KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)



tải về 3.73 Mb.
trang49/50
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích3.73 Mb.
1   ...   42   43   44   45   46   47   48   49   50

Trả lời:

Đảng, Nhà nước ta xác định: “Ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng” là mục tiêu quan trọng hàng đầu của công tác PCTN, đồng thời cũng quán triệt sâu sắc quan điểm: “Phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, tích cực và có trọng tâm, trọng điểm”.

Chính vì vậy, trong những năm vừa qua, Chính phủ luôn xác định PCTN là nhiệm vụ trọng tâm trong chỉ đạo, điều hành; đã tích cực chỉ đạo, triển khai các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tập trung vào những ngành, lĩnh vực, những khâu quan trọng của quản lý nhà nước dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực hoặc liên quan trực tiếp tới nhân dân, doanh nghiệp, qua đó đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Qua từng năm, tình hình tham nhũng đều có những dấu hiệu chuyển biến theo hướng tích cực. Nhận thức của nhân dân, doanh nghiệp, cán bộ, công chức về tác hại của tham nhũng được nâng cao; số vụ án, bị can bị khởi tố về tham nhũng và số vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đều giảm; môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, thuận lợi, thu hút được nhiều vốn đầu tư, hỗ trợ phát triển chính thức; kinh tế đất nước đạt chỉ tiêu tăng trưởng trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, khủng hoảng; trên một số lĩnh vực, tham nhũng đã có bước kiềm chế.

Tuy nhiên, nhận định chung Chính phủ, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN là tình hình tham nhũng vẫn còn diễn biến nghiêm trọng và phức tạp; tình trạng nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ, công chức vẫn đang gây bức xúc trong xã hội; gây tâm lý hoài nghi trong một bộ phận nhân dân về quyết tâm, hiệu quả PCTN của Đảng, Nhà nước. Công tác PCTN còn có những hạn chế, yếu kém, nhất là việc tổ chức thực hiện các quy định về phòng, chống tham nhũng còn chưa đồng đều, chưa sâu, nhiều nơi còn yếu...

Do đó, để đạt mục tiêu ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân, xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính... Chính phủ, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN đã chỉ đạo các cấp, các ngành phải kiên quyết, kiên trì thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tập trung thực hiện tốt các quy định của Luật PCTN, Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 và các Kế hoạch, Đề án về phòng, chống tham nhũng đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đồng thời tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân, phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm của xã hội, mở rộng hợp tác quốc tế trong PCTN...



Về việc cử tri đề nghị Chính phủ cần xây dựng pháp luật về chống tham nhũng theo hướng cơ quan chức năng có quyền điều tra tài sản của các quan chức có dấu hiệu bất minh về tài sản:

Pháp luật hiện hành đã có quy định đảm bảo quyền điều tra của các cơ quan chức năng và chế tài xử lý đối với tài sản do phạm tội mà có. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trường hợp công dân, người có chức vụ, quyền hạn sở hữu khối tài sản lớn nhưng lại không có trách nhiệm phải giải trình nguồn gốc tài sản. Việc chứng minh khối tài sản đó có phải là tài sản bất minh hay không thuộc nghĩa vụ của các cơ quan chức năng.

Một trong những giải pháp quan trọng nhằm phòng ngừa tham nhũng đã được Chính phủ triển khai rộng rãi trong thời gian qua là việc kê khai, xác minh tài sản, thu nhập. Tuy nhiên, theo quy định của Luật PCTN, việc kê khai tài sản, thu nhập mới chỉ áp dụng đối với một bộ phận người có chức vụ, quyền hạn. Việc xác minh tài sản, thu nhập cũng chỉ nhằm xem xét, đánh giá, kết luận về tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập và kiểm soát sự biến động về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai. Chính vì vậy, việc kê khai, xác minh tài sản, thu nhập thời gian qua mới mang ý nghĩa phòng ngừa mà chưa được coi là một giải pháp nhằm phát hiện, xử lý đối với hành vi tham nhũng và tài sản tham nhũng.

Để tăng cường hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng thông qua việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, tại Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020 Chính phủ đã chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập theo hướng từng bước công khai và quy định trách nhiệm giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập; giao Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng Nghị định về trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch; giao Thanh tra Chính phủ chủ trì xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 37/2007/NĐ-CP của Chính phủ về minh bạch tài sản và thu nhập... Thủ tướng Chính phủ cũng đã có văn bản chỉ đạo Thanh tra Chính phủ chủ trì đánh giá, tổng kết việc thực hiện các quy định liên quan như: minh bạch tài sản, thu nhập; trả lương qua tài khoản; tặng quà và nộp lại quà tặng để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện và chuẩn bị cho việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát thu nhập đối với người có chức vụ, quyền hạn.



5. Cử tri các tỉnh Bạc Liêu, Quảng Ninh và thành phố Đà Nẵng kiến nghị: Nhà nước đã thành lập, hình thành tổ chức Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng từ Trung ương đến tỉnh, thành phố trong cả nước, tuy nhiên tổ chức này mang tính hợp tan, cơ cấu các cơ quan pháp luật kiêm nhiệm và Ban này do Thủ tướng, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố làm Trưởng ban, có văn phòng giúp việc. Thời gian qua, hoạt động của Ban này còn nhiều hạn chế, nguyên nhân là do cơ chế hoạt động của Ban chưa được cụ thể, quyết liệt, và trách nhiệm chưa được rõ ràng; những vi phạm tham nhũng trên địa bàn thường do các cơ quan pháp luật, báo chí và nhân dân phát hiện, xử lý; rất ít được phát hiện từ hoạt động của Ban phòng chống tham nhũng.

Cử tri đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu kỹ mô hình đề ra cơ chế hoạt động và quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban này thực sự tương xứng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ngăn ngừa, phát hiện, phối hợp xử lý những hành vi mạnh mẽ hơn trong thực tế

Trả lời:

Triển khai thực hiện Luật PCTN, tháng 10 năm 2006, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN được thành lập. Kể từ đó đến nay, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN đã tích cực chỉ đạo, đôn đốc, phối hợp, kiểm tra công tác PCTN, ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong công tác PCTN. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN đã họp 13 phiên để đánh giá tình hình, kết quả thực hiện, đề ra phương hướng, nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch cụ thể trong công tác PCTN; chỉ đạo triển khai thực hiện nghị quyết Trung ương 3, Khóa X, Luật PCTN; theo dõi, chỉ đạo các cơ quan chức năng trong việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng trọng điểm; tích cực phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc phát huy vai trò, trách nhiệm của xã hội trong PCTN; trực tiếp kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo công tác PCTN ở các bộ, ngành, địa phương…

Thực hiện Nghị quyết 294A/2007/UBTVQH12 ngày 27/9/2007 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã thành lập Ban chỉ đạo PCTN và bố trí bộ phận chuyên trách giúp việc Ban chỉ đạo. Nhiều nơi, Ban chỉ đạo nhanh chóng ổn định tổ chức, tích cực hoạt động, tuy nhiên một số nơi còn chậm trễ, lúng túng khi triển khai. Ngày 09/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 138/2009/QĐ-TTg về tổ chức, tên gọi, quy chế hoạt động của bộ phận giúp việc Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN. Kể từ đó đến nay, hoạt động của các Văn phòng Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN đã có nhiều thuận lợi, chủ động tham mưu, giúp việc Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, từng bước khẳng định vị trí, vai trò tham mưu, giúp việc có hiệu quả cho Ban chỉ đạo cấp tỉnh trong công tác PCTN.

Nhìn chung, bộ máy chỉ đạo công tác PCTN ở Trung ương và các tỉnh, thành phố được thành lập, đi vào hoạt động đã mang lại kết quả tích cực. Việc chỉ đạo, triển khai, theo dõi, đôn đốc, đánh giá việc thực hiện các giải pháp về PCTN đã thuận lợi hơn. Tuy nhiên, hoạt động của Văn phòng Ban chỉ đạo về PCTN ở một số địa phương vẫn còn có khó khăn, vướng mắc như một số địa phương còn thiếu sự quan tâm trong việc kiện toàn Văn phòng Ban chỉ đạo địa phương về PCTN, bố trí biên chế quá ít, không tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, dẫn tới khó khăn cho việc sắp xếp, phân công công tác để đảm bảo chuyên sâu trên một số lĩnh vực,…

Chính phủ, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN đang tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, từng bước kiện toàn bộ máy chỉ đạo và thực hiện công tác PCTN ở Trung ương và địa phương tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ công tác đấu tranh PCTN.

Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, các cơ quan chức năng khẩn trương nghiên cứu, bổ sung sửa đổi một số cơ chế chính sách về PCTN còn chưa rõ ràng hoặc có khó khăn vướng mắc trong triển khai thực hiện cho phù hợp như: cơ chế bảo vệ, khen thưởng người tố cáo tham nhũng; cơ chế kiểm soát tài sản thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; quy định về trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức; công khai, minh bạch trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội…

Thanh tra Chính phủ đã có Quyết định thành lập Tổ công tác Đề án “Đưa nội dung PCTN vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng”, phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án(6) triển khai xây dựng tài liệu bồi dưỡng cho giáo viên, giảng viên và tài liệu tham khảo về PCTN cho học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức,... Đồng thời đang triển khai sửa đổi, bổ sung cơ chế trao đổi thông tin, số liệu về PCTN, hoàn thiện cơ chế trao đổi thông tin, dữ liệu về PCTN; xây dựng Hệ thống tiêu chí đánh giá, đo lường tham nhũng và công tác PCTN; xây dựng kế hoạch điều tra chi phí không chính thức của doanh nghiệp, hộ gia đình khi giao dịch với cơ quan nhà nước.

Trong thời gian tới, Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra và xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng; kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý để hoàn thiện thể chế, nhằm phòng ngừa tham nhũng, đồng thời xử lý nghiêm trách nhiệm của các tập thể, cá nhân có sai phạm, kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những cán bộ có hành vi tham nhũng, tiêu cực.



ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
Tại Công văn số 990/THVN ngày 7/7/2010 về việc trả lời kiến nghị cử tri tại kỳ 7, Quốc hội khóa XII

Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị:Các kỳ họp Quốc hội cử tri rất quan tâm theo dõi, nhưng đại đa số cử tri ở vùng nông thôn do điều kiện sống còn khó khăn, bận rộn việc lao động sản xuất nên ít được theo dõi xuyên suốt đặc biệt là phiên họp chất vấn của các đại biểu Quốc hội với các thành viên Chính phủ. Cử tri rất mong muốn nghe giải trình của Chính phủ về những vấn đề cử tri quan tâm nhưng việc chất vấn và trả lời chất diễn ra trong giờ làm việc nên người dân nông thôn ít có thời gian rảnh rỗi để nghe. Cử tri đề nghị nghiên cứu thời gian phù hợp cho phát lại trên kênh truyền hình vào ban đêm để bà con nông dân tiện theo dõi.

Trả lời:

Đài THVN xin tiếp thu và cố gắng chuyển tải đầy đủ thông tin đến cử tri. Tuy nhiên, các chương trình THTT chất vấn của đại biểu QH tại các kỳ họp diễn ra với thời lượng dài, do vậy, Đài THVN rất khó sắp xếp phát lại toàn bộ nội dung chất vấn của kỳ họp. Để phục vụ nhu cầu thông tin của người dân về diễn biến kỳ họp QH, Đài THVN đều có đưa tin tổng hợp tại các bản tin, chương trình thời sự. Ngoài ra, bắt đầu từ tháng 6/2010, Đài THVN phát sóng chuyên mục “Quốc hội với cử tri”. Đây sẽ là chuyên mục thông tin tổng hợp về hoạt động của Quốc hội, hoạt động giám sát của đại biểu QH và tâm tư nguyện vọng của cử tri cả nước.

Đài THVN với đặc thù là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện nhiệm vụ của Đài tuyền hình Quốc gia, nên Đài THVN không thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực PT_TH.


TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
1. Cử tri các tp Hà Nội, Hải Phòng kiến nghị:Cử tri đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của đơn vị và cá nhân trong việc xét xử vụ án tại Nông trường Sông Hậu gây dư luận không tốt trong nhân dân.

Trả lời (Tại Công văn số 512/TA-TCCB ngày 11/08/2010)

Vụ án “lập quỹ trái phép” tại Nông trường Sông Hậu, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, đã được Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm tại Bản án số 25/2009/HSST ngày 15/8/2009; Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm tại Bản án số 137/2009/HSPT ngày 19/11/2009. Sau khi xét xử phúc thẩm vụ án nói trên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Kháng nghị số 09/QĐ-VKSTC-V3 ngày 6/4/2010, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 22/2010/HS-GĐT ngày 27/5/2010 của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm vụ án, đã quyết định hủy bản án hình sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để điều tra lại theo thủ tục chung. Hiện tại vụ án đang giải quyết lại ở giai đoạn điều tra. Do đó, để có cơ sở xem xét, xử lý trách nhiệm đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi ngành Tòa án trong xét xử vụ án nêu trên một cách nghiêm minh và đúng quy định pháp luật, thì cần có kết quả cuối cùng của việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả giải quyết lại vụ án nếu phát hiện có sai phạm nghiêm trọng trong xét xử vụ án, Tòa án nhân dân tối cao sẽ chỉ đạo Tòa án nhân dân địa phương, kiểm điểm trách nhiệm của Thẩm phán và có hình thức xử lý kỷ luật thích đáng. Khi có quyết định xử lý kỷ luật đối với các cá nhân có vi phạm trong xét xử vụ án nêu trên, Toà án nhân dân tối cao sẽ công khai để công luận được biết.

Trong thời gian qua để tăng cường kỷ luật công vụ và nâng cao chất lượng công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao có Công văn số 344/TANDTC-TCCB ngày 7/6/2010, trong đó đã chỉ đạo toàn ngành Tòa án nhân dân tăng cường công tác kiểm điểm trách nhiệm, xử lý kỷ luật Thẩm phán có số án bị hủy nhiều, hàng năm tiến hành lập danh sách và tổ chức kiểm điểm Thẩm phán có số án bị huỷ từ 3% trở lên để xem xét xử lý. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ để phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh những sai phạm và tập trung giải quyết đúng pháp luật những vấn đề nổi cộm, bức xúc, những vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Khi phát hiện cán bộ, Thẩm phán có dấu hiệu vi phạm thì phải tích cực kiểm tra, xác minh, nếu kết luận là có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải tạm đình chỉ công tác và tiến hành kiểm điểm, xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với người vi phạm. Tuỳ theo mức độ và tính chất vi phạm của Thẩm phán, nếu vi phạm nghiêm trọng thì cần đình chỉ hoạt động xét xử để kiểm điểm, không tái bổ nhiệm những Thẩm phán có sai phạm nghiêm trọng trong nhiệm kỳ thẩm phán, trường hợp có dấu hiệu phạm tội thì chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với các trường hợp cán bộ, Thẩm phán thoái hóa, biến chất, vi phạm nghiêm trọng về phẩm chất đạo đức hoặc vi phạm pháp luật thì kiên quyết loại ra khỏi ngành Tòa án.

2. Cử tri các tp Hải phòng, Hà Nội và các tỉnh Phú Yên, Tiền Giang,kiến nghị:

Sau năm năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, cử tri cho rằng vẫn còn có quá nhiều vụ án oan sai, tồn đọng. Tình hình giải quyết khiếu nại các bản án của nghành rất chậm, kéo dài gây ảnh hưởng đến xã hội và bức xúc trong quần chúng nhân dân.Cử tri đề nghị cần tăng cường hiệu quả việc cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị, giải quyết triệt để những vấn đề trên.

Trả lời (Tại Công văn số 118A/TA-TKTH ngày 01/09/2010)

Trong những năm qua, trên cơ sở quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ngành Tòa án nhân dân đã tích cực đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành theo tinh thần cải cách tư pháp, với các nhiệm vụ trong tâm là: tăng thẩm quyền xét xử cho các Tòa án nhân dân cấp huyện; tiếp tục thực hiện việc đổi mới và nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa; nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, Thẩm phán, xây dựng đội ngũ cán bộ ngành Tòa án trong sạch, vững mạnh… Do đó, đã tạo ra những chuyển biến tích cực trên các mặt công tác, trong đó có công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án, cũng như công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.

Mặc dù số lượng các loại vụ án mà các Tòa án phải thụ lý, giải quyết hàng năm là rất lớn (trên 200.000 vụ án các loại), nhưng các Tòa án đã có nhiều cố gắng đẩy nhanh tiến độ giải quyết nên tỷ lệ giải quyết, xét xử các loại vụ án của toàn ngành hàng năm đều đạt khoảng gần 90% trên tổng số các vụ án đã thụ lý. Tình trạng để các vụ việc dân sự quá thời hạn xét xử ở một số Toà án địa phương đã được Tòa án nhân dân tối cao kiểm tra kịp thời để tìm ra các nguyên nhân và đề ra giải pháp để từng bước khắc phục. Nếu các năm trước đây, số lượng các vụ án để quá thời hạn giải quyết là từ 4.000 đến 5.000 vụ, thì cho đến nay chỉ còn khoảng trên 1.000 vụ việc dân sự quá thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật, tập trung chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh nơi có nhiều vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài phải chờ kết quả ủy thác tư pháp hoặc các vụ án tranh chấp về đất đai phải chờ kết quả trả lời của các cơ quan có liên quan; còn lại là ở một số Toà án địa phương khác do có số lượng án tăng đột biến hoặc do một số nguyên nhân khách quan khác như tình hình mưa lũ gây khó khăn cho quá trình hoàn tất hồ sơ vụ án …

Trong quá trình giải quyết, xét xử các loại vụ án, trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng và hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao, Toà án các cấp đã triển khai sâu rộng việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà, việc đổi mới thủ tục xét hỏi và tranh luận không chỉ còn giới hạn ở các phiên toà xét xử hình sự mà được áp dụng đối với cả các phiên toà xét xử dân sự, hành chính. Do vậy, chất lượng xét xử tiếp tục được bảo đảm và có tiến bộ hơn trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ chiếm khoảng 1%, bị sửa chiếm khoảng 4%. So với năm 2004 tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ giảm khoảng 0,2%, bị sửa giảm khoảng 1%; đã hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp kết án oan người không có tội. Trong các năm trước đây, nếu mỗi năm có từ 2-3 trường hợp kết án oan người không có tội, thì trong cả 5 năm qua, số lượng này là 03 trường hợp.

Công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm cũng có những chuyển biến tích cực theo hướng nâng cao chất lượng, đã hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp đã trả lời không có căn cứ kháng nghị, nhưng sau đó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao lại kháng nghị để giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm; nhiều vụ việc khiếu nại bức xúc, kéo dài đã được tập trung xem xét, giải quyết dứt điểm; hầu hết các kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh đều được các Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm chấp nhận. Tuy nhiên, trong một số trường hợp tiến độ giải quyết còn chậm, số lượng đơn chưa được giải quyết còn nhiều, nhưng vẫn còn trong thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật. Nguyên nhân chủ yếu là do số đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết hàng năm là rất lớn và tập trung chủ yếu ở Tòa án nhân dân tối cao. Với số lượng cán bộ hiện nay, mặc dù đã rất nỗ lực nhưng Tòa án nhân dân tối cao mới chỉ có thể tập trung giải quyết được khoảng 1/3 số đơn thuộc thẩm quyền.

Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của yêu cầu cải cách tư pháp, cũng như sự mong đợi của cử tri cả nước, ngành Tòa án nhân dân xác định cần nỗ lực nhiều hơn nữa để nâng cao chất lượng công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án và công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Trong thời gian tới, ngành Tòa án nhân dân sẽ tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cụ thể như sau:

- Tăng cường hơn nữa công tác tổng kết thực tiễn xét xử và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. Đổi mới và thực hiện tốt kế hoạch đào tạo lại, bồi dưỡng và tập huấn nghiệp vụ để nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, Thẩm phán và Hội thẩm Toà án.

- Nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án, làm tốt công tác hoà giải trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, nhằm hạn chế nguyên nhân phát sinh khiếu nại đối với các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Thực hiện tốt công tác rà soát, phân loại và giải quyết các đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Đối với các vụ việc phức tạp, nổi cộm cần có ngay kế hoạch và phân công cán bộ giải quyết khẩn trương, nghiêm túc; các vụ việc còn nhiều ý kiến khác nhau thì bàn thống nhất trong tập thể lãnh đạo đơn vị hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan để giải quyết triệt để.

Ưu tiên bố trí đủ cán bộ có trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm thực tiễn và tinh thần trách nhiệm cao cho các Toà chuyên trách thuộc Toà án nhân dân tối cao. Chú trọng công tác tiếp dân, lắng nghe ý kiến phản ánh của nhân dân, gắn việc tiếp dân với việc giải quyết các yêu cầu của nhân dân.

- Đổi mới phương thức tổ chức chỉ đạo, điều hành và thủ tục hành chính - tư pháp theo hướng nhanh, gọn, hiệu quả và hiệu lực; phân công, phân cấp hợp lý; gắn quyền hạn với trách nhiệm và quy định cụ thể về chế độ trách nhiệm đối với người lãnh đạo, quản lý ở các đơn vị; Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh đối với tập thể và cá nhân cán bộ, công chức Toà án có vi phạm. Xác định trách nhiệm và kiểm điểm, xử lý nghiêm túc đối với trường hợp kết án oan người không có tội hoặc bỏ lọt tội phạm.

- Coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” với phương châm “gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân” gắn với giai đoạn 2 cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tạo không khí thi đua sôi nổi nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ trong toàn ngành Toà án nhân dân.

- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan Đảng, chính quyền ở trung ương và địa phương để triển khai thực hiện tốt các mặt công tác của Tòa án.



3. Cử tri tp Hồ Chí Minh kiến nghị: Kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao xem xét và có văn bản hướng dẫn cho miễn tiền tạm ứng án phí trong trường hợp cơ quan BHXH khởi kiện doanh nghiệp nợ tiền BHXH, xem đây là trường hợp “Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công, lợi ích nhà nước” và được miễn án phí như quy định tại Khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án (có hiệu từ ngày 1/7/2009).

Trả lời (Tại Công văn số 161/TANDTC-VKHXX ngày 22/10/2010)

Sau khi nhận được kiến nghị của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã chỉ đạo các đơn vị chức năng của Toà án nhân dân tối cao nghiên cứu và đề xuất việc hướng dẫn về vấn đề nêu trên.



4. Cử tri tp Hồ Chí Minh kiến nghị: Kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao có văn bản hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục nội dung hồ sơ khởi kiện, thời hạn xét xử các vụ tranh chấp về BHXH để Tòa án nhân dân địa phương thống nhất cách thức thực hiện trong thời gian sớm nhất, có căn cứ ngay việc thi hành án nhằm bảo đảm thu hồi nhanh số tiền nợ quỹ BHXH giải quyết quyền lợi về BHXH cho người lao động.

Trả lời (Tại Công văn số 140/TANDTC-KHXX ngày 26/08/2010)

Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy rằng tranh chấp về bảo hiểm xã hội là một loại tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự và do vậy được giải quyết theo trình tự, thủ tục chung theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15-6-2004. Để hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành các Nghị quyết như sau:

- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-3-2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004;

- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng minh và chứng cứ”;

- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự”.

Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao còn ban hành các công văn trao đổi nghiệp vụ với các Tòa án nhân dân địa phương để góp phần giải quyết kịp thời những vướng mắc khi giải quyết các tranh chấp của các Tòa án nhân dân địa phương. Hiện nay, Tòa án Anhân dân tối cao chưa nhận được ý kiến đề nghị hướng dẫn về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội của Tòa án nhân dân các cấp. Tuy nhiên, đây là loại quan hệ tranh chấp có dấu hiệu đặc trưng so với loại tranh chấp khác. Do vậy, trong thời gian tới Tòa án nhân dân tối cao nghiên cứu toàn diện để xem xét việc hướng dẫn thực hiện.

5. Cử tri tỉnh Phú Yên kiến nghị: Cử tri Huỳnh Kim Oanh và Nguyễn Thị Nhuận, phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên rất bức xúc đối với bản án dân sự phúc thẩm số 85/2007/DSPT ngày 24/8/2007 của TAND tỉnh Phú Yên, xét xử về tranh chấp quyền sở hữu tài sản, do vậy đã làm đơn đề nghị lên Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm vào tháng 10/2007, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội khóa XII có Công văn số 2728/UBTP12 ngày 28/4/2009 gửi Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC đề nghị xem xét giải quyết theo thẩm quyền, trả lời đương sự biết nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết, vì vậy kiến nghị Chánh án TANDTC quan tâm xem xét, giải quyết và sớm trả lời cử tri.

1   ...   42   43   44   45   46   47   48   49   50


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương