voi bảo bọn người mu rờ coi. Bọn mù mỗi người chỉ rờ được một chỗ thôi. Nhà vua hỏi bọn mù hình voi ra sao? Kẻ rờ được cặp ngà thì tâu: hình nó như hai bắp chuối; kẻ rờ nhằm hai tai thì tâu: hình nó giống như cái quạt mo, kẻ rờ nơi đầu thì tâu: không phải như chuối, mo, mà như cục đá; kẻ rờ trúng cái vòi thì trả lời giống như khúc chày; kẻ rờ phải chân nói voi giống như chiếc cối; có kẻ bộ cao con nên rờ đến trên lưng thì tâu: con voi giống như chiếc giường nằm, kẻ lùn rờ nơi bụng thì tâu: như cái lu; và kẻ rờ nhằm cái đuôi thì tâu: cái hình con voi chỉ giống như một đùm giây chớ chẳng giống gì khác.

Bọn người mù đã tâu, tuy chẳng nói hết được toàn thân con voi, nhưng ngoài cái mà họ đã nói thì không có voi. Tất cả pháp, tại sắc bất tại thọ, đều là Phật tánh vậy.

Kinh Niết Bàn  

Ở trong một mảy trần thấy đủ các thế giới chúng sanh nghe điều này phát cuồng tâm mê loạn.



Kinh Hoa Nghiêm  

Đức Di Lặc Bồ tát bảo Ngài Diệu Cát Tường rằng: "Tôi không thể cúng dường Đức Như Lai được. Tại sao thế? Vì Như Lai Chơn Như, không có hai tướng, Chơn Như là Như Lai vậy".

Ngài Diệu Cát Tường hỏi: Sao Ngài biết không có hai tướng? Ngài Di Lặc đáp: Vì sanh khởi tâm phân biệt sai khác rồi cho: đây là phiền não, kia là xuất thế gian, nên có hai tướng. Nếu liễu đạt được nhứt tánh tất cả mọi pháp như thế cả thời không có hai tướng.

Đối với hai tướng, nếu chẳng bị tùy theo thức nó chuyển biến khởi các tướng phân biệt thời không có hai tướng.



Kinh Thần Thông Cảnh Giới   

Cảnh giới các Đức Phật Thế Tôn không thể so sánh được, vì cảnh giới bất khả tư nghì. Có chỗ đã gọi: Tất cả các đức Phật ngồi xếp bằng tréo chân một chỗ mà biến đầy khắp mười phương vô lượng thế giới. Tất cả các Đức Phật nói nghĩa một câu đều có thể mở bày, tất cả Phật pháp. Tất cả các Đức Phật phóng một ánh hào quang đều có thể soi khắp tất cả thế giới. Tất cả các Đức Phật với trong một thân, đều có thể thị hiện tất cả các thân. Tất cả các Đức Phật với trong một chỗ, đều có thể thị hiện tất cả thế giới. Tất cả các Đức Phật với trong một trí, đều có thể thấu rõ tất cả các pháp. Tất cả các Đức Phật với trong một niệm, đều có thể trụ mười phương thế giới. Tất cả các Đức Phật với trong một niệm, đều có thể hiển hiện vô lượng oai đức của Như Lai. Tất cả các Đức Phật với trong một niệm, khắp duyên ba đời Phật và chúng sanh mà tâm không lộn xộn. Và tất cả các Đức Phật với trong một niệm, cùng với các Đức Phật quá khứ, hiện tại vị lai thể một không hai vậy.



Kinh Hoa Nghiêm  

Bồ tát biết tất cả cảnh giới trong thế gian là cảnh giới của Như Lai. Tất cả cảnh giới ba đời, tất cả cõi cảnh giới, tất cả pháp cảnh giới, tất cả chúng sanh cảnh giới, cõi chơn thật không sai khác cảnh giới, pháp giới không ngăn ngại cảnh giới, thật tế không ngằn mé cảnh giới, hư không không hạn lượng cảnh giới, cảnh giới không có cảnh giới là Như Lai cảnh giới. Cảnh giới của thế gian nhiều vô lượng thì cảnh giới của Như Lai cũng nhiều vô lượng.



Kinh Hoa Nghiêm  

Người đời buông lung say mê trong năm món dục, vọng tưởng xằng bậy mà gây tội khổ. Vậy nên siêng năng tu hành chẳng buông lung, phụng hành Phật pháp, lập đại thệ nguyện, năng độ kẻ mê ấy là Phật cảnh giới. Thấy kẻ mê lầm lạc đường Chánh Đạo, tập thành các tà hạnh đọa vào các thú, ở lâu trong chốn rất tối tăm; vì những kẻ ấy hiện ra đèn trí huệ khiến thấy Phật pháp, là Phật cảnh giới.

Nước biển trong ba cõi sâu rộng mênh mông không bờ đáy; các chúng sanh nối chìm trong đó, dùng phương tiện tạo thành con thuyền Chánh pháp để độ qua, là Phật cảnh giới vậy.

Kinh Hoa Nghiêm  

Cảnh giới các Đức Phật chẳng khá nghĩ bàn, tất cả chúng sanh suy lường cảnh giới Phật, thời tâm phát cuồng loạn.



Kinh Bát Nhã 
 

E. NIẾT BÀN


Đức Phật bảo đại chúng rằng: Niết bàn là giải thoát. Niết Bàn chẳng phải sắc mà Nhị thừa giải thoát vậy; sắc ấy là giải thoát của các Đức Phật. Giải thoát mà khi nào xa lìa tất cả ràng buộc, không còn sanh, không còn hòa hiệp là chẳng phải chơn giải thoát.

Chơn giải thoát tức Như Lai, vì tính thanh tịnh vậy. Như Lai với giải thoát không hai. Chơn giải thoát là như hư không; chơn giải thoát là vô vi; chơn giải thoát là vô bệnh, chơn giải thoát là yên lặng; chơn giải thoát là yên ổn; chơn giải thoát là không có bè bạn; chơn giải thoát là không lo sợ; chơn giải thoát là không buồn vui; chơn giải thoát là không hư hoại; chơn giải thoát là không ép bức; chơn giải thoát là không động pháp; chơn giải thoát là hiếm có; chơn giải thoát là chẳng khá lường; chơn giải thoát là tối thượng; chơn giải thoát là vô thượng; chơn giải thoát là hằng thường; chơn giải thoát là kiên thiệt; chơn giải thoát là vô biên; chơn giải thoát là sâu thẳm; chơn giải thoát là chẳng khá thấy; chơn giải thoát là chẳng khá lấy; chơn giải thoát là thanh tịnh; chơn giải thoát là một vị; chơn giải thoát là vắng lặng; chơn giải thoát là bình đẳng; chơn giải thoát là biết đủ; chơn giải thoát là lặng thinh.



Kinh Niết Bàn  

Có lời hỏi Đức Phật vào Niết bàn có phải cũng vô thường hay không?

Lời đáp: Niết bàn chẳng phải vô thường mà là thường trú vậy. Tại sao thế? Vì Thế gian có 5 nhơn:

Sanh nhơn: nghiệp phiền não và các hạt giống cỏ cây v.v… 

Hòa hiệp nhơn: là thiện với thiện tâm hòa hiệp, bất thiện với bất thiện tâm hòa hiệp, vô ký với vô ký tâm hòa hiệp vậy. 

Trụ nhơn: là vì ở dưới có trụ cột nên cái nhà chẳng bị sụp đổ 

Tăng trưởng nhơn: như nhờ nhơn duyên mặc áo, ăn uống v.v… nên khiến chúng sanh thêm lớn thân mạng; còn ngoại cảnh như các hạt giống chẳng bị lửa đốt, chẳng bị chim ăn mà được sanh trưởng vậy. 

Viễn nhơn: Như nhờ quốc vương, nên không có kẻ trộm cướp; cũng như mộng giống nương nhờ đất nước gió lữa v.v… mà được sanh lớn 

Nhưng bản thể Niết Bàn chẳng phải do năm nhơn nầy mà tạo thành, cho nên không thể là vô thường được.

Lại còn có hai nhơn nữa: thứ nhất là liễu nhơn: như đèn đuốc soi vào trong chỗ tối: thứ hai là tác nhơn: như thợ sứ làm thành đồ sứ vậy. Nhưng Niết Bàn chẳng phải nhờ tác nhơn tạo thành, mà chỉ nhờ liễu nhơn được hiển hiện vậy thôi. Cho nên liễu nhơn cũng gọi là 37 món đạo phẩm và lục độ vậy.



Kinh Niết Bàn  

Đức Phật bảo Ngài Ca Diếp: Này Ca Diếp! Các Thanh văn và phàm phu, nghe nói Tam thừa không sai khác mà sanh lòng nghi. Nhưng Tam thừa thành tựu được Đạo quả, đồng là một Phật tánh, cho nên không có sai khác. Các chúng sanh đời sau xa mới biết tất cả Tam Thừa đồng một Phật tánh; như trừ bỏ được các quặng bẩn trong vàng mới thành vàng ròng: chúng sanh đến bực hết phiền não, mới biết là Tam Thừa đồng một Phật tánh. Nếu nói rằng Thanh Văn như Xá Lợi Phất được tiểu Niết Bàn, Duyên Giác được trung Niết Bàn, Bồ tát được đại Niết bàn ấy, là có lỗi. Tuy khai thị ra có Tam thừa đấy, nhưng khi biết Như Lai Bí mật Tạng thời các vị A La Hán cũng đều được đại Niết bàn. Cho nên đại Niết bàn là vui rốt ráo vậy, chớ đâu có sai khác.



Kinh Niết Bàn  

Đức Phật bảo Tư Ích rằng: Ta chẳng bị sanh tử mà cũng chẳng được Niết bàn gì ráo.

Bấy giờ có 500 vị Tỳ kheo vừa nghe lời ấy đều từ chỗ ngồi đứng dậy một lượt mà thưa Phật rằng: Bạch Đưc Thế Tôn! Như vậy thì bọn chúng tôi luống tu phạm hạnh, nếu không có Niết bàn thời tu Đạo cầu trí huệ làm chi?

Ngài Tư Ích Phạm Thiên thay Phật mà giải thích cho các Tỳ kheo rằng: Ví như có người si sợ hư không, bỏ hư không mà chạy, thì chạy đến chỗ nào cũng đều gặp hư không. Trái lại có một người tìm hư không rông chạy đông tây mà rằng: "Tôi tìm hư không". Người này chỉ biết cái tên hư không mà chẳng biết hư không là chi cả. Cũng thế kẻ cầu Niết Bàn, hằng qua lại trong Niết Bàn mà chẳng biết Niết bàn là chi, còn cho đó là phiền não; cũng bởi chỉ biết danh tự Niết Bàn mà chẳng biết bản thể Niết Bàn vậy.



Kinh Phạm Thiên Tư Ích Sở Vấn  

Đức Phật bảo Ngài Đại Huệ rằng: Này Đại Huệ: Vô tánh thừa là hạng xiển đề vậy. Hạng này có hai thứ: một là vì bỏ tất cả căn lành; hai là phát khởi tâm nguyện thương tất cả chúng sanh, tận cùng tất cả cõi chúng sanh ấy vậy.

Thế nào là bỏ tất cả căn lành? Nghĩa là bài báng Bồ Tát Tạng rằng: "Thuyết nầy chẳng phải thuận với giải thoát". Chính khi thốt ra lời ấy căn lành đều bị dứt mất, thời không thể vào Niết Bàn được.

Còn thế nào là phát nguyện thương chúng sanh tận cùng các cõi chúng sanh? Trả lời: Nghĩa là lấy bản nguyện và phương tiện của Bồ tát khiến tất cả chúng sanh đều vào Niết Bàn. Nếu còn một chúng sanh chưa vào Niết Bàn, thì Ta cũng chưa vào Niết Bàn. Đấy cũng là thuộc một hạng xiển đề.

Ngài Đại Huệ hỏi rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Tại sao kia rốt ráo chẳng vào Niết Bàn.

Đức Phật đáp: Một hạng Bồ Tát xiển đề kia biết xưa nay vẫn là Niết Bàn, cho nên rốt ráo chẳng vào Niết Bàn. Tại sao? Vì hạng xiển đề bỏ căn lành còn nhờ oai lực của Phật, hoặc có khi phát tâm bồ đề, sanh căn lành mà chứng Niết Bàn. Ấy là Phật không bỏ tất cả chúng sanh vậy.



Kinh Nhập Lăng Già  

Ngài Duy Ma Cật hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: Thưa Văn Thù Sư Lợi! Thứ gì gọi là hột giống Như Lai?

Ngài Văn Thù Sư Lợi đáp: Này Duy Ma Cật! Ba món độc tham, sân, và si, bốn món thấy điên đảo, năm món uẩn, sáu món nhập, bảy chỗ thức, tám món tà pháp, chín chỗ não hại, và mười điều ác cùng tất cả phiền não đều là hột giống Phật vậy.

Ở trong bùn phiền não mà sanh được hoa sen thanh tịnh. Có chúng sanh, Phật pháp mới hưng khởi. Nếu chẳng vào trong bể cả phiền não, thời có đâu được viên ngọc nhất thế trí.



Kinh Duy Ma Cật  

Tâm chúng sanh là Niết Bàn vậy, vì bản tánh thường thanh tịnh, như hư không chẳng khác.



Kinh Tâm Dịch Nhập Lăng Già  

Tâm thể của chúng sanh, từ hồi nào đến giờ chẳng sanh chẳng diệt, tự tánh thanh tịnh.

Tâm ấy gọi là Như Lai tạng. Đã có chỗ gọi: đầy đủ vô lượng vô biên bất khả tư nghì, nghiệp thanh tịnh vô lượng vậy.

Kinh Chiếm Sát  

Vì muốn Viên giác được thành tựu, nên Bồ Tát chẳng cùng pháp trói buộc mà cũng chẳng cần mở trói; sanh tử cũng chẳng nhàm. Niết Bàn cũng chẳng ưa; trì giới chẳng kính, phá giới cũng chẳng ghét, tu lâu chẳng trọng, mới học cũng chẳng khinh. Tại sao lạ thế? Ví tất cả là Viên giác vậy. Ví như hiểu rõ cảnh ánh sáng trước mặt, ánh sáng ấy trọn đầy mà không ghét ưa, vì thể của ánh sáng không hai vậy.

Không tu không thành tựu, Viên giác khắp soi vắng lặng không hai vậy. Chẳng tức cũng chẳng ly, không trói cũng không mở, tại sao?

Vì chúng sanh đã thành Phật từ xưa nay rồi. Cho nên sanh tử với Niết Bàn chẳng khác gì giấc mộng khi hôm. Vì sanh tử với Niết Bàn cho là giấc mộng khi hôm, nên không khởi không diệt, không đi cũng không đến.



Kinh Viên Giác  

Tất cả chướng ngại, tức là rốt ráo Viên giác vậy. Được mất đâu chẳng phải là giải thoát; thành bại đâu chẳng phải là Niết Bàn; trí ngu đâu chẳng phải là Bát nhã. Pháp trọn nên của Bồ tát và ngoại đạo đồng một bản thể bồ đề vậy. Cảnh giới vô minh và chơn như không khác. Ba học giới, định, huệ, ba độc tham, sân, si đều là hạnh tốt vậy. Chúng sanh và quốc độ đồng là một pháp tánh vậy. Địa ngục và thiên đàng, đều là tịnh độ. Hữu tánh và vô tánh, đều thành Phật đạo. Tất cả phiền não, rốt ráo giải thoát. Giác tánh mầu nhiệm cao tột, khắp cả mười phương xuất sanh Như Lai và tất cả pháp, mà thể tánh bình đẳng.



Kinh Viên Giác  

Đức Phật bảo ông Phạm Chí tên Tu Bạt Đà La ở ngoài rừng Sa la rằng: Này Tu Bạt Đà La! Cõi phi tưởng phi phi tưởng, đều gọi là tưởng, mà Niết Bàn là vô tưởng vậy. Uất Đầu Lam Phất là bậc thầy của ngươi, có tiếng là lợi căn thông minh, mà chẳng biết quở trách cõi phi phi tưởng cho nên chịu ác thân, huống là các ngươi. Nếu chẳng dứt tất cả nhơn hữu lậu, thời không thể thấy được thật tướng; vì thật tướng là tướng vô tướng. Vô tướng ấy là tất cả pháp không có tự tướng, không có tha tướng, và không có tướng chung tự tha. Không có pháp tướng, không có phi pháp tướng; không có hữu tướng, không có vô tướng; không có nhơn tướng, không có quả tướng. Mới gọi đó là tướng chơn thật, mới gọi đó là pháp giới, gọi đó là trí rốt ráo, gọi đó là đệ nhất nghĩa đế, và gọi đó là đệ nhất nghĩa không.



Kinh Niết Bàn  
 

Đức Phật bảo ông Thiên Địa Đại Vương rằng: Này Đại vương! Tất cả pháp đều là Phật pháp vậy.

Thiên Địa hỏi Phật rằng: Nếu tất cả pháp đều là Phật pháp, thời tất cả chúng sanh cũng là Phật pháp?

Phật đáp: Nếu chẳng đem tâm vọng tưởng điên đảo, thời tất cả chúng sanh đều là Phật pháp. Này Đại vương! Nếu như thật mà thấy chúng sanh là bình đẳng chơn như thật tế, mà thật tế ấy là pháp giới vậy. Mà pháp giới không thể chỉ rõ được, nên mới giả danh là thật tế. Cho nên tùy theo thế tục mới có ngôn thuyết để nói phô cho rõ vậy thôi.



Kinh Bảo Tích




1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương