Khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm gừng, tỏi, nghệ lên sức tăng trưởng khi bổ sung vào thành phần thức ăn heo từ giai đoạn 90 ngày tuổi đến xuất chuồng”



tải về 484.67 Kb.
trang1/6
Chuyển đổi dữ liệu20.05.2018
Kích484.67 Kb.
  1   2   3   4   5   6
Chương1

MỞ ĐẦU
    1. Đặt vấn đề


Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi phát triển không ngừng góp phần không nhỏ vào sự phát triển nền kinh tế nước ta. Trong điều kiện chăn nuôi hiện nay, ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích sản xuất như thức ăn, giống, chuồng trại,… bệnh tật cũng đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi.

Và đặc biệt trong tình hình hiện nay bệnh tật bùng phát rất nhiều, người tiêu dùng muốn có thực phẩm thực sự an toàn cũng là điều khó khăn, bên cạnh đó các nhà chăn nuôi, trồng trọt phải đầu tư chi phí khá cao cho việc chăm sóc quản lí, hay trong công tác điều trị.

Dựa trên nguồn tài nguyên thực vật phong phú. Các nhà khoa học nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm bổ sung vào thức ăn cho gia súc, gia cầm đã mang lại một kết quả khả quan. Qua thực tế, chúng tôi tìm hiểu được công dụng của gừng, tỏi, nghệ có các chất như vitamin, khoáng, các chất có tác dụng giống như kháng sinh làm tăng sức đề kháng của heo, tăng khả năng chuyển hóa các chất dinh dưỡng giúp cho cơ thể chống chọi với bệnh tật và mau lớn hơn.Việc ứng dụng những sản phẩm này không những mang lại những sản phẩm sạch, không tồn dư kháng sinh, mà còn đảm bảo về mặt dinh dưỡng, ổn định về mặt chất lượng cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, thử nghiệm về việc sử dụng gừng, tỏi, nghệ trên heo chưa được thực hiện nhiều.

Với hy vọng sau khi bổ sung gừng, tỏi, nghệ vào thức ăn giúp cho heo sẽ hạn chế được bệnh và mau lớn hơn.

Được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi –Thú Y, trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh, được sự giúp đỡ của trại heo Thành An, dưới sự hướng dẫn của Th.s Nguyễn Thị Kim Loan chúng tôi tiến hành đề tài: “ Khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm gừng, tỏi, nghệ lên sức tăng trưởng khi bổ sung vào thành phần thức ăn heo từ giai đoạn 90 ngày tuổi đến xuất chuồng”.

1.2. Mục đích và yêu cầu

1.2.1. Mục đích

Tìm hiểu tác dụng của các loại thảo dược gừng, tỏi, nghệ và hỗn hợp ba loại thảo dược lên tăng trọng và một số bệnh tích trên phổi trong giai đoạn 90 ngày tuổi đến lúc xuất chuồng .



1.2.2.Yêu cầu

Theo dõi một số chỉ tiêu

- Tăng trọng.

-Ngày con bệnh.

-Tính toán hiệu quả kinh tế để đánh giá được mức độ cải thiện kinh tế so với khi không bổ sung chế phẩm.

-Đánh giá mức độ hư hại của phổi.

Chương 2

TỔNG QUAN


    1. Giới thiệu chế phẩm gừng, tỏi, nghệ

2.1.1. Gừng và công dụng

2.1.1.1. Đặc điểm

Gừng có tên khác là can khương, sinh khương

Tên khoa học:Zingiber officinale Rose

Thuộc họ gừng:Zingiberace

Gừng là loại cây sống lâu năm với các thân rễ bò ngang hay tạo thành củ, bao gồm 47 chi và hơn 1000 loài.Nhiều loài là các loại cây cảnh, hay cây gia vị, cây thuốc quan trọng. Gừng thích hợp với điều kiện nhiệt đới và được trồng khắp nước ta, là loài thực vật sinh trưởng ở châu Á, có nguồn gốc từ Ấn Độ. Gừng có vị cay, mùi thơm, tính ấm. Từ lâu, loại thực phẩm này đã đựoc dùng trong ẩm thực và là vị thuốc hữu hiệu.

● Thành phần hóa học của gừng

Trong gừng chứa tinh dầu 2-3%, lipid 3,7%, dầu nhựa 5%, và các chất cay gingerol, zingeron, shagaola (Nguyễn Thiện Luân và ctv,1997).

Gingerol là thành phần quan trọng, chiếm tỉ lệ cao nhất của chất cay quyết định chất lượng gừng. Hiện nay người ta xác định gingerol là hoạt chất chống oxy hóa mạnh.



2.1.1.2. Công dụng

Gừng vốn là một thứ gia vị và cũng là một vị thuốc được sử dụng từ lâu trong dân gian. Trong Ðông y, gừng thường được dùng làm thuốc giải cảm, làm ấm tỳ vị và để chống nôn... Thế nhưng, củ gừng còn có nhiều tác dụng kỳ diệu khác nữa. Những năm gần đây, các nghiên cứu về dược lý đã phát hiện ra một số tác dụng đặc biệt khác của củ gừng mà trước đây ít ai nghĩ đến.

Gừng là chất kích thích tiêu hóa, điều trị cảm, nôn mửa, trị ho, đau bụng, tiêu chảy, nhức đầu, gừng chống lão hóa. Gừng là thứ thuốc tốt với bệnh sỏi mật, gừng có trong vị thuốc nam, gừng có tác dụng cải thiện thành phần máu, gừng vị khô vị cay, có tác dụng thông mạch, giảm đau tim và đột quỵ. Chất gingerol trong củ gừng có tác dụng làm giảm đau, hạ sốt.

Gừng vị khô vị cay, có tác dụng ôn trung, tán hàn, thông mạch, giảm đau tim và đột quỵ. Chất gingerol trong củ gừng có tác dụng làm giảm đau, hạ sốt.



Tác dụng kháng khuẩn

Gừng có tác dụng ức chế một số vi khuẩn Bacillus mycoides, Staphylococus.

Tinh dầu gừng ức chế Staphylococus spp, Ecoli, Streptococus spp, Salmonella paratyphy.

Theo Phạm Xuân Sinh (2002), có thể kết hợp gừng với một số thuốc khác điều trị bệnh không muốn ăn, miệng nhạt vô vị, đầy bụng, chướng hơi, ăn không tiêu.



      1. Tỏi và công dụng của tỏi

        1. Đặc điểm

Tỏi có nguồn gốc miền Tây Trung Quốc, sử dụng hàng ngàn năm nay. Tỏi nhạy cảm với môi trường và đất trồng, nó hấp thụ nhanh các chất khoáng trong đất. Tỏi dùng làm thuốc phải mọc tự nhiên, không bón phân và xịt thuốc trừ sâu. Đảo Phú quý được mang danh “vương quốc tỏi”, tỏi ở đây ngon nhất vì được trồng bằng san hô vụn.

Tên khoa học:Allium sativum L

Thuộc họ hành: Liliaceae

Bảng 2.1: Thành phần hóa học của tỏi

Thành phần

Hàm lượng tươi (%)

Nước

62-68

Carbohydate

26-30

Protein

1,5-2,1

Lipid

0,1-0,2



1,5

Hợp chất sulfur

1,1-3,5

Chất khoáng

0,7

Acid folic

6,2-6,4

Saponin

0,04-0,11

Vitamin

0,15

(Lawson,1993)



        1. Công dụng của tỏi.

Trong dân gian tỏi là gia vị đem lại sức khỏe cho con người, tỏi có tác dụng ngon miệng và giúp tiêu hóa tốt dùng làm thuốc chữa bệnh cảm cúm, cảm lạnh, đầy hơi, chứng bụng, mụn nhọt và dùng để tăng thân nhiệt nhanh cho cơ thể vì trong 100 g tỏi có chứa 21calo (Nguyễn Văn Thắng và Bùi Thị Mỹ,1996).

Tỏi có tác dụng chống tắc nghẽn mạch máu giống aspirine, có tác dụng dưỡng nhan, ích thọ nhờ khả năng làm chậm quá trình lão hóa tế bào bảo vệ hồng cầu không bị oxy hóa, làm ảnh hưởng đến các phần tử tự do là những hạt vô cùng nhỏ bé được hình thành trong quá trình oxy hóa. Làm giảm xung huyết và tiêu viêm, tiêu tan mệt mỏi, phục hồi nhanh thể lực, tiêu mỡ, giảm đường huyết, tăng cường sự miễn dịch.

Tỏi sống và tỏi chế biến có diallyl disulfide, triallyl disulfide và allicin làm tăng tính miễn dịch của cơ thể với vi khuẩn, virus in vitro, chống virus cúm B, Herpesvirus type I, virus đậu bò, virus bệnh viêm miệng có mủ và làm nguy cơ mắc bệnh ung thư ngăn ngừa cúm (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004).

Tỏi là kháng sinh phổ rộng, hoạt chất của tỏi chủ yếu là allicin. Ngoài ra, còn có ajjone, diallin, diasulfit, diallit, trisulfide, và các chất chống lưu huỳnh khác … được tạo ra từ tỏi.

Tỏi có tác dụng trị các chứng rối loạn tiêu hóa do men hoặc do thần kinh gây khó tiêu, đầy hơi, trướng bụng, bị trung tiện - chống co thắt dạ dày ruột.

Tỏi đặc biệt tốt để phòng tránh các rối loạn men tiêu hóa, kích thích tiết dịch vị, tiết mật, phòng tránh các nhiễm khuẩn dạ dày ruột, phòng chống ung thư dạ dày.

Tỏi còn có tác dụng trị giun, dùng trong trường hợp chữa giun kim, giun móc, giun kim, còn có tác dụng bảo vệ gan, phòng chống các bệnh hô hấp, chữa bỏng và lở loét ngoài da.


  1. Nghệ và công dụng của nghệ

2.1.3.1.Đặc điểm

Nghệ tên gọi khác là uất kim, khương hoàng

Tên khoa học: Curcuma longa L

Thuộc họ gừng: Zingiberaceae

Nghệ là loài thân cỏ cao 60-100 cm. Thân rễ thành củ hình trụ hoặc hơi dẹt, khi bẻ hoặc cắt ngang có màu vàng đến màu cam sẫm. Thân rễ sống nhiều năm, lá hình trái xoan, thon nhọn ở hai đầu, hai mặt đều nhẵn dài tới 45cm, rộng 18cm, cuống lá có bẹ. Hoa tự bung hình trụ ở ngọn, lá bắc màu lục pha vàng ở đầu, cánh hoa ngoài phía gốc màu xanh lục vàng dần lên các thùy nên toàn bông hoa có màu vàng, lá bắc gần ngọn pha màu hồng ở đầu lá, cánh hoa chia ba thùy, hai thùy bên đứng và phẳng, thùy giữa lõm thành máng sâu. Quả khi chin hạt có áo hạt. Mùa quả tháng 7 và tháng 8.

Nghệ phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu á như: Ấn Độ, Campuchia, Lào, Thái Lan. Nghệ được trồng ở các tỉnh nước ta.

● Thành phần hóa học của nghệ

Trong củ nghệ có nhiều hợp chất như tinh bột, xơ, trong các thành phần được chứng minh là có hoạt tính sinh học gồm: Curcuminoid, tinh dầu, polysaccharide và peptid, nhưng tinh dầu và curcuminoid được coi là hợp chất chính.

Hoạt chất màu vàng của củ nghệ là dẫn xuất của phenolic, hoạt chất chính curcuminoid gồm có 3 chất (curcumin, demethoxycurcumin, busdemethoxycurcumin). Trong đó curcumin chiếm tới khoảng 77%. Cả 3 chất này đều có tác dụng sinh học nhưng trong đó curcumin có tác dụng mạnh hơn cả. Curcumin có tác dụng chống viêm, bảo vệ gan, chống oxy hóa, kích thích hệ thống miễn dịch, chống nhiễm trùng, chống co thắt cơ trơn, chống hoại tử và đặc biệt có tác dụng phòng ngừa, trị bệnh ung thư (Lê Hà, 2006).


        1. Công dụng:

Củ nghệ không chỉ có công dụng giúp liền sẹo mà còn mang lại rất nhiều tác dụng hữu ích, đặc biệt đối với sức khoẻ con người.

Nghệ giúp giảm cân, lưu thông và lọc máu.

Nghệ giúp cơ thể chống lại các vi khuẩn sống ký sinh trong ruột.
Có thể dùng nghệ để khử trùng và mau lành vết thương.
Sử dụng nghệ thường xuyên trong các bữa ăn, bạn có thể giảm được nguy cơ ung thư ruột. Hiện nay, các chuyên gia sức khoẻ Hoa Kỳ đang tiến hành một cuộc thử nghiệm, điều trị bệnh ung thư ruột bằng một loại thuốc được chế biến từ củ nghệ.
Củ nghệ có tác dụng giảm đau khi bạn bị chứng viêm khớp quấy nhiễu.

Khi gặp rắc rối với tiêu hoá:


Nghiên cứu cho thấy, nghệ có thể kích thích tiêu hoá và giải phóng ra các emzim tiêu hoá, phá vỡ liên kết cacbonhydrat và các chất béo. Chính vì thế, trong trường hợp bị đau bụng, một cốc trà nghệ sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều.

Chất Curcumin có tác dụng kháng lại 1 số vi khuẩn Staphylococcus, Salmonella paratyphy, Mycoplasma turberculois, Trychophylon gypseum (Nguyễn Đức Minh, 1995).



    1. Sinh trưởng và phát dục

Sinh trưởng: là một quá trình tích lũy chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở di truyền từ đời trước.

Sự phát dục: là một quá trình thay đổi về chất lượng, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của bộ phận cơ thể gia súc.



    1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục

      1. Yếu tố di truyền

Là sự thừa kế những đặc tính di truyền của cha mẹ, tổ tiên, được truyền từ đời này sang đời khác.

Loài: có sự khác biệt giữa sự sinh trưởng và phát dục giữa loài này và loài khác.

Giống: mặc dù trong cùng một loài, giữa các giống cũng có sự khác nhau về sinh trưởng và phát dục.

Gia đình: những cá thể trong các gia đình khác nhau cũng có sự khác nhau trong sinh trưởng cũng như phát dục. Điều này do chúng thừa hưởng những đặc tính di truyền khác nhau từ cha mẹ của chúng.

Giới tính: ảnh hưởng của giới tính lên sinh trưởng và phát dục là khá rõ ràng. Nhiều thí nghiệm cho thấy heo đực thiến có khả năng tăng trọng cao nhất, kế đến là heo cáo không thiến và thấp nhất là heo đực không thiến. Heo đực thiến tích mỡ cao hơn heo đực và heo cái không thiến (Trần Văn Chính, 2002).

Cá thể: giữa các cá thể cũng có sự khác nhau là do di truyền biến dị trong quá trình hình thành giao tử, sự bắt chéo, trao đổi đoạn nhiễm sắc thể và sự tổ hợp các nhiễm sắc thể.

Gen: hiện tượng đa gen và hiện tượng đa hiệu của gen cũng làm cho những phần của cơ thể có sự khác nhau trong sinh trưởng và phát dục của gia súc.


      1. Yếu tố ngoại cảnh

Yếu tố tự nhiên: bao gồm khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, đất đai đều ảnh hưởng trực tiếp lên sự sinh trưởng và phát dục của gia súc. Do chúng là tác nhân chính môi trường sống của vật nuôi và từ đó tác động lên cơ thể thú làm ảnh hưởng đến các bộ phận cơ thể.

Tác động của công tác giống: sự can thiệp của con người thông qua quá trình chọn lọc nhân tạo cho phép chúng ta giữ lại những cá thể thú có thành tích xuất sắc về khả năng tăng trọng cũng như sinh sản tốt.

Yếu tố nuôi dưỡng: công tác nuôi dưỡng ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản và phát dục. Trong đó thức ăn cho thú và khẩu phần cho ăn có tác động lớn. Một chế độ dinh dưỡng đầy đủ và khẩu phần thích hợp sẽ cải thiện đáng kể năng tăng trọng của thú. Việc thiếu cân bằng dinh dưỡng trong khẩu phần nhất là thiếu các protein, vitamin, khoáng sẽ làm tăng trọng và phát dục kém (Trần Thị Dân và Nguyễn Ngọc Tuân, 2000).

Bên cạnh thức ăn thì công tác nuôi dưỡng đúng qui trình, chuồng trại sạch sẽ, thoáng mát, chế độ ánh sáng cũng góp phần làm cho thú lớn nhanh và sinh sản tốt.




    1. Nuôi dưỡng heo thịt

Theo Võ Văn Ninh (2001), sau khi cai sữa, những heo không làm giống được chuyển qua chuồng nuôi heo thịt. Thời gian nuôi heo thịt từ 5-6 tháng để đạt thể trọng xuất chuồng từ 80-100 kg thể trọng. Ở mức thể trọng này sẽ cho ra phẩm chất thịt ngon nhất, sau đó thì hiệu quả thức ăn bắt đầu giảm, heo có xu hướng tích lũy mỡ.

Giai đoạn nuôi thịt có thể chia làm 2 giai đoạn



Giai đoạn 1

Khoảng 2 tháng đầu, đây là thời kỳ cơ thể phát triển khung xương, hệ cơ, hệ thần kinh, do đó con thú cần nhiều protein, khoáng chất, sinh tố để phát triển chiều dài, chiều cao.

Thiếu dưỡng chất cần thiết trong giai đoạn này sẽ làm cho khung xương kém phát triển, nên hệ cơ cũng kém phát triển, heo trở nên ngắn đòn, ít thịt vì bắp cơ nhỏ, sự tích lũy mỡ ở giai đoạn sau nhiều hơn.

Dư thừa dưỡng chất làm tăng chi phí, dư protein sẽ đào thải ở dạng ure, heo dễ bị viêm khớp, tích lũy mỡ sớm. Dư khoáng chất, nhất là caxi - phospho gây hậu quả xấu cho sự hóa cốt tạo xương, giai đoạn này có thể đạt trọng lượng 50kg.



Giai đoạn 2

Khoảng 2-3 tháng cuối đây là thời kỳ heo tích lũy mỡ vào các sớ cơ, các mô liên kết, con thú nẩy nở theo chiều ngang, mập ra. Giai đoạn này heo cần nhiều glucid, lipid hơn giai đoạn 1,nhu cầu protein, khoáng chất, sinh tố cho mỗi kilogram thức ăn ít hơn giai đoạn đầu.

Thừa dưỡng chất lúc này làm tăng chi phí thức ăn và tăng lượng mỡ, nhưng nếu thiếu dưỡng chất con thú trở lên gầy đi, bắp cơ dai, không ngon, thiếu những hương vị cần thiết. Giai đoạn này heo có thể đạt từ 80-100 kg.

Heo thịt thường nuôi khoảng 20-40 con mỗi ô chuồng, nhốt nhiều quá trong một ô sẽ làm cho công tác quản lý, khám chữa bệnh và phát hiện ra bệnh mới khó khăn hơn.

Chuồng nuôi heo thịt phải thoáng mát, không ứ đọng phân nước tiểu, tắm heo vào lúc khí hậu nóng để tăng kích thích tính thèm ăn và heo mau lớn.Cho heo ăn tự do hoặc theo bữa và cho uống nước đầy đủ. Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, phát hiện sớm heo bị bệnh để công tác điều trị đạt hiệu quả.

Theo Trương Lăng (2003), muốn nuôi heo thịt đạt tỉ lệ nạc cao phải phấn đấu nuôi từ 6-7 tháng và đạt 90-100kg giết thịt. Nếu nuôi kéo dài và khối lượng đạt trên 100kg thì tăng trọng cao sẽ giảm được tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng.



    1. Thức ăn nuôi heo

      1. Thức ăn cung năng lượng

Trong thức ăn chăn nuôi heo thì nhóm thức ăn cung năng lượng chiếm 65-80% đây là nguồn cung cấp năng lượng chính cho các hoạt động của thú như tăng trưởng, sinh sản và tích lũy cơ thể.

Một số thức ăn cung năng lượng

Bắp

Bắp là nguồn thuéc ăn quan trọng nhất, bắp được sử dụng rộng rãi nhất là bắp vàng, bắp trắng và trắng sữa.

Bắp vàng và bắp trắng sữa có thành phần dinh dưỡng tương đương nhau. Trong 1kg bắp chứa 3300 kcal năng lượng, trong đó chất bột đường chứa 70%, chất béo 4,2%, xơ 2,5%, tỷ lệ protein ở bắp tương đối thấp 8-9%.

Trong thành phần bắp vàng chứa nhiều carotene nên được sử dụng trong thức ăn chăn nuôi nhiều hơn bắp trắng. Trong bắp có nhiều vitamin nhóm B, phospho dồi dào nhưng ở dạng phytin khó hấp thu, còn canxi thì thấp. Trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi có thể dùng bắp với tỷ lệ không hạn chế, đây là loại thức ăn giàu năng lượng. Khi dùng bắp với tỷ lệ cao trong khẩu phần ăn cần chú ý đến việc bổ sung protein, các acid amin.

Bắp sữa có hàm lượng lysine cao hơn 2 lần so với bắp vàng, nhưng tryptophan, arginine, glycin, acid aspartic đều thấp hơn bắp thường.

Cám

Cám là phụ phẩm của lúa khi xay xát. Cám có hàm lượng chất béo khá cao nhưng do hàm lượng xơ thô cũng cao nên cám có hàm lượng năng lượng trao đổi thấp hơn so với bắp mặc dù đạm thô cao hơn.

Cám gạo có hàm lượng xơ 40-80g/kg, protein 120-140g/kg, hàm lượng lysine, trytophan, arginin cao hơn bắp, hàm lượng chất béo trong cám khoảng 110-180g/kg, không nên dự trữ lâu vì dễ bị oxy hóa.


Khoai mì

Khoai mì sử dụng trong chăn nuôi là mì lát phơi khô, bã bột mì, bột lá khoai mì. Củ mì tươi có chứa 65% nước, chứa 83% chất bột đường chủ yếu là tinh bột, khoảng 3% protein thô và 3,7% xơ thô (Dương Thanh Liêm và ctv,2002).

Bột khoai mì có hàm lượng đạm thấp nên được dùng trong thức ăn heo thịt, hàm lượng tinh bột cao nên chỉ dùng trong thức ăn dạng viên. Sử dụng bột khoai mì trong khẩu phần thức ăn nhằm cung cấp năng lượng bổ sung các acid amin giúp hạ thành thức ăn, cần chú ý đối với heo thịt giai đoạn cuối sử dụng. Khẩu phần có nhiều khoai mì sẽ dẫn đến heo có nhiều mỡ, quầy thịt nhạt màu.

Một số giống khoai mì cao sản có hàm lượng HCN cao trong lá và củ nên sử dụng cần chú ý cho gia súc khỏi ngộ độc. Các biện pháp để giảm nồng độ HCN như ngâm nước, phơi nắng, sấy khô sẽ làm cho gốc CN- bay hơi, giảm độc tính.

Cám mì

Cám mì thô có lượng đạm thô (16%) cao hơn cám mịn (14%)

Khoai lang

Hàm lượng năng lượng trao đổi của khoai lang đối với heo tương đương khoảng 80% so với giá trị của bắp



      1. Thức ăn cung đạm

        1. Đạm có nguồn gốc động vật

Bột cá là thức ăn có nguốn gốc động vật có hàm lượng dinh dưỡng cao được chế biến từ cá tươi hay phụ phẩm của ngành chế biến cá hộp. Bột cá có đầy đủ các chất dinh dưỡng, acid amin như lysine 7,5%, methionin 3%....(Dương Thanh Liêm và ctv, 2002

Bột thịt và bột thịt xương được chế biến từ các gia súc, gia cầm hoặc từ các sản phẩm lò mổ. Hàm lượng protein biến động từ 30% đến trên 50% tùy theo là bột thịt xương hay bột thịt, khoáng 12%-35%, mỡ 8%-15%.



2.5.2.2 Đạm có nguồn gốc thực vật

Đậu nành và khô dầu đậu nành đây là nguồn thức ăn giàu đạm, trong đó hàm lượng đạm là 38%, lipid 18%, giàu các acid amin thiết yếu nhất là lysine, trytophan và có giá trị sinh học của đạm đậu nành gần giá trị sinh học của đạm động vật nên khả năng tiêu hóa cao. Sử dụng đậu nành trong thức ăn gia súc cần chú ý các tác nhân gây ảnh hưởng đến tiêu hóa có trong đậu nành như anti-trysin, hemoglutinin…xử lý bằng nhiệt hay công nghệ hiện đại là phương pháp ép đùn.



      1. Thức ăn bổ sung

        1. Chất khoáng

Chất khoáng chiếm tỷ lệ nhỏ trong khẩu phần thức ăn nhưng nó cũng đóng vai trò quan trọng, chất khoáng tham gia vào quá trình cấu tạo khung xương của cơ thể, là thành phần của enzyme, hormone, vitamin tham gia trực tiếp vào hệ thống đệm của tế bào. Có hai loại khoáng, đa lượng và vi lượng giúp cho cân bằng khoáng trong cơ thể.

Các thức ăn cung khoáng: bột xương, bột sò, bột đá vôi, bột vỏ trứng…



        1. Vitamin

Có rất nhiều loại vitamin, cơ thể cần số lượng nhỏ nhưng đóng vai trò quan trọng, đảm bảo cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể.

    1. Các dạng bệnh tích trên phổi heo

      1. Viêm phổi hóa gan

Viêm phổi hóa gan thường có hai hình thức:

Viêm phổi hóa gan đỏ: vùng phổi hóa gan có màu đỏ bầm, cắt ngang thấy ứa dịch màu đỏ.

Viêm phổi hóa gan xám: vùng hóa gan ngã sang màu đỏ sẫm như màu xám, bề mặt phổi có nổi những vân như cẩm thạch, khi cắt thấy bề mặt khô hơn.


      1. Phổi nhục hóa

Vùng nhục hóa có màu hồng giống như thịt hay hơi xám, thể chất dai chắc giống như thịt. Tùy mức độ nhục hóa mà mảnh phổi chìm nhiều hay ít nước. Sự nhục hóa là kết quả của quá trình viêm phổi kinh niên (dẫn liệu Bùi Thị Xuân Thảo, 1994).

      1. Phổi xẹp

Phổi có màu hồng tái hoạc màu xám nhạt. Thể chất dai chắc, bóng không nghe lào xào như phổi bình thường. Đa số phổi xẹp ở từng thùy, có khi xẹp hẳn một bên phổi bên còn lại vẫn bình thường.

      1. Viêm phổi mũ

Phổi nhiễm mủ: phổi viêm và gặp sự xâm nhập của vi trùng sinh mủ tạo thành những nốt mủ nhỏ hay bọc mủ trên phổi, đường kính 0,5 -1 cm có khi 2-3 cm. Khi cắt ngang qua sẽ chảy mủ vàng sệt khi lẫn máu. Quanh nốt mủ có viền phản ứng viêm màu đỏ sậm, nốt mủ được bao phủ bởi mô liên kết sợi.

Viêm phổi hoại thư lẫn mủ: phổi có màu đỏ bầm, có khi xanh đen, nhất là ở thùy hoành cách mô, màng phổi dày, sần sùi. Phổi có mùi hôi thối, mặt cắt rỉ dịch màu đỏ bầm, có khi lẫn mủ, phổi cứng, sờ nắn không nghe lào xào.



2.7 Giới thiệu sơ lược về trai heo Thành An

2.7.1 Vị trí

Trại heo Thành An, thuộc xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.



      1. Cơ cấu (tính đến tháng 10/07/2008)

Đực giống: 02 con

Heo nái sinh sản: 120 con

Heo nái hậu bị: 40 con

Heo thịt: 487 con

Heo cai sữa: 120 con

Heo con theo mẹ: 185 con



Tổng đàn: 954 con

      1. Chuồng trại

Khu chuồng nái nuôi con là một dãy chuồng đôi, các ô đối xứng nhau qua hành lang, chuồng được xây theo hướng đông tây, mái chuông lợp bằng tôn , tường được xây gạch cao 70cm, phần còn lại được lắp lưới B 40, bên ngoài được che bằng bạt cuốn. Diện tích sàn đẻ 2m1,6m, trong mỗi chuồng có các ô úm heo con bằng sắt, diện tích 0,7m0,5m. Hệ thống nước uống được bơm từ giếng khoan lên bồn rồi dẫn xuống cho heo uống bằng núm tự động ở mỗi ô, hệ thống cống thoát phân và nước tiểu nằm hai bên dãy chuồng.

Khu chuồng nái khô, nái chửa, nọc được nuôi trong chuồng cá thể, nền xi măng, diện tích chuồng nuôi cá thể của heo nái 0,6m2,2m, diện tích chuồng đực giống 2,2m2,7m.

Khu chuồng nuôi heo cai sữa nằm cùng dãy với chuồng nuôi nái đẻ. Heo cai sữa được nuôi trong lồng sắt gồm hai dãy đối xứng nhau, diện tích mỗi ô



2,5 3m, sàn cách mặt đất 60cm, mỗi ô nuôi 25 con.

Chuồng nuôi được trang thiết bị hệ thống phun sương, trên mái tôn từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều.

Chuồng heo thịt gồm 6 dãy nền chuồng làm bằng xi măng, cho ăn máng tự động và núm uống tự động.

  1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương