TIÊu chuẩn ngành 10 tcn 322: 1998



tải về 1.69 Mb.
trang1/9
Chuyển đổi dữ liệu20.05.2018
Kích1.69 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9
TIÊU CHUẨN NGÀNH

10 TCN 322:1998

PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM

HẠT GIỐNG CÂY TRỒNG NÔNG NGHIỆP



Tiêu chuẩn phương pháp kiểm nghiệm hạt giống cây trồng nông nghiệp là tài hệu hướng dẫn để kiểm tra chất lượng các loại hạt giống được sản xuất, nhập nội trong cả nước.

Nội dung của tiêu chuẩn này bao gồm các phương pháp lấy mẫu, chia mẫu, gửi mẫu và kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng của hạt giống. Mỗi phương pháp bao gồm mục đích và nguyên tắc của phép thử và phần phụ lục (nếu có) để hướng dẫn thêm các chi tiết cần thiết hoặc qui định sai số của phép thử.

Các phương pháp qui định trong tiêu chuẩn này được áp dụng thống nhất ở các phòng kiểm nghiệm hạt giống để có những kết quả phù hợp với nhau khi kiểm tra chất lượng hạt giống.

Tuy nhiên, tùy theo điều kiện thực tế của mỗi phòng kiểm nghiệm mà có thể lựa chọn một trong các phương pháp thử đã qui định, nhưng tuyệt đối phải tuân thủ những qui định của phương pháp đó để đảm bảo độ chính xác của kết quả kiểm nghiệm và phù hợp với kết quả của các phòng kiểm nghiệm khác.

1. Lấy mẫu và chia mẫu (Sampling)



1.1. Mục đích

Mục đích lấy mẫu và chia mẫu là để lấy ra một mẫu nhỏ đại diện cho lô hạt giống và có khối lượng phù hợp để tiến hành các phép thử cần thiết.



1.2. Định nghĩa:

1.2.1. Lô hạt giống (seed lot)

Là một lượng hạt giống cụ thể, có cùng nguồn gốc, cùng mức chất lượng, được sản xuất, chế biến, bảo quản cùng một qui trình và không vượt quá khối lượng qui định.

1.2.2. Mẫu điểm (Primary sample) .

Là một lượng hạt giống nhỏ được lấy ra từ một điểm ở lô hạt giống.

1.2.3. Mẫu hỗn hợp (composite sample)

Mẫu hỗn hợp được tạo thành bằng cách trộn tất cả các mẫu điểm được lấy ra từ lô hạt giống.

1.2.4. Mẫu gửi (submitted sample)

Là mẫu được lấy ra từ mẫu hỗn hợp để gửi đến các phòng kiểm nghiệm. Mẫu gửi phải đủ số lượng tối thiểu được qui định ở bảng 1.A và có thể bao gồm toàn bộ hoặc một phần mẫu hỗn hợp.

1.2.5. Mẫu phân tích (working sample)

Là một mẫu nhỏ được lấy ra từ mẫu gửi để thực hiện một phép thử nào đó.

1.2.6. Mẫu lưu (stored sample)

Là một phần của mẫu gửi được lưu giữ, bảo quản ở phòng kiểm nghiệm và dùng để phân tích lại một số chỉ tiêu chất lượng của mẫu gửi trong những trường hợp cần thiết.

1.2.7. Niêm phong (sealed)

Nghĩa là bao giống hoặc vật đựng giống đựng được đóng kín bằng cách nào đó để nếu chúng bị mở ra thì dấu niêm phong sẽ bị phá hủy hoặc bị hỏng.

Khái niệm này có liên quan đến việc niêm phong lô hạt giống và mẫu hạt giống.



1.3. Phương pháp lấy mẫu lô hạt giống:

1.3.1. Dụng cụ lấy mẫu:

- Xiên lấy mẫu thích hợp.

- Cân có độ chính xác thích hợp.

- Dụng cụ chia mẫu.

- Các dụng cụ khác: Túi, bao đựng mẫu, thẻ ghi chép, dụng cụ kẹp chì.

1.3.2. Cách tiến hành

1.3.2.1. Yêu cầu chung:

- Việc lấy mẫu phải do những người đã qua huấn luyện và có kinh nghiệm lấy mẫu.

- Người lấy mẫu phải tuân thủ đúng các điều qui định trong tiêu chuẩn này và phải chịu trách nhiệm về sự phù hợp giữa mẫu và lô hạt giống.

- Người chủ của lô hạt giống phải cung cấp đầy đủ các thông tin về lô hạt giống theo yêu cầu của người lấy mẫu. Khi có bằng chứng rõ ràng là lô hạt giống không đồng đều hoặc sai khác với hồ sơ thì việc lấy mẫu phải bãi bỏ.

1.3.2.2. Yêu cầu đối với lô hạt giống:



Trước khi tiến hành lấy mẫu, phải xem xét lô hạt giống theo các yêu cầu sau đây:

- Khối lượng lô hạt giống không được vượt quá 5% so với qui định ở bảng 1.A trong phần phụ lục. Nếu lô hạt giống có khối lượng vượt quá qui định thì phải chia nhỏ lô để có khối lượng thấp hơn qui định.

- Lô hạt giống phải đồng đều. Trong trường hợp nghi ngờ lô hạt giống là không đồng đều thì phải tiến hành đánh giá mức độ không đồng đều của lô hạt giống như chỉ dẫn ở phần phụ lục 1.A.1.

- Lô hạt giống phải được đóng bao qui cách hoặc đựng trong vật chứa, được niêm phong, gắn nhãn hoặc đánh dấu để phân biệt rõ ràng với các lô hạt giống khác và đảm bảo nhận ra đúng lô giống đã được lấy mẫu.

- Lô hạt giống phải được sắp xếp thuận lợi để có thể đi vào lấy mẫu ở tất cả các vị trí trong lô.

1.3.2.3. Lấy mẫu điểm:

a) Số lượng mẫu điểm:

- Đối với các lô hạt giống chứa trong bao qui cách, số mẫu điểm cần lấy được qui định như sau:



Số bao trong lô

Số mẫu điểm cần lấy

£ 5

Lấy tất cả các bao nhưng phải lấy đủ 5 mẫu

6 - 30

Cứ 3 bao lấy 1 mẫu, ít nhất phải đủ 5 mẫu

31 - 400

Cứ 5 bao phải lấy 1 mẫu, ít nhất phải đủ 10 mẫu

> 400

Cứ 7 bao lấy 1 mẫu, ít nhất phải đủ 80 mẫu

- Đối với các lô hạt giống chứa trong bao nhỏ, túi nhỏ hoặc hộp nhỏ thì mỗi đơn vị l00kg hạt giống gồm các bao nhỏ, túi nhỏ hoặc hộp nhỏ có khối lượng tương đương nhau sẽ được coi là một bao qui cách và số mẫu điểm cần lấy được áp dụng như đối với lô hạt giống đóng bao qui cách.

- Đối với các lô hạt giống chưa đóng bao, số mẫu điểm cần lấy được qui định như sau:



Khối lượng của lô

Số mẫu điểm cần lấy

£ 500 kg

Phải lấy đủ 5 mẫu

501 - 3000 kg

Cứ 300 kg lấy 1 mẫu, nhưng không ít hơn 5 mẫu

3001 - 20000 kg

Cứ 500 kg lấy 1 mẫu, nhưng không ít hơn 10 mẫu

> 20000 kg

Cứ 700 kg lấy 1 mẫu, nhưng không ít hơn 40 mẫu

b) Cách lấy mẫu điểm:

Các mẫu điểm phải có khối lượng gần bằng nhau và được lấy ngẫu nhiên ở các bao hoặc vật chứa theo qui định sau đây:

- Khi các hạt giống có chứa trong bao qui cách thì các mẫu điểm sẽ được chọn ngẫu nhiên đều khắp cả lô và dùng xiên để lấy mẫu ở các bao (ở đỉnh, ở giữa hoặc ở đáy bao nhưng mỗi bao chỉ cần lấy ở một điểm).

- Khi hạt giống được chứa trong vật chứa lớn hoặc chưa đóng bao thì các mẫu điểm sẽ được lấy ngẫu nhiên ở các vị trí và các độ sâu khác nhau trong lô, mỗi mẫu lấy tại một điểm bằng loại xiên dài thích hợp.

- Khi hạt giống là loại có vỏ ráp không thể dùng xiên lấy ra được thì các mẫu điểm có thể lấy bằng tay.

- Khi hạt giống được chứa trong các hộp nhỏ hoặc bao chống ẩm (bao ni-lon, hộp sắt tây...) thì nên lấy mẫu trước khi đóng bao, hoặc phải mở ra để lấy mẫu, sau đó đóng kín lại và chuyển sang bao gói mới.

- Có thể lấy mẫu khi hạt giống đang chảy trong băng chuyền đóng gói nhưng phải đảm bảo lấy mẫu đều đặn ngang qua mặt cắt của dòng hạt và không làm rơi vãi hạt ra ngoài.

1 3.2.4. Lập mẫu hỗn hợp:

Nếu các mẫu điểm được coi là đồng đều thì chúng sẽ được trộn lại với nhau để thành mẫu hỗn hợp.

1.3.2.5. Lập mẫu gửi:



(a) Cách lập mẫu gửi:

- Từ mẫu hỗn hợp lấy ra một lượng mẫu nhỏ hơn, bằng một trong các phương pháp chia mẫu được qui định ở điều 1.4. Nếu không có điều kiện để tiến hành chia mẫu thì phải đưa toàn bộ mẫu hỗn hợp về phòng kiểm nghiệm để chia thành các mẫu nhỏ.

- Khối lượng mẫu gửi phải đảm bảo qui định như bảng 1.A

- Nếu mẫu hỗn hợp có khối lượng tương đương với khối lượng mẫu gửi thì có thể coi toàn bộ mẫu hỗn hợp là mẫu gửi.



(b) Cách gửi mẫu:

- Trước khi gửi mẫu phải ghi đầy đủ các thông tin và ký hiệu của lô hạt giống đã được lấy mẫu, nếu lô hạt giống được xử lý hóa chất thì phải ghi tên của hóa chất đã dùng để xử lý.

- Mẫu gửi phải đóng gói cẩn thận để tránh bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển và chỉ đựng trong bao chống ẩm trong 2 trường hợp sau: (1) Mẫu gửi để riêng để làm ẩm độ, (2) Lô giống có thủy phần thấp và cũng được chứa trong bao chống ẩm. Trong các trường hợp khác thì mẫu gửi nên đựng vào bao giấy hoặc bao vải.

- Mẫu phải được gửi ngay về phòng kiểm nghiệm càng sớm càng tốt và không được gửi qua tay người thứ hai nếu không được người lấy mẫu hoặc phòng kiểm nghiệm ủy quyền.



(c) Xử lý khi trong mẫu có tạp chất lớn:

Nếu trong mẫu hỗn hợp có tạp chất lớn khó phân đều, phải loại bỏ tạp chất ấy ra khỏi mẫu và xác định khối lượng tạp chất mà phần mẫu gửi phải gánh chịu theo công thức:



Trong đó:

t- Là khối lượng (g) tạp chất mỗi mẫu gửi phải gánh chịu.

T- Là khối lượng (g) tạp chất lớn được tách ra từ mẫu hỗn hợp.

M - Là khối lượng (g) thực tế của mẫu hỗn hợp đã được tách tạp chất lớn.

m - Là khối lượng (g) thực tế của mẫu gửi.

Độ chính xác khi cân như qui định ở phương pháp phân tích độ sạch (điều 2.5.2).

1.4. Các phương pháp chia mẫu:

1.4.1. Chia mẫu bằng thiết bị:

Phương pháp này thích hợp cho tất cả các loại hạt giống, trừ các dạng hạt quá nhẹ và ráp không thể dùng các thiết bị này chia mẫu được.

- Thiết bị chia mẫu dạng hình nón (conical divider):

Đổ hạt vào phễu của thiết bị, mở nhanh chốt ngăn hạt để hạt tự chảy xuống dưới hai hộp đựng mẫu. Tiếp tục chia như vậy cho tới khi đủ lượng mẫu cần lấy ra.

- Thiết bị chia mẫu dạng hộp (soil divider):

Rót hạt đều đặn vào máng chia mẫu để hạt tự chảy xuống hai hộp đựng mẫu. Tiếp tục chia như vậy cho tới khi đủ lượng mẫu cần lấy ra.

1.4.2. Chia mẫu bằng tay:

Phương pháp này có thể dùng đối với các loại hạt có vỏ trấu như lúa, lúa mì, mạch, cao lương... hoặc những nơi không có thiết bị chia mẫu.

Dụng cụ: Xẻng xúc hạt, dao gạt mẫu.

Cách làm:

- Đổ hạt trên bề mặt nhẵn, sạch.

- Trộn thật đều đống hạt bằng xẻng xúc hạt và dao gạt mẫu.

- Dàn đều đống hạt thành một lớp mỏng hình vuông.

- Chia đôi đống hạt thành hai phần bằng nhau theo hai đường chéo hoặc đường trung bình, sau đó tiếp tục chia đôi thành 4 phần bằng nhau.

- Gộp hai phần đối diện với nhau thành một mẫu nhỏ.

- Khi cần thêm hoặc bớt thì tiếp tục chia theo cách như vậy cho đến khi đủ lượng mẫu cần lấy ra.

1.4.3. Chia mẫu bằng thìa:

Phương pháp này chỉ được dùng đối với các mẫu có kích thước hạt quá nhỏ hoặc khi cần lấy ra một lượng mẫu rất nhỏ.

Dụng cụ: Khay, xẻng xúc hạt và thìa có mép thẳng.

Sau khi trộn mẫu, rót đều hạt lên khay, không lắc khay khi rót xong hạt. Với một tay cầm thìa, tay kia cầm xẻng và dùng cả hai để xúc từng lượng nhỏ hạt, ít nhất ở năm vị trí ngẫu nhiên trong khay. Lấy như thế cho tới khi đủ lượng mẫu cần lấy ra.

1.5. Lập mẫu phân tích:

Khối lượng tối thiểu của các mẫu phân tích phải phù hợp với qui định ở từng phép thử.

Khi lập mẫu phân tích phải tiến hành chia mẫu theo đúng một trong các phương pháp chia mẫu được qui định ở điều 1.4.

1.6. Bảo quản mẫu:

- Mẫu gửi phải được tiến hành thử nghiệm càng sớm càng tốt ngay sau khi tiếp nhận mẫu. Những mẫu chưa kịp làm trong ngày sau khi tiếp nhận. Những mẫu chưa kịp làm trong ngày thì phải bảo quản nơi có nhiệt độ thấp và thoáng mát để không làm thay đổi chất lượng của mẫu.

- Phần mẫu lưu phải được bảo quản trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ thấp để hạn chế mức thấp nhất những thay đổi về chất lượng của mẫu. Thời hạn bảo quản mẫu lưu thường là 6 tháng đến 1 năm, tùy theo mùa vụ, thời gian thu hoạch và đặc tính sinh học của loài cây trồng đó.

2. Phân tích độ sạch (Purity analysis)



2.1. Mục đích:

Mục đích phân tích độ sạch là để xác định:

a) Các thành phần trong mẫu (tính bằng tỷ lệ phần trăm khối lượng), từ đó suy ra thành phần của lô hạt giống.

b) Số lượng hạt cỏ dại và sâu mọt sống có mặt trong mẫu và trong lô hạt giống.



2.2. Định nghĩa

2.2.1. Hạt sạch (pure seed):

Hạt sạch là hạt của loài cây trồng mà người gửi mẫu yêu cầu kiểm tra hoặc chiếm ưu thế trong mẫu phân tích, bao gồm tất cả các giống của loài cây trồng đó.

Hạt sạch gồm các thành phần sau đây:

- Các hạt giống nguyên vẹn (kể cả các hạt xanh non, bé nhỏ, teo quắt, bị bệnh hoặc đã nảy mầm nhưng vẫn có nội nhũ và được xác định chắc chắn là của loài đó nếu chúng không bị chuyển thành hạch nấm, cục nấm hoặc nốt tuyến trùng) và các dạng hạt giống đặc biệt như bông chét, quả bế, quả nẻ, quả dĩnh...được qui định đối với từng chi (genus) hoặc từng loài (species) ở phần các định nghĩa về hạt sạch trong phụ lục 2.B.1 và 2.B.2.

- Các mẫu vỡ của hạt giống có kích thước lớn hơn một nửa kích thước ban đầu của chúng.

2.2.2. Hạt khác loài (other seeds):

Hạt khác loài là hạt của các loài cây trồng khác với loài của hạt sạch.

2.2.3. Tạp chất (inert matter):

Tạp chất gồm các dạng hạt và các dạng vật chất khác không được coi là hạt sạch hoặc hạt khác loài.

Cụ thể là:

- Các dạng quả bé mà bên trong không có hạt giống.

- Các mẫu vỡ hoặc gãy của hạt giống có kích thước bằng hoặc có kích thước dưới một nửa kích thước ban đầu.

- Các bộ phận khác của hạt giống không được đưa vào phần của hạt sạch (được qui định cụ thể ở phần phụ lục 2.B.1 và 2.B.2) thì phải tách ra đưa vào phần tạp chất.

- Các hạt giống thuộc họ đậu đỗ (Leguminosea), họ thập tự (Cruciferea) bị mất vỏ hoàn toàn.

- Các hạt giống ở họ đậu đỗ (Leguminosea) bị tách đôi cũng được coi là tạp chất, mặc dù có vỏ hạt.

- Các hạt rỗng , vỏ trấu, lông, râu, cọng, lá, các thể nấm và côn trùng, đất, cát, đá sỏi và các dạng vật chất khác.

2.3. Nguyên tắc chung:

Mẫu phân tích độ sạch được tách ra 3 thành phần là: Hạt sạch, hạt khác loài và tạp chất. Tỷ lệ phần trăm của mỗi thành phần được xác định theo khối lượng của chúng ở trong mẫu.



2.4. Thiết bị và dụng cụ:

Máy thổi hạt hoặc sàng, rây thích hợp.

Cân có độ chính xác thích hợp.

- Kính lúp.

- Hộp petrie, panh gắp hạt ...

2.5. Cách tiến hành:

2.5.1. Mẫu phân tích:

Mẫu phân tích độ sạch được lấy ra từ mẫu gửi bằng một trong các phương pháp chia mẫu qui định ở điều 1.4. Mẫu phân tích độ sạch có thể là một mẫu có khối lượng tối thiểu như qui định ở bảng 1.A, hoặc có thể là 2 mẫu mỗi mẫu có khối lượng tối thiểu bằng một nửa khối lượng qui định ở bảng 1.A được lấy riêng rẽ từ mẫu gửi .

2.5.2 Tách các thành phần trong mẫu:

- Mẫu phân tích sau khi cân sẽ được tách ra các thành phần như qui định ở điều 2.2. Nói chung cách làm là quan sát bằng mắt thường hoặc dùng kính lúp và ánh sáng, kiểm tra kỹ từng hạt và các thành phần khác có trong mẫu. Trong một số trường hợp có thể dùng sàng, rây hoặc máy thổi để tách sơ bộ các thành phần quá nhẹ, quá nhỏ hoặc quá nặng ra khỏi mẫu.

- Khi phân tích phải căn cứ vào các định nghĩa cụ thể về hạt sạch đối với từng loài được chỉ dẫn ở phần phụ lục 2.B.1 và 2.B.2.

- Khi cần thiết có thể dùng các biện pháp cơ học như ấn nhẹ tay lên hạt để kiểm tra hạt giống nhưng không được làm ảnh hưởng tới khả năng nảy mầm của hạt giống sau này.

- Khi trong mẫu gặp các loài khó phân biệt hoặc không thể phân biệt được thì cách làm như chỉ dẫn ở phần phụ lục 2.A.l .

- Khi trong mẫu gặp các loại cỏ dại thuộc họ Hòa thảo (Gramineae) thì phải tính số hạt cỏ dại như qui định ở điều 2.5.3.

- Khi trong mẫu gặp các dạng côn trùng gây hại còn sống thì phải tính số lượng sâu mọt sống như quy định ở điều 2.5.4.

- Sau khi tách xong, từng thành phần (hạt sạch, hạt khác loài và tạp chất) sẽ được cân khối lượng (g) để tính tỷ lệ phần trăm. Tùy theo khối lượng của mẫu phân tích, số lẻ khi cân được qui định như sau:

Khối lượng mẫu phân tích

Số lẻ cần lấy

< 1, 000

4

1,000 - 9,999

3

10,00 - 99,99

2

100,0 - 999,9

1

³ 1000

0

2.5.3. Cách tính số hạt cỏ dại:

- Nguyên tắc chung là đếm tổng số hạt cỏ dại được tách ra trong phần hạt khác loài của phép thử phân tích độ sạch, sau đó tính toán số lượng hạt cỏ dại trong 1 kg mẫu phân tích.

- Nếu người gửi mẫu yêu cầu xác định tên loài cỏ dại thì phải ghi đầy đủ tên và số lượng hạt của các loài cỏ dại được yêu cầu kiểm tra.

- Kết quả được báo cáo là số hạt/kg hạt giống và được làm tròn đến số nguyên.



Lưu ý: Nếu phát hiện trong mẫu có hạt cỏ dại thuộc đối tượng kiểm dịch thì phải ngừng công việc phân tích, đề nghị niêm phong ngay lô hạt giống đó và thông báo ngay cho các cơ quan kiểm dịch thực vật xử lý.

2.5.4. Cách tính số lượrng sâu mọt sống:

- Sâu mọt sống bao gồm tất cả các dạng sâu mọt còn sống của các loài côn trùng gây hại có mặt trong mẫu.

- Nguyên tắc chung cũng giống như đối với các hạt cỏ dại, các dạng côn trùng còn sống được tách ra từ phần mẫu phân tích độ sạch, sau đó đếm và dùng tay giết chết côn trùng rồi đưa vào phần tạp chất để tính toán khối lượng của tạp chất.

- Nếu người gửi mẫu yêu cầu xác định tên loài côn trùng thì phải ghi đầy đủ tên và số lượng của những loài côn trùng đó.

- Kết quả được báo cáo là số con/kg hạt giống và được làm tròn đến số nguyên



Lưu ý: Nếu phát hiện trong mẫu có sâu mọt là đối tượng kiểm dịch thì phải ngừng ngay công việc phân tích, đề nghị niêm phong lô hạt giống và thông báo cho các cơ quan kiểm dịch thực vật xử lý.

2.6. Tính toán kết quả:

2.6.1. Phân tích một mẫu toàn bộ:

- Kiểm tra lại số liệu bằng cách cộng khối lượng của tất cả các thành phần đã tách ra từ mẫu phân tích. Nếu tổng số này chênh lệch quá 5% so với khối lượng ban đầu của mẫu phân tích thì phải làm lại phép thử, kết quả của lần thử nghiệm sau sẽ được dùng để tính toán.

- Tính tỷ lệ phần trăm khối lượng của mỗi thành phần, lấy tới một số lẻ sau đơn vị. Tỷ lệ này phải dựa trên tổng khối lượng thực tế của các phần được tách ra, không dựa trên khối lượng ban đầu của mẫu phân tích.

- Cách làm tròn số:

Nếu tổng các thành phần trong mẫu không đúng bằng 100% (hoặc 99,9% hoặc 100,1 %) thì phải cộng thêm hoặc bớt đi 0,1 % ở phần có giá trị lớn nhất (thường là phần hạt sạch).

- Trường hợp trên mẫu gửi có ghi khối lượng của tạp chất lớn mà mỗi mẫu gửi phải gánh chịu thì khi tính toán kết quả phải tính cả phần tạp chất này.

2.6.2. Phân tích hai nửa mẫu:

- Kiểm tra lại số liệu trong từng mẫu bằng cách cộng khối lượng của các thành phần đã tách ra ở nửa mẫu đó như qui định đối với trường hợp phân tích cả mẫu.

- Tính tỷ lệ phần trăm khối lượng mỗi thành phần của nửa mẫu (dựa trên tổng khối lượng của các thành phần ở nửa mẫu đó), lấy tới hai số lẻ sau đơn vị. Từ các kết quả của mỗi thành phần trong từng nửa mẫu, tính kết quả trung bình của thành phần đó ở cả hai nửa mẫu, lấy tới hai số lẻ sau đơn vị.

- Sai số cho phép giữa các kết quả của hai nửa mẫu:

Kết quả của mỗi thành phần ở 2 nửa mẫu không được chênh lệch quá số cho phép qui định ở bảng 2.C.1. Nếu kết quả của một thành phần nào đó ở 2 nửa mẫu chênh lệch quá sai số cho phép thì phải làm như sau:

Phân tích 2 nửa mẫu khác (nhưng không quá 4 lần) cho đến khi có một lần có kết quả nằm trong sai số cho phép.

Loại bỏ bất kỳ cặp nửa mẫu nào có kết quả chênh lệch lớn hơn 2 lần sai số cho phép.

Kết quả cuối cùng của các thành phần sẽ được tính từ số liệu của các nửa mẫu còn lại

- Cách làm tròn số.

Kết quả cuối cùng của mỗi thành phần sẽ được lấy tới một số lẻ sau đơn vị, cách làm tròn số như qui định trong trường hợp phân tích cả mẫu.

2.6.3. Phân tích 2 mẫu toàn bộ:

Trong trường hợp phải làm thêm phép thử thứ 2 cũng là một phần mẫu phân tích toàn bộ thì thực hiện như sau:

- Tiến hành phân tích các thành phần của mẫu như qui định ở điều 2.5.2 và tính toán kết quả như qui định ở điều 2.6.(a).

Sai số cho phép:

Nếu kết quả của hai lần thử nghiệm không vượt quá sai số cho phépđược qui định ở cột 5 hoặc cột 6 trong bảng 2.C.1 thì kết quả được báo cáo sẽ dựa vào các số liệu ở lần thử nghiệm đầu tiên.

Nếu kết quả của 2 lần thử nghiệm vượt quá sai số cho phép thì phải tiến hành phân tích thêm một mẫu thứ 3. Nếu số liệu cao nhất và thấp nhất của cả ba lần thử không chênh lệch quá 2 lần sai số cho phép ở cột 5 hoặc cột 6 trong bảng 2.C.1 thì kết quả cuối cùng sẽ là số liệu trung bình của cả 3 lần thử, trừ khi có 1 hoặc vài số liệu vượt quá hai lần sai số cho phép thì phải loại bỏ lần thử có những số liệu đó.

- Cách làm tròn số như qui định ở điều 2.6.(a).



2.7. Báo cáo kết quả:

- Độ sạch được báo cáo là tỷ lệ phần trăm của hạt sạch, lấy tới một số lẻ sau đơn vị và tạp chất được báo cáo là tỷ lệ phần trăm của tạp chất và phần hạt khác loài gộp lại.

- Số hạt cỏ dại sẽ được báo cáo là số hạt trong 1kg hạt giống, lấy tròn đến số nguyên.

- Số lượng sâu mọt sống sẽ được báo cáo là số con trong 1 kg hạt giống, lấy tròn đến số nguyên.

- Khi kết quả của bất kỳ một thành phần nào đó mà thấp hơn 0,05% thì sẽ được ghi là " không đáng kể " . Nếu kết quả bằng không thì ghi là "-0.0-"

3. Xác định khối lượng 1000 hạt (Weight determination)

3.1. Mục đích:

Mục đích là để xác định khối lượng 1000 hạt của mẫu gửi.



3.2. Nguyên tắc:

Mẫu phân tích để xác định khối lượng 1000 hạt được lấy ra từ phần hạt sạch, đếm và cân để tính khối lượng 1000 hạt.



3.3. Thiết bị và dụng cụ:

- Máy đếm hạt hoặc dụng cụ đếm hạt thích hợp.

- Cân phân tích có độ chính xác thích hợp.

- Dao gạt mẫu.

- Hộp đựng mẫu: Hộp petrie, hộp nhựa ...

3.4. Cách tiến hành:

3.4.1. Mẫu phân tích:

Mẫu phân tích để xác định khối lượng 1000 hạt là toàn bộ phần hạt sạch của phép thử phân tích độ sạch.

3.4.2. Đếm toàn bộ mẫu phân tích:

Dùng máy đếm hạt đếm toàn bộ mẫu phân tích. Sau khi đếm, tiến hành cân toàn bộ mẫu (g), lấy số lẻ khi cân như qui định ở phương pháp phân tích độ sạch (điều 2.5.2).

3.4.3. Đếm các lần nhắc:

- Từ mẫu phân tích lấy ra ngẫu nhiên 8 mẫu, mỗi mẫu 100 hạt (bằng tay hoặc bằng máy đếm hạt).

- Cân từng mẫu (g), lấy số lẻ như phương pháp phân tích độ sạch (điều 2.5.2).

- Kiểm tra số liệu:

Tính độ lệch chuẩn của 8 lần nhắc theo công thức:



Trong đó:

X - là khối lượng (g) của từng lần nhắc.

N - là tổng số lần nhắc.

Tính hệ số biến thiên:



X

Trong đó:

- là khối lượng trung bình (g) của 100 hạt từ 8 lần nhắc.

s - là độ lệch chuẩn của các lần nhắc.

Nếu hệ số biến thiên V£ 6 đối với các loại hạt có vỏ trấu và V £ 4 đối với các loại hạt khác thì kết quả của xét nghiệm dùng để tính toán.



X

Nếu hệ số biến thiên V vượt ra ngoài giới hạn này không nhiều thì phải làm tiếp 8 mẫu khác và tính độ lệch chuẩn cho cả 16 mẫu. Loại bỏ những mẫu có khối lượng vượt ra ngoài ± 2s. Các mẫu còn lại sẽ được dùng để tính toán kết quả.

3.5. Tính toán kết quả:

Nếu đếm cả mẫu phân tích thì khối lượng của 1000 hạt sẽ được tính toán từ khối lượng (g) của cả mẫu, lấy tới một số lẻ sau đơn vị.

- Nếu đếm các lần nhắc thì khối lượng của 1000 hạt sẽ được tính theo công thức:

M = 10 .

Trong đó:

- Là khối lượng (g) trung bình của các lần nhắc.

M - Là khối lượng (g) của 1000 hạt, lấy tới một số lẻ sau đơn vị.



3.6. Báo cáo kết quả:

Kết quả khối lượng 1000 hạt sẽ được báo cáo như tính toán ở điều 3.5.

4. Xác định hạt khác giống (Determination of other veriety seeds)

4.1. Mục đích:

Mục đích là để xác định tỷ lệ phần trăm số hạt khác giống trong mẫu phân tích, từ đó suy ra tỷ lệ hạt khác giống ở trong lô hạt giống.



4.2. Định nghĩa:

4.2.1. Mẫu chuẩn (seed standard sample):

Là mẫu hạt giống có đặc điểm về hình thái và sinh lý phù hợp với mô tả của giống, do chính tác giả của giống đó cung cấp hoặc được nhân từ giống tác giả và được các cơ quan khảo nghiệm giống Quốc gia công nhận.

4.2.2. Hạt khác giống (other variety seed):

Là hạt của giống khác, có những đặc điểm phân biệt rõ rệt với mẫu chuẩn của giống mà người gửi mẫu yêu cầu xét nghiệm, được tính bằng tỷ lệ phần trăm số hạt trong mẫu kiểm tra.

4.3. Nguyên tắc chung:

- Phép thử hạt khác giống được tiến hành từ phần hạt sạch như qui định ở phương pháp phân tích độ sạch (điều 2.2.l).

- Các hạt khác giống được đếm và tính tỷ lệ phần trăm số hạt trong mẫu phân tích.

- Phương pháp kiểm tra hạt khác giống trong tiêu chuẩn này chủ yếu là dựa vào các đặc điểm sai khác bên ngoài của hạt giống và sự quyết định của người phân tích, do vậy người làm phép thử này phải có kinh nghiệm trong việc phân tích hạt khác giống và phải có sẵn các tiêu bản mẫu chuẩn để so sánh.



4.4. Thiết bị và dụng cụ:

- Mẫu chuẩn của giống cần kiểm tra.

- Bàn soi hạt có bàn và kính lúp.

- Cân có độ chính xác thích hợp.

- Các dụng cụ khác: dao gạt, panh, hộp petrie, khay...

4.5. Cách tiến hành:

4.5.1. Chuẩn bị mẫu phân tích:

4.5.1.1. Phân tích một mẫu toàn bộ:

Mẫu phân tích có khối lượng tương đương 25.000 đơn vị hạt giống hoặc không ít hơn khối lượng qui định ở bảng 1 .A.

4.5.1.2. Phân tích hai mẫu nhỏ:

Hai mẫu phân tích, mỗi mẫu có khối lượng tương đương 10.000 đơn vị hạt giống (đối với cấp nguyên chủng) hoặc 5000 đơn vị hạt giống (đối với cấp xác nhận).

Trong cả hai trường hợp (a) và (b), mẫu phân tích phải được lấy ra từ phần hạt sạch như qui định ở phương pháp phân tích độ sạch.

4.5.2. Kiểm tra mẫu:

- Mẫu phân tích được kiểm tra kỹ từng hạt như phân tích độ sạch. Nói chung cách làm là quan sát bằng mắt thường hoặc dùng đèn và kính lúp hoặc kính hiển vi lập thể (stereo-microscope) để nhặt những hạt nghi ngờ là hạt khác giống.

- Kiểm tra lại các hạt nghi ngờ bằng cách so sánh lại với mẫu chuẩn của giống, hoặc với tài liệu, hình vẽ (nếu có), hoặc tiến hành như hướng dẫn ở phần phụ lục 4.A.1.



4.6. Tính toán kết quả:

Kết quả phân tích được tính toán bằng tỷ lệ phần trăm số hạt khác giống trong tổng số hạt kiểm tra, lấy tới 2 số lẻ sau đơn vị.

Nếu phép thử được tiến hành với 2 mẫu phân tích thì kết quả được tính là tỷ lệ phần trăm trung bình của cả 2 mẫu, nếu số hạt khác giống của 2 mẫu không chênh lệch quá sai số cho phép ở bảng 4.A.

Nếu kết quả phân tích vượt quá sai số cho phép thì phải làm lại 2 mẫu phân tích khác và kết quả sẽ được tính toán từ 2 mẫu phân tích làm lại.



4.7. Báo cáo kết quả:

Kết quả của xét nghiệm hạt khác giống sẽ được báo cáo là tỷ lệ phần trăm hạt khác giống, lấy tới 2 số lẻ sau đơn vị.

5. Thử nghiệm nảy mầm (Germination test)

5.1. Mục đích:

Mục đích của thử nghiệm nảy mầm là xác định khả năng nảy mầm tối đa của lô hạt giống và cung cấp kết quả để so sánh chất lượng các lô hạt giống khác nhau hoặc để tính toán lượng hạt giống cần để gieo trồng.



5.2. Định nghĩa:

5.2.1. Sự nảy mầm (germination):

Sự nảy mầm của hạt giống trong điều kiện phòng thí nghiệm là sự xuất hiện và phát triển của cây mầm ở giai đoạn mà các bộ phận chính của nó chứng tỏ là có thể hoặc không có thể phát triển tiếp thành cây bình thường dù gặp điều kiện thuận lợi ở ngoài đồng ruộng.

5.2.2. Tỷ lệ nảy mầm (percentage germination):

Là tỷ lệ phần trăm số hạt mọc thành cây mầm bình thường trong các điều kiện được qui định ở bảng 5.A.

5.2.3. Các bộ phận chính của cây mầm (essential seedling structures):

Các bộ phận chính của cây mầm bao gồm: rễ mầm, thân mầm, lá mầm, chồi mầm hoặc bao lá mầm (ở họ hòa thảo-gramineae).

5.2.4. Cây mầm bình thường (normal seedling):

Cây mầm bình thường là những cây mầm có khả năng tiếp tục phát triển thành cây bình thường khi được trồng trong điều kiện thích hợp về đất, độ ẩm, nhiệt độ và ánh sáng.

Các loại cây mầm sau đây được coi là mầm bình thường:

(l) Cây mầm nguyên vẹn (intact seedling): Các bộ phận chính của cây mầm phát triển tốt, đầy đủ, cân đối và khỏe mạnh.

(2) Cây mầm có khuyết tật nhẹ (seedling with slight defect): Cây mầm có những khuyết tật nhẹ ở những bộ phận chính nhưng vẫn chứng tỏ khả năng phát triển bình thường, cân đối so với cây mầm khỏe trong cùng một mẫu thử nghiệm.

(3) Cây mầm bị nhiễm bệnh thứ cấp (seedlings with secondary infection): Cây mầm nguyên vẹn, khỏe mạnh hoặc có khuyết tật nhẹ như qui định ở (1) và (2) nhưng bị lây bệnh do nấm hoặc vi khuẩn từ các nguồn khác ở bên ngoài hạt giống xâm nhập vào.

5.2.5. Cây mầm không bình thường (abnormal seedlings):

Cây mầm không bình thường là những cây mầm không có khả năng phát triển thành cây bình thường dù được trồng trong điều kiện thuận lợi về ẩm độ, nhiệt độ và ánh sáng. Các cây mầm sau đây sẽ được coi cây mầm không bình thường:

(1) Cây mầm bị hỏng (damage seedlings) : Cây mầm có bất kỳ một bộ phận chính nào đó bị mất, bị hỏng nặng không thể phục hồi để tiếp tục phát triển cân đối được.

(2) Cây mầm bị biến dạng hoặc mất cân đối (deformed or unbalanced seedling):

Cây mầm phát triển yếu ớt, bị rối loạn về sinh lý hoặc các bộ phận chính bị biến dạng, mất cân đối về kích thước.

(3) Cây mầm bị thối (decayed seedling): Cây mầm có một bộ phận chính nào đó bị bệnh hoặc bị thối do nguồn bệnh sơ cấp (nguồn bệnh có từ hạt giống) gây cản trở đến sự phát triển bình thường của cây mầm.

5.2.6.Hạt không nảy mầm (ungerminated seeds):

(1) Hạt cứng (hard seed): Là hạt còn cứng ở giai đoạn kết thúc xét nghiệm nảy mầm do không hút được nước.

(2) Hạt tươi (fresh seeds): Là hạt không nảy mầm do ngủ nghỉ sinh lý nhưng vẫn sạch, chắc và sẽ có khả năng phát triển thành cây mầm bình thường.

(3) Hạt chết (dead seeds): Các hạt không cứng, không tươi và không có bất kỳ bộ phận nào của cây mầm.

(4) Các hạt khác (other categories): Hạt rỗng, hạt không có phôi, hạt bị côn trùng phá hỏng ...



5.3. Nguyên tắc chung:

- Mẫu thử nảy mầm được lấy từ phần hạt sạch trong phép thử phân tích độ sạch.

- Không xử lý hạt giống trước khi nảy mầm, trừ những trường hợp được qui định ở điều 5.6.3 (xử lý hạt). Khi gặp trường hợp phải xử lý thì kết quả và biện pháp xử lý phải được ghi rõ vào phiếu kết quả kiểm nghiệm.

- Phép thử nảy mầm được bố trí 4 lần nhắc lại và đặt nảy mầm trong những điều kiện qui định cụ thể đối với từng loài như đã qui định trong bảng 5.A.

- Sau thời gian ủ mầm qui định thì tiến hành kiểm tra các lần nhắc và đếm số lượng cây mầm bình thường, cây mầm không bình thường và các hạt không nảy mầm để tính toán, báo cáo kết quả.

5.4. Thiết bị và dụng cụ:

- Thiết bị đếm hạt: Bàn đếm hạt, máy đếm hạt chân không hoặc máy đếm hạt điện tử

- Thiết bị đặt nảy mầm: Tủ ấm, tủ nảy mầm, thiết bị Jacopbsen, phòng nảy mầm...

- Các dụng cụ khác: Dao gạt, panh gắp, khay, hộp petrie...



5.5. Vật liệu nảy mầm:

- Các loại vật liệu dùng để đặt nảy mầm có thể là: Giấy, cát, đất, nước ...

- Các vật liệu dùng để đặt nảy mầm phải đáp ứng các yêu cầu như qui định ở phần phụ lục 5.A.1.1.

5.6. Cách tiến hành:

5.6.1. Mẫu phân tích:

Lấy ngẫu nhiên 400 hạt cho 4 lần nhắc lại, mỗi lần 100 hạt từ phần hạt sạch của phép thử độ sạch. Các lần nhắc có thể được chia nhỏ thành 50 hạt hoặc 25 hạt tùy theo kích thước của hạt và khoảng cách cần thiết giữa các hạt với nhau.

5.6.2. Đặt nảy mầm:

Phương pháp và điều kiện đặt nảy mầm đối với từng loài cây trồng được qui định cụ thể ở bảng 5.A.1.2.

Các phương pháp nảy mầm được hướng dẫn ở phần phụ lục 5.A.2.

Việc lựa chọn phương pháp và điều kiện nảy mầm là tùy thuộc vào phương tiện và kinh nghiệm của phòng kiểm nghiệm và xuất xứ của mẫu. Nếu phương pháp đã được chọn chưa thật thích hợp với mẫu thử thì có thể làm lại phép thử bằng phương pháp khác cũng được qui định ở bảng 5.A.

5.6.3. Xử lý hạt:

Khi kết thúc thử nghiệm nếu thấy có nhiều hạt cứng hoặc hạt tươi, hoặc nghi ngờ hạt đang ở thời kỳ ngủ nghỉ thì phải tiến hành xử lý bằng một trong các biện pháp được qui định cụ thể đối với từng loại cây trồng ở cột 7 của bảng 5.A.

Các kỹ thuật xử lý để kích thích hạt nảy mầm được hướng dẫn ở phần phụ lục 5.A.3 và 5.A.4.

Trong trường hợp biết chắc chắn hạt đang ngủ nghỉ thì có thể tiến hành các biện pháp xử lý trước khi đặt nảy mầm mà không cần đợi kết quả thử nghiệm như qui định ở trên.

5.6.4. Thời gian ủ mầm:

Thời gian ủ mầm cho từng loại cây trồng phải đảm bảo như qui định ở bảng 5.A.

Trong trường hợp cần thiết có thể kéo dài thời gian đặt nảy mầm như qui định ở phần hướng dẫn kiểm tra cây mầm ở phần phụ lục 5.A.6.

5.6.5. Kiểm tra cây mầm:

Sau khi ủ mầm đủ thời gian qui định thì tiến hành kiểm tra kỹ từng cây mầm và các hạt không nảy mầm dựa vào hướng dẫn cụ thể ở phụ lục 5.A.6. Tại lần đếm thứ nhất hay các lần đếm trung gian, những cây mầm được đánh giá là bình thường hoặc bị thối thì phải loại ra khỏi mẫu thử nghiệm. Các cây mầm không bình thường và các hạt không nảy mầm thì để lại đến lần đếm cuối cùng. Có thể kết thúc thử nghiệm trước thời gian qui định (sau lần đếm thứ nhất hoặc các lần đếm trung gian) khi toàn bộ mẫu thử đã được đánh giá một cách chính xác.

Trong trường hợp mẫu đặt nảy mầm trên giấy mà thấy khó giám định thì phải làm lại phép thử khác bằng cách đặt trong cát hoặc trong đất cùng với những điều kiện như khi đặt trong giấy.

5.6.6. Thử nghiệm lại:

Phép thử nảy mầm phải làm lại trong những trường hợp sau:

(a) Khi nghi ngờ hạt đang ở trạng thái ngủ nghỉ.

(b) Khi các kết quả của phép thử không đáng tin cậy do bị nhiễm độc hoặc bị nhiễm nấm và vi khuẩn.

(c) Khi thấy có một số cây mầm khó đánh giá.

(d) Khi có sai sót trong các điều kiện đặt nảy mầm, trong khi giám định hoặc đếm cây mầm.

(e) Khi các kết quả của 4 lần nhắc (mỗi lần 100 hạt) vượt quá sai số cho phép ở bảng 5.B.

Cách tiến hành thử nghiệm lại và báo cáo kết quả của các lần thử nghiệm lại được qui định ở phần phụ lục 5.A.5.

5.6.7. Tính toán kết quả:

Kết quả của thử nghiệm nảy mầm là tỷ lệ phần trăm trung bình của cây mầm bình thường, cây mầm không bình thường, hạt cứng, hạt tươi và hạt chết của 4 lần nhắc (mỗi lần 100 hạt), được lấy tròn đến số nguyên. Trong trường hợp các lần nhắc là 50 hạt hoặc 25 hạt thì gộp lại thành các lần nhắc 100 hạt để tính toán.

5.7. Báo cáo kết quả:

Khi báo cáo kết quả nảy mầm phải báo cáo đầy đủ các thông tin sau đây:

- Số ngày đặt nảy mầm.

- Tỷ lệ phần trăm cây mầm bình thường, cây mầm không bình thường, hạt cứng, hạt tươi và hạt chết. Nếu có một trong các số liệu này bằng không thì phải ghi là “ -0-“

Nên báo cáo thêm các thông tin sau đây:

- Phương pháp và nhiệt độ đặt nảy mầm.

- Các biện pháp xử lý để kích thích nảy mầm (nếu có).

- Kết quả nảy mầm khi thời gian thử nghiệm phải kéo dài thêm.

- Kết quả của lần thử nghiệm thứ 2 khi phải tiến hành thử nghiệm lại.

Nếu người gửi mẫu có yêu cầu thì báo cáo thêm các thông tin sau đây:

- Kết quả của thử nghiệm bổ sung (nếu có).

- Khả năng sống của các hạt không nảy mầm và phương pháp xác định.

- Các hạt không nảy mầm khác như qui định ở điều 5.2.6.(4).

6. Xác định ẩm độ (Determination of moisture content)



6.1. Mục đích:

Mục đích là để xác định độ ẩm của hạt bằng phương pháp sấy khô.



6.2. Định nghĩa:

Độ ẩm của mẫu là tỷ lệ phần trăm khối lượng mẫu giảm đi sau khi được sấy khô theo phương pháp qui định so với khối lượng ban đầu của mẫu.



6.3. Nguyên tắc:

Các phương pháp được tiến hành để xác định độ ẩm phải hạn chế tới mức thấp nhất sự oxy hóa, sự phân hủy hoặc mất mát các chất dễ bay hơi trong quá trình thực hiện, nhưng phải đảm bảo tách được càng nhiều nước trong mẫu sấy càng tốt.



6.4. Thiết bị và dụng cụ:

- Máy xay mẫu thích hợp.

- Tủ sấy nhiệt độ ổn định.

- Cân phân tích có độ chính xác 0,001g.

- Rây hoặc sàng có lỗ nhỏ 0,5mm; 1,0mm và 4,0mm.

- Hộp sấy mẫu bằng nhôm hoặc thủy tinh (có nắp đậy).

- Bình hút ẩm.

- Kéo gắp hộp sấy mẫu.



6.5. Cách tiến hành:

6.5.1. Chuẩn bị mẫu phân tích:

- Mẫu gửi sẽ được tiếp nhận để xác định độ ẩm chỉ khi mẫu còn nguyên vẹn và được đựng trong túi hoặc bao chống ẩm, càng ít không khí càng tốt. Việc xét nghiệm độ ẩm cần tiến hành ngay sau khi nhận mẫu. Trong quá trình chuẩn bị mẫu phân tích phải hạn chế tới mức thấp nhất thời gian để hở mẫu ra ngoài không khí và đối với những loài không phải xay mẫu thì thời gian này không được quá 2 phút kể từ khi mẫu được lấy ra khỏi bao chứa.

- Trước khi lập mẫu phân tích, mẫu gửi phải được trộn đều bằng một trong những cách sau đây:

(a) Đảo mẫu trong bao bằng một cái thìa.

(b) Đặt đầu hở của một bao đựng mẫu vào đầu hở của một bao tương tự và dốc hạt qua lại giữa hai bao.

- Mỗi lần thử sẽ được tiến hành với hai mẫu phân tích có khối lượng tùy thuộc vào đường kính của hộp đựng mẫu theo qui định như sau:

Đường kính hộp đựng mẫu

Khối lượng mẫu phân tích

< 8cm

4g - 5g

³8cm

10g

  1   2   3   4   5   6   7   8   9


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương