KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)



tải về 3.73 Mb.
trang47/50
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích3.73 Mb.
1   ...   42   43   44   45   46   47   48   49   50

BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
Tại Công văn số 4095/BHXH-VP ngày 13/9/2010 về việc trả lời kiến nghị cử tri tại kỳ 7, Quốc hội khóa XII:

1. Cử tri tỉnh Phú Thọ kiến nghị: Đề nghị chuyển tiền BHYT trực tiếp xuống trạm y tế xã, nơi phần lớn nhân dân đăng ký điều trị ban đầu để trạm y tế được chủ động mua thuốc chữa bệnh cho người dân. Hiện nay, tình trạng trạm y tế chỉ có một số thuốc thông thường, người dân không muốn chuyển viện lên tuyến trên nên phải mua thuốc bên ngoài với giá cao.

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 12 Thông tư số 09/2009/TTLT-BYT-BTC ngày 14/8/2009 của liên Bộ Y tế - Tài chính quy định: Trạm y tế xã có đủ điều kiện khám chữa bệnh (KCB) theo quy định của Sở Y tế, được tổ chức KCB ban đầu cho bệnh nhân có thẻ BHYT. Tổng quỹ để đảm bảo KCB tại trạm y tế xã không thấp hơn 10% quỹ KCB BHYT theo số thẻ đăng ký KCB BHYT tại trạm y tế xã. Căn cứ hệ thống tổ chức y tế tại địa phương và trạm y tế xã đủ điều kiện KCB, Sở Y tế chủ trì, phối hợp với BHXH tỉnh, thành phố chỉ đạo việc ký hợp đồng KCB BHYT với bệnh viện huyện, bệnh viện đa khoa khu vực hoặc trung tâm y tế huyện để tổ chức KCB BHYT tại trạm y tế xã đủ điều kiện KCB.

Như vậy, những trạm y tế xã có đủ điều kiện chuyên môn để KCB theo quy định của Sở Y tế được tổ chức KCB ban đầu cho bệnh nhân có thẻ BHYT, bệnh viện huyện hoặc trung tâm y tế huyện có trách nhiệm cung ứng thuốc, hóa chất, vật tư y tế cho trạm y tế xã và thanh toán chi phí sử dụng giường bệnh (nếu có), các dịch vụ kỹ thuật do trạm y tế xã thực hiện trong phạm vi chuyên môn được quy định.

Việc nâng cao chất lượng KCB tại các cơ sở y tế nói chung và tại Trạm y tế xã nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào ngành y tế; cơ quan BHXH đang tích cực phối hợp với ngành y tế để cải thiện chất lượng dịch vụ KCB tại Trạm y tế xã, từng bước đáp ứng yêu cầu của người tham gia.



2. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đắk Nông kiến nghị: Đề nghị kiện toàn đội ngũ, nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ thanh tra chuyên ngành, cán bộ làm công tác kiểm tra về BHXH từ trung ương đến cơ sở để tăng cường công tác thanh tra chuyên đề như: mở rộng đối tượng tham gia BHXH; giải quyết các chế độ BHXH; tình hình nợ đọng, chậm đóng BHXH; hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ để đưa ra giải pháp khắc phục và kiến nghị với Chính phủ đổi mới, hoàn thiện phương thức hoạt động cung cấp dịch vụ BHXH theo hướng nâng cao chất lượng phục vụ và đảm bảo phát triển bền vững. (câu 2, câu 7 danh mục kèm theo Công văn số 192/BDN):

Trả lời:

Theo Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam; BHXH Việt Nam không có tổ chức thanh tra chuyên ngành mà chỉ thành lập tổ chức kiểm tra. Để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHXH Việt Nam đã ban hành Công văn số 3147/BHXH-KT ngày 03/9/2009 tăng cường chỉ đạo công tác kiểm tra trong toàn Ngành, yêu cầu BHXH tỉnh, thành phố: bố trí cán bộ đủ năng lực, trình độ, phẩm chất làm công tác kiểm tra; kiện toàn lãnh đạo phòng Kiểm tra; ổn định cán bộ, công chức làm việc ở phòng Kiểm tra ít nhất là 3 năm, có định mức biên chế tối thiểu cho phòng Kiểm tra. Đến nay, cán bộ kiểm tra tại BHXH các tỉnh, thành phố đã được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, BHXH Việt Nam đã kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ xem xét cho BHXH Việt Nam được thành lập tổ chức thanh tra chuyên ngành.

3. Cử tri tỉnh Bắc Kạn kiến nghị: Đề nghị nghiên cứu, xem xét sửa đổi thủ tục KCB quy định tại Thông tư số 07/BHYT - PT ngày 20/01/2010 của BHXH Việt Nam phù hợp và thuận tiện cho nhân dân, theo hướng người có thẻ BHYT trong phạm vi một tỉnh có thể được KCB ở bất kỳ cơ sở KCB nào của tỉnh, không bắt buộc phải có giấy giới thiệu từ nơi đăng ký KCB ban đầu và làm thủ tục chuyển viện như hiện nay

Trả lời:

Theo qui định của Luật BHYT, người tham gia BHYT có quyền đăng ký KCB BHYT ban đầu tại cơ sở KCB tuyến xã, tuyến huyện hoặc tương đương; một số trường hợp được đăng ký tại cơ sở KCB tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Việc quy định đăng ký KCB ban đầu cho người có thẻ BHYT tại một cơ sở KCB là hết sức cần thiết bởi:

- Căn cứ số thẻ BHYT đăng ký KCB ban đầu, cơ quan BHXH sẽ chuyển khoản kinh phí tương ứng để cơ sở y tế thực hiện KCB cho người bệnh.

- Giúp người bệnh thuận tiện trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế (đăng ký KCB tại TYT xã, bệnh viện huyện là các cơ sở gần dân nhất).

- Duy trì tuyến chuyên môn kỹ thuật trong hệ thống y tế (bệnh nhẹ điều trị ở tuyến dưới, bệnh nặng điều trị ở tuyến trên).

- Tránh quá tải cho tuyến trên (tuyến trên chỉ tập trung điều trị chuyên sâu, các bệnh nặng, phức tạp đòi hỏi chuyên sâu).

Việc quy định giấy chuyển viện từ nơi đăng ký KCB ban đầu nhằm quản lý hoạt động chuyên môn của cơ sở KCB, quản lý bệnh nhân và quỹ BHYT. Hệ thống chuyển tuyến này được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp tục làm việc với Bộ Y tế để cải cách các thủ tục hành chính về đăng ký KCB ban đầu và chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật nhằm thuận lợi hơn nữa cho người bệnh có thẻ BHYT.

4. Cử tri tỉnh Bắc Kạn kiến nghị: Đề nghị tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra công tác BHYT ở các địa phương trong việc cấp thẻ BHYT để tránh tình trạng cấp thẻ chậm, in sai thông tin trên thẻ nhưng chậm được khắc phục làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân

Cử tri các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Long An, An Giang, Quảng Ninh, Quảng Bình và T.p Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng kiến nghị: Cử tri phản ánh thẻ BHYT có nhiều sai sót nhất là họ tên, năm sinh nhưng không được khắc phục kịp thời gây khó khăn cho người dân; việc đổi thẻ BHYT mới kéo dài quá lâu làm mất quyền lợi của người tham gia BHYT trong thời gian đổi thẻ, cần quy định thời gian cụ thể trả thẻ mới cho người tham gia bảo hiểm, đề nghị BHXH Việt Nam có biện pháp chỉ đạo khắc phục tình trạng này. Đề nghị xem xét hạ thấp tuổi hưởng chính sách BHYT cho người già, quy định 85 tuổi như hiện nay là quá cao

Trả lời:

- Cơ quan BHXH in thẻ BHYT trên cơ sở danh sách các cơ quan, đơn vị quản lý người tham gia BHYT lập và chuyển lại cho cơ quan, đơn vị ngay sau khi in xong để cấp cho người sử dụng. Việc thẻ BHYT cấp chậm, có nhiều sai sót về họ tên, năm sinh là do một số đơn vị lập danh sách chưa chính xác về họ tên, năm sinh của người tham gia BHYT, khi nhận được thẻ BHYT từ cơ quan BHXH chưa chuyển ngay đến người sử dụng. Để khắc phục tình trạng này, BHXH Việt Nam đã hướng dẫn BHXH các tỉnh, thành phố thực hiện: phân loại các nhóm đối tượng tham gia BHYT để cấp thẻ BHYT có giá trị sử dụng dài hạn giảm số lần phải đổi thẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia và tiết kiệm chi phí; không dồn thời hạn đổi thẻ vào một thời điểm để tránh quá tải trong việc in và cấp thẻ BHYT; yêu cầu các cơ quan, đơn vị lập danh sách người tham gia BHYT chính xác chuyển về cơ quan BHXH trước khi thẻ BHYT hết hạn sử dụng trước 30 ngày. Sau khi nhận thẻ từ cơ quan BHXH chuyển ngay thẻ BHYT đến người sử dụng.

Về thời hạn cấp thẻ và đổi thẻ BHYT, BHXH Việt Nam đã thực hiện đúng khoản 3 Điều 7 Luật BHYT “trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ quy định tổ chức BHYT phải cấp thẻ BHYT cho người tham gia”; quy định tại Điều 18, Điều 19 “trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị cấp lại thẻ BHYT hoặc nhận đủ hồ sơ quy định đổi thẻ BHYT, tổ chức BHYT phải cấp lại, đổi thẻ BHYT cho người tham gia. Trong thời gian chờ đổi thẻ, người có thẻ vẫn được hưởng quyền lợi của người tham gia BHYT”.

- Ý kiến đề nghị hạ thấp tuổi hưởng chính sách BHYT cho người già, quy định 85 tuổi như hiện nay là quá cao:

Ngày 23/11/2009, Quốc hội đã thông qua Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2010. Theo quy định của Luật Người cao tuổi, ngoài việc được Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể chúc thọ, mừng thọ theo quy định, người cao tuổi sẽ được chăm sóc sức khoẻ thông qua việc định kỳ KCB tại các cơ sở y tế, người đủ 80 tuổi trở lên được hưởng BHYT, được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng và hỗ trợ chi phí mai táng khi chết.

5. Cử tri tỉnh Cần Thơ kiến nghị: Cử tri phản ánh hiện nay việc khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT bị ràng buộc bởi nhiều quy định bất hợp lý, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người được cấp thẻ. Nhiều cử tri nhận xét ngành BHXH muốn giành quyền lợi về mình và đẩy cái khó cho dân. Đề nghị trong thời gian tới, BHXH Việt Nam nên có kiến nghị với Chính phủ để kịp thời chỉnh sửa.

Trả lời:

Bảo hiểm y tế là chính sách xã hội lớn của Nhà nước, liên quan đến quyền lợi của gần 60% dân số cả nước, việc xây dựng và ban hành các văn bản quản lý, tổ chức thực hiện chính sách BHYT Chính phủ giao cho nhiều Bộ, Ngành, trong đó nhiệm vụ chủ yếu thuộc về Bộ Y tế, Bộ Tài chính và BHXH Việt Nam. Các văn bản hướng dẫn thực hiện được ban hành theo đúng trình tự, cơ bản phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức và cá nhân tham gia, cụ thể như:

- Quy định về đăng ký KCB ban đầu, chuyển tuyến khám chữa bệnh (Thông tư số 10/2009/BYT-TT ngày 14/8/2009 của Bộ Y tế): nhằm giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên, thuận tiện cho bệnh nhân trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế (KCB ngay tại các trạm y tế xã, huyện). Duy trì tuyến chuyên môn kỹ thuật trong hệ thống y tế là cần thiết (hầu hết các nước trên thế giới đang thực hiện) do vậy không thể coi quy định này tạo nên sự phiền phức cho người tham gia BHYT; trường hợp cấp cứu có thể đến bất cứ cơ sở KCB nào mà không cần giấy giới thiệu chuyển viện; bệnh nhân mắc một số bệnh mãn tính được sử dụng giấy hẹn tái khám...

- Quy định về cùng chi trả chi phí KCB: Luật BHYT quy định một số đối tượng, trong một số trường hợp phải thực hiện cùng chi trả chi phí KCB nhằm ràng buộc trách nhiệm của người tham gia BHYT, cơ sở cung cấp dịch vụ y tế trong việc cùng quản lý quỹ BHYT và từng bước khắc phục tình trạng mất cân đối quỹ BHYT (nguồn quỹ chung của nhà nước và nhân dân cùng đóng góp). Nhằm thực hiện chế độ đãi ngộ đối với một số nhóm đối tượng, Luật BHYT quy định người có công, trẻ em dưới 6 tuổi khi đi khám chữa bệnh không phải cùng chi trả; người nghèo, cán bộ hưu trí mất sức chỉ phải chi trả 5% chi phí KCB; KCB tại tuyến xã không phải cùng chi trả...

Tuy nhiên một số quy định về chính sách BHYT chưa phù hợp với thực tiễn, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nhân dân. BHXH Việt Nam sẽ tổng hợp và đề nghị với Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ngành liên quan sửa đổi, bổ sung, để chính sách BHYT ngày càng hoàn thiện.

6. Cử tri tỉnh Cần Thơ kiến nghị: Đề nghị quy định việc sử dụng thẻ BHYT như đối với các loại giấy tờ cá nhân khác (như Chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe, thẻ ATM…) để có thể sử dụng ở bất cứ nơi đâu trên toàn quốc, vừa đơn giản, thuận tiện, vừa dễ quản lý.

Trả lời:

Khác với các loại giấy tờ cá nhân khác (Chứng minh thư nhân dân, Giấy phép lái xe, thẻ ATM…), thẻ BHYT có những đặc thù riêng trong sử dụng. Thẻ BHYT ngoài việc quy định về sở hữu cá nhân, còn quy định nơi đăng ký KCB ban đầu (căn cứ để xác định quỹ KCB BHYT đối với cơ sở KCB). Nếu dùng thẻ BHYT như thẻ ATM (có thể rút tiền ở bất cứ nơi nào có máy rút tiền tương thích) sẽ xảy ra tình trạng đa số người bệnh chỉ chọn bệnh viện tỉnh, bệnh viện trung ương làm nơi KCB. Điều này sẽ gây nên sự quá tải ở các cơ sở KCB tuyến trên. Cơ quan BHXH không thể kiểm soát được bệnh nhân khám ở đâu, bao nhiêu lần, chi phí như thế nào… khi hệ thống thông tin còn lạc hậu, chưa nối mạng giữa cơ quan BHXH với tất cả các cơ sở KCB và nối mạng giữa cơ sở KCB với cơ sở KCB, sẽ không thể quản lý được bệnh nhân KCB, tất yếu dẫn đến tình trạng lạm dụng quỹ BHYT.



7. Cử tri thành phố Hà Nội kiến nghị: Cử tri phản ánh thủ tục thanh toán đối với người tham gia BHYT tại một số bệnh viện còn khó khăn, phiền hà. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo rà soát rút gọn các thủ tục hành chính về BHYT cho hợp lý theo hướng tạo thuận lợi cho người tham gia BHYT .

Trả lời:

Để đáp ứng yêu cầu KCB của nhân dân ngày càng tốt hơn, Bộ Y tế đã triển khai Chương trình số 527/CTr-BYT ngày 18/6/2009 về việc “Nâng cao chất lượng KCB tại các cơ sở KCB vì mục tiêu đáp ứng sự hài lòng của người bệnh BHYT” nhằm nâng cao tinh thần thái độ phục vụ người bệnh; thực hiện cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà trong đón tiếp và khám, chữa bệnh, thanh toán viện phí; nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế, bảo đảm quyền lợi của người có thẻ BHYT.

BHXH Việt Nam đã chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố tích cực phối hợp với cơ sở KCB đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong KCB, đổi mới phương thức thanh toán và quy trình giám định BHYT, tăng cường dịch vụ y tế đáp ứng sự hài lòng của người bệnh, tạo niềm tin để người dân tích cực tham gia tiến tới BHYT toàn dân vào năm 2014.

8. Cử tri các tỉnh Sơn La, Quảng Ninh, Yên Bái, Đồng Nai và tp Hồ Chí Minh, Hà Nội kiến nghị: Đề nghị cấp thẻ BHYT có thời hạn từ 2 đến 3 năm trở lên và thẻ BHYT nên có ảnh để không cần phải kèm theo giấy tờ tùy thân, hạn chế chi phí làm lại thẻ và đơn giản hóa các thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong việc khám chữa bệnh bằng BHYT.

Cử tri tỉnh Cao Bằng kiến nghị: BHXH Việt Nam cần có quy định về thời hạn sử dụng thẻ khám chữa bệnh hợp lý hơn vì Quyết định 139/2002/QĐ-TTg quy định tất cả người dân ở các khu vực đặc biệt khó khăn của miền núi phía bắc (trừ người dân tộc kinh không thuộc diện hộ nghèo) đều được cấp thẻ KCB, với những trường hợp này cần được cấp thẻ KCB vĩnh viễn để tránh lãng phí

Trả lời:

BHXH Việt Nam đã có Công văn số 4873/BHXH-BT ngày 22/12/2009 hướng dẫn thời hạn sử dụng thẻ BHYT, trong đó quy định một số nhóm đối tượng tham gia BHYT ít biến động được cấp thẻ BHYT có thời hạn sử dụng 5 năm, các đối tượng khác được cấp thẻ có thời hạn 1 năm hoặc theo thời gian đóng. Theo quy định của Luật BHYT, tổ chức BHYT ban hành mẫu thẻ BHYT thống nhất, chậm nhất đến ngày 01/01/2014 phải tổ chức thực hiện việc phát hành thẻ BHYT có ảnh cho người tham gia. Tuy nhiên, việc cấp thẻ BHYT có ảnh cho hàng chục triệu người là công việc rất khó khăn, phức tạp, BHXH Việt Nam đang nghiên cứu các giải pháp để thực hiện.



9. Cử tri các tỉnh Ninh Thuận, Vĩnh Long kiến nghị: Cử tri phản ánh: Hiện nay mức đóng BHYT tự nguyện ngày càng tăng theo hướng không có lợi cho người tham gia (394.200 đồng/ 1 người/1 năm ở khu vực nông thôn) và phải mua BHYT cho toàn bộ các nhân khẩu trong hộ khẩu thì mới được giảm 1 phần như quy định hiện tại là rất khó khăn cho những hộ cận nghèo và quá cao so với mức thu nhập của người dân nông thôn.

Trả lời:

Theo quy định hiện hành, mức đóng BHYT tự nguyện bằng 4,5% lương cơ bản (730.000 x 4,5% x 12 tháng = 394.200đ/người/năm). So với những năm trước đây, mức phí này tăng khoảng 150.000 đ với khu vực nông thôn và 70.000 đồng với khu vực thành thị. Sự cần thiết phải điều chỉnh tăng mức đóng là do:

- Quỹ BHYT tự nguyện nhân dân trong những năm qua luôn bị bội chi ở mức rất cao (khoảng 400%).

- Mức đóng BHYT tự nguyện hiện nay so với các đối tượng tham gia BHYT bắt buộc là rất thấp. trong khi tỷ lệ người có thẻ BHYT tự nguyện sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh từ 4 - 4,5 lần/năm, người tham gia bắt buộc chỉ sử dụng từ 1,5 - 2 lần/năm. Qua thống kê các năm, cứ 1000 người tham gia BHYT tự nguyện trong năm quỹ KCB là 354.780.000 đồng sẽ có khoảng 4.000 lượt khám ngoại trú và khoảng 200 lượt bệnh nhân điều trị nội trú. Trung bình 1 lượt khám ngoại trú là 150.000 đồng; một đợt điều trị nội trú là 1.400.000 đồng thì chi phí cho 1000 thẻ BHYT tự nguyện trong năm sẽ là: 150.000 đồng x 4.000 lượt + 1.400.000 đồng x 200 lượt = 880.000.000đồng. Như vậy quỹ BHYT tự nguyện bị bội chi trên 500 triệu đồng.

Đối với các hộ cận nghèo nhà nước quy định ngân sách hỗ trợ tối thiểu là 50% mức phí đóng BHYT, đồng thời giảm mức đóng đối với trường hợp nhiều thành viên trong gia đình cùng tham gia BHYT.

10. Cử tri tỉnhYên Bái kiến nghị: Đề nghị BHXH Việt Nam phối hợp với các bộ, ngành liên quan ban hành những quy định, biện pháp khắc phục những hạn chế, tồn tại trong quản lý và sử dụng quỹ BHXH, nhất là việc xác định, quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và mức đóng BHXH tự nguyện, chú trọng củng cố tổ chức bộ máy cán bộ BHXH địa phương, tăng cường phối hợp với UBND tỉnh, cơ quan liên quan của địa phương trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động BHXH ở tỉnh

Trả lời:

Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc được quy định rất rõ trong Luật BHXH. Tuy nhiên, thực tế vẫn nhiều đơn vị chưa tham gia BHXH cho người lao động, chủ yếu ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. BHXH Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền chính sách BHXH để yêu cầu người sử dụng lao động tham gia BHXH theo luật định; tiếp tục kiến nghị với Quốc hội sửa đổi, bổ sung những nội dung chưa phù hợp trong chính sách BHXH bắt buộc, tự nguyện đáp ứng yêu cầu của nhân dân và phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội của đất nước.



11. Cử tri tỉnh Đồng Tháp kiến nghị: Đề nghị BHXH Việt Nam nâng chất lượng thuốc BHYT nhằm đảm bảo chất lượng điều trị vì hiện nay tại các cơ sở y tế việc khám chữa bệnh BHYT không đạt chất lượng .

Trả lời:

Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở KCB là căn cứ pháp lý để cơ quan BHXH thanh toán tiền thuốc cho người bệnh BHYT.

Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu được xây dựng trên cơ sở đáp ứng nhu cầu điều trị của các cơ sở KCB, thuốc được lựa chọn theo nguyên tắc an toàn, hợp lý và hiệu quả, phù hợp với khả năng chi trả của người bệnh và quỹ BHYT.

Danh mục thuốc hiện hành bao gồm 750 hoạt chất tân dược, 57 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu, 127 thuốc chế phẩm YHCT, 237 vị thuốc YHCT và 54 thuốc sử dụng bổ sung cho trẻ em dưới 6 tuổi, tương ứng với trên 22.000 loại thuốc thành phẩm cụ thể đang lưu hành trên thị trường.

Căn cứ danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành, trên cơ sở phân hạng bệnh viện, các cơ sở KCB lựa chọn thuốc thành phẩm cụ thể đáp ứng nhu cầu điều trị cho bệnh nhân nói chung, trong đó có bệnh nhân BHYT. Các bệnh viện cũng không phân biệt thuốc dùng cho bệnh nhân BHYT và thuốc dùng cho bệnh nhân trả viện phí. Thực tế cho thấy, danh mục thuốc hiện nay sử dụng tại các cơ sở KCB hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu KCB. Hằng năm, BHXH Việt Nam vẫn đề nghị Bộ Y tế sửa đổi, bổ sung danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu nhằm ngày càng nâng cao chất lượng điều trị.

12. Cử tri tỉnh Tây Ninh kiến nghị: Đề nghị có quy định cụ thể đối với trường hợp người dân mua BHYT tự nguyện trong thời gian chờ cấp thẻ mới mà ngành bảo hiểm chưa cấp thẻ kịp thời (nếu người dân bệnh trong thời gian này cũng được thanh toán BHYT) vì hiện nay thời gian chờ cấp thẻ rất lâu (khoảng hơn 1 tháng) .

Trả lời:

Tại khoản 3, Điều 16 Luật BHYT quy định: đối với người tự nguyện tham gia BHYT đóng BHYT liên tục kể từ lần thứ hai trở đi thì thẻ BHYT có giá trị sử dụng kể từ ngày đóng BHYT; đối với người tự nguyện đóng BHYT lần đầu hoặc đóng BHYT không liên tục thì thẻ BHYT có giá trị sử dụng sau 30 ngày, kể từ ngày đóng BHYT. Như vậy, để tránh gián đoạn về giá trị sử dụng thẻ, người tự nguyện tham gia BHYT cần chủ động đóng phí BHYT khi thẻ BHYT sắp hết hạn sử dụng để được hưởng quyền lợi BHYT liên tục. Trường hợp vì lý do khách quan, việc in và cấp thẻ chậm, người tự nguyện tham gia BHYT vẫn được hưởng BHYT theo quy định.



BỘ XÂY DỰNG
1. Cử tri tp Hồ Chí Minh kiến nghị: Bộ Xây dựng cần tổ chức nghiên cứu ứng dụng vào thực tế các công nghệ mới tiên tiến đã thực hiện thành công tại các nước phát triển trong các lĩnh vực liên quan đến xây dựng nhà cao tầng, kết cấu lắp ghép, công trình ngầm, công trình có kết cấu không gian vượt nhịp lớn… kèm theo đó là việc nghiêu cứu sử dụng phù hợp các tiêu chuẩn nước ngoài để đảm bảo cơ sở khoa học vững chắc, đảm bảo áp dụng đồng bộ thống nhất giữa công nghệ mới, tiêu chuẩn áp dụng.

Trả lời: (Tại Công văn số 1666/BXD-KHCN ngày 1/9/2010)

Trong nhiều năm qua, các công nghệ mới, tiên tiến trên thế giới được áp dụng thành công trong thực tiễn xây dựng ở Việt Nam. Các công trình xây dựng có mức độ phức tạp cao, khẩu độ lớn, chiều cao lớn, công trình ngầm xuyên núi…. đều do các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện. Có thể nói đây là nỗ lực vượt bậc của các chuyên gia kỹ thuật thuộc các tổ chức và doanh nghiệp ngành xây dựng, góp phần to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành xây dựng.

Hiện nay, ngành xây dựng đã có trên 1250 tiêu chuẩn ngành (trong tổng số gần 6000 tiêu chuẩn chung của cả nước), phục vụ tốt cho công tác quản lý và đầu tư xây dựng. Hệ thống Quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam thường xuyên được soát xét, sửa đổi, bổ sung trên cơ sở tham khảo hoặc chấp thuận các tiêu chuẩn thế giới như SNiP (Nga), BS (Anh Quốc), ISO (Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế), EN (Tiêu chuẩn châu Âu), ASTM (Hiệp hội các nhà thí nghiệm và vật liệu Hoa kỳ), v.v… Các tiêu chuẩn này đáp ứng được nhu cầu phát triển trong nước, phù hợp với công nghệ xây dựng Việt Nam, đồng thời phải hài hoà với hệ thống tiêu chuẩn thế giới. Hiện nay, hệ thống các tiêu chuẩn ngành xây dựng đang được soát xét, chuyển đổi thành tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) theo quy định tại Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ.

Sau khi Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (Luật số 68/2006/QH11) có hiệu lực, tiêu chuẩn kỹ thuật được khuyến khích áp dụng. Thông tư số 40/2009/TT-BXD ngày 09/12/2009 của Bộ Xây dựng “Quy định áp dụng tiêu chuẩn xây dựng nước ngoài trong hoạt động xây dựng ở Việt Nam” quy định khi tiến hành lập dự án đầu tư và xây dựng công trình, chủ đầu tư được quyền lựa chọn tiêu chuẩn xây dựng (tiêu chuẩn bao gồm tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn nước ngoài), để áp dụng đồng bộ cho công trình của mình trên cơ sở tuân thủ quy chuẩn xây dựng và các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan.



2. Cử tri tp Hải Phòng kiến nghị:

- Đề nghị Chính phủ chỉ đạo việc tăng cường xây dựng thêm các khu dân cư thu nhập thấp để cải thiện về nhà ở cho những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

- Số lượng lao động nhập cư vào làm trong các doanh nghiệp ở các thành phố lớn ngày càng tăng, gây áp lực lớn cho xã hội và doanh nghiệp. Cử tri đề nghị Nhà nước có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để tạo điều kiện sống, sinh hoạt và nhà ở cho lao động nhập cư.

Trả lời: (Tại Công văn số 1645/BXD-QLN ngày 31/8/2010)

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề nhà ở của nhân dân. Nhà nước đã có những cơ chế, chính sách để phù hợp với điều kiện kinh tế đất nước trong từng giai đoạn. Từ năm 1991, Nhà nước thực hiện xóa bỏ bao cấp về nhà ở, từng bước xã hội hóa việc phát triển quỹ nhà ở theo cơ chế thị trường. Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách về nhà ở góp phần thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển quỹ nhà ở cả về chất lượng và số lượng; đại bộ phận nhân dân ở đô thị và nông thôn đã được cải thiện về chỗ ở và điều kiện ở. Nhiều khu đô thị mới với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ đã được xây dựng, nhiều khu chung cư cao tầng hiện đại được cung cấp dịch vụ đô thị đồng bộ đã được đầu tư góp phần cải thiện bộ mặt đô thị và giải quyết nhà ở cho người dân. Việc xóa bỏ chính sách bao cấp về nhà ở đã phát huy được tính chủ động của mỗi cá nhân trong việc tự cải thiện chỗ ở và thu hút được các nguồn lực xã hội cùng tham gia đầu tư, phát triển quỹ nhà ở. Tuy vậy việc phát triển nhà ở cho công nhân khu công nghiệp và nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp thuê, thuê mua theo quy định của Luật nhà ở còn có những hạn chế như:

- Nhà nước chưa có đủ điều kiện kinh tế để tập trung vốn đầu tư phát triển quỹ nhà ở xã hội, nhà ở công nhân khu công nghiệp.

- Chưa có cơ chế ưu đãi hiệu quả để thu hút các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào việc phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân khu công nghiệp.

- Chưa có chính sách về hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân khu công nghiệp.

Vì vậy việc phát triển quỹ nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân lao động khu công nghiệp còn chậm không đáp ứng được nhu cầu về nhà ở cho người có thu nhập thấp, nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp. Để thúc đẩy việc phát triển quỹ nhà ở cho các đối tượng thu nhập thấp tại khu vực đô thị cũng như việc xây dựng và phát triển quỹ nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp, ngày 20/4/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 18/NQ-CP về một số cơ chế, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển nhà ở cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo và nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung, người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị. Tiếp đó ngày 24/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp thuê và Quyết định số 67/2009/QĐ-TTg ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị. Các Quyết định này đã có các chính sách ưu đãi cụ thể, đồng bộ đối với chủ đầu tư dự án nhà ở thu nhập thấp, chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở công nhân khu công nghiệp như: được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong phạm vi dự án; được áp dụng thuế suất ưu đãi; được hỗ trợ tín dụng đầu tư từ các nguồn; được Nhà nước hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào dự án;…

Sau khi có Nghị quyết số 18/NQ-CP của Chính phủ và Quyết định số 66/QĐ-TTg, Quyết định số 67/QĐ-TTg của Thủ tướng đã tạo ra những chính sách cụ thể, thu hút được sự đồng tình và ủng hộ của toàn xã hội; hiện nay trên toàn quốc có hàng trăm các dự án đã đăng ký:

- Dự án xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp; có 36 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đăng ký với 130 dự án, tổng mức đầu tư khoảng 27.256 tỷ đồng, quy mô số căn hộ khoảng 68.920 căn, đáp ứng cho khoảng 308.226 người.

- Dự án xây dựng nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp; có 25 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đăng ký với 71 dự án, tổng mức đầu tư khoảng 9.584 tỷ đồng, diện tích sàn xây dựng khoảng 1.953.839m2, đáp ứng cho khoảng 232.759 người.

Với những chính sách nêu trên, Nhà nước đã và đang từng bước giải quyết nhu cầu nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp; giúp giải quyết nhu cầu nhà ở cho những gia đình có hoàn cảnh khó khăn và đặc biệt khó khăn về nhà ở. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế đất nước còn hạn chế trong khi nhu cầu về chỗ ở và nhu cầu về cải thiện chỗ ở của các gia đình, cũng như nhu cầu về chỗ ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp lại liên tục tăng cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế nước nhà; vì vậy, việc giải quyết chỗ ở cho người có thu nhập thấp và chỗ ở cho công nhân khu công nghiệp là vấn đề cần có thời gian cũng như cần huy động tốt hơn nữa mọi nguồn lực của toàn xã hội tham gia phát triển quỹ nhà ở cho người có thu nhập thấp và chỗ ở cho công nhân khu công nghiệp.



3. Cử tri tỉnh Gia Lai kiến nghị: Đề nghị Bộ nghiên cứu sửa đổi quy định về cấp công trình nêu trong TCXDVN 285: 2002 do Bộ Xây dựng ban hành, vì không thống nhất với cấp công trình nêu trong Nghị định số 209/2004/NĐ-CP. Đề nghị Bộ Xây dựng điều chỉnh cấp công trình cho phù hợp với Nghị định số 209/2004/NĐ-CP của Chính phủ.

Trả lời: (Tại Công văn số 1578/BXD-GĐ ngày 25/8/2010)

Theo quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật tại Điểm a khoản 1 Điều 27, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phân loại, phân cấp đối với công trình thuỷ lợi. Khi đó, Tiêu chuẩn TCXDVN 285-2002: “Công trình thuỷ lợi - Các quy định chủ yếu về thiết kế” sẽ được chuyển đổi thành Tiêu chuẩn quốc gia trên cơ sở sửa đổi cho phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia ban hành.

Trong khi chưa ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phân loại, phân cấp đối với công trình thuỷ lợi, việc phân loại, phân cấp đối với công trình thuỷ lợi vẫn được xác định theo quy định tại Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng. Việc xác định cấp công trình theo Nghị định số 209/2004/NĐ-CP làm cơ sở để xác định thời hạn, mức tiền bảo hành và lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng đối với từng công trình cụ thể. Công tác thiết kế, thẩm tra, thẩm định, phê duyệt công trình thuỷ lợi vẫn sử dụng “Tiêu chuẩn TCXDVN 285-2002: Công trình thuỷ lợi - Các quy định chủ yếu về thiết kế”.

Hiện nay, đối với các loại công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật đô thị, cấp công trình được xác định theo quy định tại Thông tư số 33/2009/TT-BXD của Bộ Xây dựng ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phân loại, phân cấp công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật đô thị.



4. Cử tri tỉnh Tiền Giang kiến nghị: Về việc đo đạc diện tích xây dựng nhà, công trình xây dựng: theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng thì diện tích xây dựng tầng trệt đo phủ bì tường, cột. Trong thực tế đại bộ phận hộ bị giải tỏa đều yêu cầu tính diện tích xây dựng cả bậc thểm, bậc cấp, mái che (hành lang không cột, đo tới giọt nước), tạo nên sự không thống nhất giữa Nhà nước và nhân dân. Để thống nhất thực hiện đề nghị Bộ Xây dựng có hướng dẫn cụ thể về đô đạc diện tích nhà ở, công trình xây dựng.

Trả lời: (Tại Công văn số 1665/BXD-KHCN ngày 1/9/2010)

Về cách tính diện tích nhà, công trình xây dựng đã có các quy định tại Chương 8, Phần 3, Tập II - Quy chuẩn xây dựng Việt Nam. Đối với việc đo đạc diện tích nhà để phục vụ cho đền bù do giải toả, do liên quan đến các quy định về quản lý xây dựng đô thị tại từng địa phương và từng thời điểm xây dựng (về quy định khoảng lùi, về xây dựng bậc cấp, về mức độ được phép đua ra của ban công… ) vì vậy mỗi địa phương sẽ có các quy định cụ thể cho từng trường hợp trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đề nghị Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tiền Giang yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tại địa phương báo cáo cụ thể về các quy định cho công việc trên tại địa phương.



5. Cử tri tỉnh Trà Vinh kiến nghị: Nên có giải pháp đối với nhà siêu mỏng (xử phạt và tháo dỡ tầng cao hoặc toàn bộ ngôi nhà) để tránh gây ra hậu quả đáng tiếc và bảo đảm mỹ quan.

Trả lời: (Tại Công văn số 1436/BXD-TTr ngày 3/8/2010)

Bộ Xây dựng chia sẻ những bức xúc của cử tri tỉnh Trà Vinh trước thực trạng xây dựng nhà “siêu mỏng” và nhất trí cần có những giải pháp mạnh để giải quyết dứt điểm vấn đề này. Ngày 28/02/2005, Bộ Xây dựng đã đề xuất Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 39/2005/QĐ-TTg Hướng dẫn thi hành Điều 121 của Luật Xây dựng. Tại điểm a khoản 2 Điều 3 Quyết định số 39/2005/QĐ-TTg quy định rõ:

“Nếu phần diện tích đất còn lại nhỏ hơn 15m2 có chiều rộng mặt tiền hoặc chiều sâu so với chỉ giới xây dựng nhỏ hơn 3m thì không được phép xây dựng”.

Căn cứ quy định này, việc xây dựng nhà “siêu mỏng” là trái với quy định pháp luật, phải phá dỡ theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị. Trường hợp người dân không tự phá dỡ công trình vi phạm, sẽ bị cưỡng chế phá dỡ theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ thuộc Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp huyện và Chánh thanh tra Sở Xây dựng theo quy định tại Điều 17, Điều 18 và Điều 21 của Nghị định số 180/2007/NĐ-CP.

Đây là những chế tài pháp lý được quy định nhằm ngăn chặn, xử lý vấn đề xây dựng nhà “siêu mỏng”. Bộ Xây dựng chân thành cảm ơn ý kiến, kiến nghị của cử tri tỉnh Trà Vinh và mong tiếp tục nhận được những ý kiến phản ánh, phối hợp của cử tri và Đại biểu Quốc hội trong thời gian tới.

6. Cử tri tỉnh Thừa Thiên Huế kiến nghị: Đề nghị Bộ Xây dựng quan tâm xem xét bổ sung 04 dự án xây dựng các khu nhà ở tập trung cho sinh viên trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế vào Danh mục dự án phát triển nhà ở sinh viên bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ năm 2010 (theo đề nghị của Bộ Xây dựng tại Công văn số 515/BXD-QLN ngày 30/3/2010) nhằm nhanh chính đưa công trình vào sử dụng góp phần giải quyết nhu cầu bức thiết về chỗ ở cho sinh viên trên địa bàn tỉnh, đáp ứng mục tiêu đề ra của Chính phủ.

Trả lời: (Tại Công văn số 1683/BXD-QLN ngày 7/9/2010)

Thực hiện Thông báo số 81/TB-VPCP ngày 23/3/2010 của Văn phòng Chính phủ về việc phân bổ vốn xây dựng ký túc xá sinh viên năm 2010, Bộ Xây dựng đã tập hợp danh mục các dự án cần thiết bổ sung của UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ Công an (trong đó có 04 dự án xây dựng các khu nhà ở tập trung cho sinh viên trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế) trong danh mục dự án phát triển nhà sinh viên bằng nguồn trái phiếu Chính phủ năm 2010 để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về danh mục dự án xây dựng ký túc xá sinh viên đợt 2 giai đoạn 2009 – 2010 ngày 26/7/2010, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tập trung vốn cho các dự án xây dựng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục để các dự án triển khai thực hiện đúng tiến độ, hoàn thành dứt điểm trong năm 2010 và 2011. Đối với các dự án mới bổ sung thì đồng ý đưa vào danh mục các dự án đầu tư bằng nguồn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011 – 2015 (trong đó có 4 dự án trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế).

7. Cử tri tỉnh Ninh Thuận kiến nghị: Cử tri phản ánh: Hiện việc triển khai xây dựng nhà ở cho hộ nghèo theo QĐ số 167/2008/QĐ - TTg ngày 12/12/2008 của Chính phủ khó đảm bảo tiến độ đến cuối năm 2012 hoàn thành. Cụ thể là vướng mắc về thủ tục đất đai. Theo quy định là phải xây dựng nhà trên đất thổ cư hợp pháp, nhưng thông thường các hộ nghèo chỉ làm ăn sinh sống trên đất rẫy, đất đồi núi tự khai hoang, phần lớn không có đất ở hợp pháp nên việc xây dựng nhà gặp khó khăn, ách tắc. Đề nghị Chính phủ có giải pháp chỉ đạo phù hợp để giải quyết vướng mắc trên.

Trả lời: (Tại Công văn số 1576/BXD-QLN ngày 25/8/2010)

Ngày 12/12/2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở nhằm mục đích cùng với việc thực hiện các chính sách thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, Nhà nước trực tiếp hỗ trợ các hộ nghèo để có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xoá đói, giảm nghèo bền vững. Dự kiến có khoảng 500.000 hộ nghèo ở khu vực nông thôn trên phạm vi cả nước được hỗ trợ nhà ở trong giai đoạn 2009 - 2012.

Đây là chính sách lớn của Chính phủ, có ý nghĩa tổng hợp về kinh tế – xã hội và nhân văn sâu sắc; được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Quá trình triển khai thực hiện Chính sách đã được sự quan tâm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương cũng như các cấp uỷ Đảng, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các địa phương. Cùng với sự quan tâm chỉ đạo thực hiện, Nhà nước đã ưu tiên bố trí vốn ngân sách trung ương đảm bảo đầy đủ và kịp thời để các địa phương triển khai thực hiện. Ngoài vốn hộ trợ của từ ngân sách trung ương theo quy định, các địa phương đã hỗ trợ thêm từ ngân sách địa phương; đồng thời nhiều đoàn thể, tập đoàn kinh tế, tổng công ty, các cá nhân và cộng đồng nói chung đã tích cực ủng hộ, giúp đỡ có hiệu quả các hộ nghèo xây dựng nhà ở. Nhờ vậy việc hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo đã đạt được kết quả tốt. Tính đến tháng 7/2010 đã có gần 200.000 hộ nghèo trên phạm vi cả nước được hỗ trợ nhà ở. Riêng tỉnh Ninh Thuận đã hoàn thành hỗ trợ nhà ở cho 2.195 hộ trên tổng số 4.274 hộ nghèo theo kế hoạch, đạt tỷ lệ 51%.

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản nói trên thì trong quá trình triển khai thực hiện Chính sách, nhiều địa phương cũng còn một số khó khăn, vướng mắc làm ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành, trong đó một số hộ nghèo chưa có đất hợp pháp để xây dựng nhà ở, đúng như ý kiến của cử tri đã nêu.

Để giải quyết đất ở cho những hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chưa có đất ở, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 về việc tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào đân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, trong đó quy định chính quyền địa phương các cấp tạo quỹ đất giao cho các hộ này để xây dựng nhà ở (điểm b khoản 3 Điều 2). Đối với các hộ nghèo khác chưa có đất ở (nếu có) thì chính quyền địa phương các cấp cũng cần quan tâm, thực hiện hỗ trợ đất ở cho các đối tượng này theo đúng qui định của pháp luật và điều kiện cụ thể của địa phương để xây dựng nhà ở.

Ngoài trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc hỗ trợ đất ở cho các hộ nghèo thì các địa phương cần chỉ đạo thực hiện có hiệu quả việc tuyên truyền, vận động anh em, họ hàng, người thân của các hộ nghèo trong việc chia sẻ, giúp đỡ để họ có đất ở.



8. Cử tri tỉnh Hòa Bình kiến nghị: Hiện nay, các công trình phụ trợ giúp đỡ người khuyết tật còn thiếu, gây khó khăn cho người khuyết tật trong quá trình tham gia vào cuộc sống. Đề nghị Bộ nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ xem xét để xây dựng các công trình hỗ trợ cho người khuyết tật.

Trả lời: (Tại Công văn số 1680/BXD-KHCN ngày 7/9/2010)

Luật người khuyết tật (Luật số 51/2010/QH12) được Quốc hội khoá XII thông qua ngày 10/8/2010 đã quy định tại Chương VII, Điều 39. Nhà chung cư và công trình công cộng: “Việc phê duyệt thiết kế, xây dựng, nghiệm thu công trình xây dựng mới, cải tạo và nâng cấp nhà chung cư, trụ sở làm việc và công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội phải tuân thủ hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng để bảo đảm người khuyết tật tiếp cận” và Điều 40 cũng quy định lộ trình cải tạo đối với từng loại công trình. Bộ Xây dựng đã ban hành: Quy chuẩn QCXDVN 01:2002 “Quy chuẩn xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng”; các tiêu chuẩn TCXDVN 264:2002, TCXDVN 265:2002 để hướng dẫn cụ thể về việc xây dựng nhà ở và công trình đường, hè phố đảm bảo cho người tàn tật tiếp cận sử dụng kèm theo các thiết kế điển hình và hướng dẫn kỹ thuật. Tuy nhiên, việc triển khai xây dựng và cải tạo công trình để người tàn tật tiếp cận sử dụng tại các địa phương đòi hỏi phải có sự quan tâm nhiều hơn nữa của các cấp chính quyền, trong đó có sự giám sát chặt chẽ của các đại biểu quốc hội và cử tri.



9. Cử tri tp Hà Nội kiến nghị: Cử tri đề nghị Chính phủ nghiên cứu quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội theo hướng không tách rời khu Trung tâm chính trị với khu Trung tâm hành chính của Thủ đô (Cử tri quận Hai Bà Trưng).

Trả lời: (Tại Công văn số 1649/BXD-KTQH ngày 31/8/2010)

“Về ý kiến cho là Trung tâm hành chính Quốc gia chuyển lên Ba Vì: Ý kiến này đã được giải trình tại báo cáo bổ sung của Bộ Xây dựng thừa ủy quyền của Chính phủ trình bày trước Quốc hội ngày 15/6/2010, có nêu: trong Hiến pháp, Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị và Pháp lệnh Thủ đô của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 28/12/2000 xác định Hà Nội là Thủ đô của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; là trái tim của cả nước, đầu não Chính trị - Hành chính Quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước. Theo đó, phải hiểu rằng toàn bộ Thủ đô Hà Nội (theo ranh giới hành chính) là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia của cả nước. Sở dĩ như vậy là vì trong Thủ đô Hà Nội có trụ sở của các cơ quan đầu não của bộ máy hành chính Quốc gia. Do vậy, không có khái niệm Trung tâm Hành chính Quốc gia cho một địa điểm hoặc một khu vực nào đó trong Thủ đô và càng không thể có chuyện “dời đô” như một số ý kiến còn băn khoăn đặt câu hỏi. Thủ đô Hà Nội của chúng ta - từ thực trạng và những nguyên nhân lịch sử - có “Trung tâm Chính trị Ba Đình” vì là nơi có trụ sở các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước, nơi có chứng tích về sự khai sinh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta đang yên nghỉ trong cõi vĩnh hằng. Và như vậy, chắc chắn và mãi mãi Ba Đình vẫn sẽ là “Trung tâm chính trị” của đất nước và trong tâm thức của mỗi người Việt Nam chúng ta. Tuy nhiên, tại khu vực Ba Đình không có điều kiện để xây dựng tập trung tất cả trụ sở các cơ quan đầu não của bộ máy hành chính Quốc gia, mà thực tế phải bố trí phân tán ở nhiều khu vực khác nhau trong thành phố Hà Nội…”

Thực tế hiện nay, một số Bộ, Ngành thuộc Chính phủ đã và đang xây dựng trụ sở tại khu vực Mễ Trì - Mỹ Đình. Chính phủ đang chỉ đạo việc quy hoạch, chọn địa điểm để đưa một số Bộ, Ngành khác ra ngoài khu vực nội đô. Qua các lần báo cáo Thường trực Chính phủ, Liên danh tư vấn đã đề xuất nhiều vị trí khác nhau, xem xét ở nhiều góc độ, tiêu chí: phù hợp về quy hoạch không gian, hạ tầng, môi trường sinh thái, điều kiện tự nhiên, đất đai... Trên cơ sở Quy hoạch chung được phê duyệt, UBND thành phố Hà Nội sẽ lập, phê duyệt các quy hoạch phân khu để làm cơ sở xác định các vị trí mới theo các tiêu chí nêu trên.

Mặt khác, trong đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô có đề xuất nhiều địa điểm để dành đất dự trữ cho phát triển công trình công cộng như y tế, giáo dục, đào tạo… Đây là đề xuất về tầm nhìn, cần phải có trong đồ án quy hoạch chung xây dựng.



10. Cử tri tỉnh Bạc Liêu kiến nghị: Đề nghị Chính phủ xem xét ưu tiên bố trí vốn ngân sách nhà nước đầu tư xây dựng ký túc xá sinh viên cho trường Đại học Bạc Liêu, mặc dù số lượng sinh viên hiện nay tại trường chỉ sấp xỉ 5.000 người, nhưng nhu cầu chỗ ở của sinh viên là rất cần thiết, việc xây dựng ký túc xá sinh viên nên gắn với cơ sở đào tạo để thuận lợi quản lý và giảm ảnh hưởng đến giao thông trong giờ cao điểm.

Trả lời: (Tại Công văn số 1684/BXD-QLN ngày 07/9/2010)

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 20/4/2009 của Chính phủ và Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng đã có văn bản gửi các địa phương yêu cầu lập danh mục dự án phát triển nhà ở sinh viên. Sau khi tổng hợp danh mục dự án phát triển nhà ở sinh viên của các địa phương (các dự án đã có đất sạch, đã có Quyết định phê duyệt dự án của UBND cấp tỉnh, dự án có thể khởi công ngay trong năm 2009), Bộ Xây dựng đã lập Tờ trình số 72/TTr-BXD ngày 8/12/2009 đề nghị Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục dự án phát triển nhà ở sinh viên bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn năm 2009-2010. Theo Quyết định số 1308/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục dự án phát triển nhà ở sinh viên bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ của Thủ tướng Chính phủ năm 2009 ngày 20/8/2009, Quyết định số 2217/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục dự án phát triển nhà ở sinh viên tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và điều chỉnh danh mục dự án nhà ở sinh viên cơ sở đào tạo thuộc Bộ Công an bằng nguồn trái phiếu Chính phủ năm 2009 ngày 31/12/2009, Quyết định số 124/QĐ-TTg về việc giao kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ năm 2010 ngày 18/01/2010 và Quyết định số 257/QĐ-TTg về việc điều chỉnh vốn, danh mục dự án nhà ở sinh viên của tỉnh Thái Bình và tỉnh Vĩnh Phúc bằng nguồn trái phiếu Chính phủ năm 2009 ngày 11/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và 2 Bộ (Quốc phòng và Công an) được phân bổ vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn năm 2009-2010 để đầu tư xây dựng nhà ở sinh viên với tổng số vốn là 5.500 tỷ đồng. Trong đó, trước mắt tập trung bố trí vốn cho các địa phương trọng điểm, tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng và có nhu cầu lớn về chỗ ở của sinh viên (trên 10.000 sinh viên có nhu cầu về chỗ ở). Trong danh mục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chưa có dự án nhà ở sinh viên của tỉnh Bạc Liêu vì theo báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu, số lượng sinh viên trên địa bàn tỉnh chưa đủ tiêu chí nêu trên. Trong thời gian tới, Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục tổng hợp danh mục dự án đầu tư xây dựng nhà ở sinh viên để bố trí vốn triển khai thực hiện trong giai đoạn năm 2011- 2015 đối với các địa phương còn lại, chưa được bố trí vốn trong giai đoạn năm 2009- 2010 (trong đó có tỉnh Bạc Liêu) để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.



11. Cử tri các tỉnh Hà Nam, Lai Châu kiến nghị: Đề nghị Chính phủ điều chỉnh cơ chế hỗ trợ vốn trái phiếu cho xây dựng nhà ở sinh viên (ngoài xây lắp như hiện nay, Trung ương hỗ trợ thêm về chi phí thiết bị, tư vấn, quản lí dự án và chi phí khác, địa phương chỉ lo chi phí giải phóng mặt bằng).

Trả lời: (Tại Công văn số 1644/BXD-QLN ngày 31/8/2010)

Trong quá trình triển khai xây dựng nhà ở sinh viên theo Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 20/4/2009 của Chính phủ và Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng cũng đã nhận được văn bản kiến nghị của các địa phương đề nghị Trung ương hỗ trợ các chi phí như: chi phí tư vấn, chi phí quản lý các dự án và các chi phí khác; giúp các địa phương giải quyết khó khăn về nguồn vốn. Để góp phần tháo gỡ những khó khăn của các địa phương, Bộ Xây dựng đã tổng hợp báo cáo tình hình trên với Thủ tướng Chính phủ. Tại Thông báo số 121/TB-VPCP ngày 17/5/2010, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Xây dựng chủ trì phối hợp với các bộ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo) để lấy ý kiến thống nhất trình Thủ tướng Chính phủ, nhằm mục đích điều chỉnh kịp thời các cơ chế chính sách, giúp các địa phương giải quyết khó khăn về nguồn vốn các khoản chi phí (khảo sát, lập dự án, thiết kế, giám sát xây dựng, chi phí quản lý dự án, đánh giá dự án đầu tư và chi phí tư vấn khác) trong quá trình thực hiện dự án xây dựng nhà ở cho sinh viên tại các địa phương. Bộ Xây dựng đã tổng hợp báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ.


BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
Tại Công văn số 2891/BTTTT-VP ngày 6/9/2010 của Bộ Thông tin và truyền thông về việc trả lời kiến nghị cử tri tại kỳ 7, Quốc hội khóa XII

1. Cử tri Bình Thuận, Bình Định, An Giang, Vĩnh Long, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Tuyên Quang kiến nghị: Về việc các em học sinh tham gia chơi game online trên mạng với những nội dung xấu đã ảnh hưởng rất lớn đến đạo đức, nhiều em học sinh ham chơi game đã bỏ học và có nhiều hành vi vô đạo đức. Đề nghị kiểm tra chặt chẽ về việc lưu hành các trò chơi game trực tuyến với những nội dung nêu trên; chỉ đạo các Đài Phát thanh và Truyền hình hạn chế việc quảng cáo rộng rãi các trò chơi có nội dung không lành mạnh trên các phương tiện thông tin đại chúng và có các biện pháp hiệu quả để ngăn chặn tình trạng này.

Trả lời:

Để quản lý việc lưu hành các trò chơi trực tuyến, ngày 01/6/2006, liên Bộ Văn hóa - Thông tin, Bưu chính Viễn thông, Công an đã ban hành Thông tư số 60/2006/TTLT-BVHTT-BCVT-CA về quản lý trò chơi trực tuyến. Trong Thông tư số 60 đã đưa ra các quy định cụ thể nhằm loại bỏ những game trực tuyến có nội dung xấu không được phát hành tại Việt Nam. Trò chơi trực tuyến được phát hành tại Việt Nam phải bảo đảm các yếu tố như: không kích động nhân dân chống lại Nhà nước, phá hoại khối đoàn kết toàn dân; không kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc; không kích động dâm ô, tội ác, đồi trụy…

Đồng thời, Thông tư cũng đã quy định khá cụ thể trách nhiệm của các đối tượng điều chỉnh là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến, các đại lý Internet, người chơi và trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan và chính quyền địa phương trong việc thực hiện chức năng quản lý nhằm hạn chế việc chơi game online quá nhiều, hạn chế tác động tiêu cực của game online đối với lứa tuổi thanh thiếu niên, học sinh.

Trong Thông tư quy định cụ thể trách nhiệm của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến phải xây dựng biện pháp kỹ thuật, để giới hạn giờ chơi, quản lý người chơi theo quy định:

- Sau 3 giờ chơi, hạn chế 50% các loại hình điểm thưởng, sau 5 giờ chơi hạn chế 100% điểm thưởng;

- Quản lý dữ liệu thông tin người chơi;

- Khuyến cáo trên trò chơi những ảnh hưởng về thể chất và tinh thần khi chơi quá nhiều.

Các đại lý Internet có trách nhiệm:

- Kiểm tra tính hợp lệ của người chơi theo quy định Thông tư 02/2005/TTLT-BVHTT-BCVT-BCA ngày 14/7/2005: Người chơi phải xuất trình giấy tờ xác định nhân thân và người chơi dưới 14 tuổi phải có người lớn đi kèm;

- Chỉ được cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến tại các địa điểm kinh doanh đại lý Internet từ 6 giờ đến 23 giờ hàng ngày;

- Chỉ được cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến ở các địa điểm cách cổng ra vào của các Trường tối thiểu 200m.

Người chơi có trách nhiệm phải cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin cá nhân theo yêu cầu của doanh nghiệp và đại lý Internet.

Như vậy, Thông tư 60 đã đưa ra các quy định khá chặt chẽ và cụ thể nhằm hạn chế việc chơi game trực tuyến quá nhiều, hạn chế tác động tiêu cực của game trực tuyến đối với lứa tuổi thanh thiếu niên, học sinh. Tuy nhiên, để các quy định của Thông tư số 60 được thực hiện có hiệu quả cao cần có sự phối hợp quản lý, kiểm tra, giám sát thường xuyên của các cơ quan chức năng, đặc biệt là sự phối hợp của gia đình, nhà trường và các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương.

Hơn nữa, trên thực tế, những game online được phát hành thông qua các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến đều đã được thẩm định nội dung, kịch bản, hình ảnh để đảm bảo không vi phạm quy định Thông tư 60. Tuy nhiên do đặc thù môi trường Internet, vẫn còn tồn tại những trò chơi trực tuyến lậu do nước ngoài cung cấp (đặt máy chủ ở nước ngoài) và trò chơi điện tử offline (trò chơi điện tử được cài đặt sẵn trên máy tính, băng đĩa, không cần nối mạng internet) có nội dung bạo lực, sex chưa được kiểm duyệt nội dung.

Việc thực hiện Thông tư 60 đã góp phần quản lý hoạt động trò chơi trực tuyến ở Việt Nam trong thời gian qua. Tuy nhiên, do sự phát triển rất nhanh và đa dạng của loại hình trò chơi trực tuyến, Thông tư 60 đã thể hiện một số nội dung cần điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung…. Để có thể quản lý chặt chẽ, có hiệu quả hơn đối với dịch vụ game online và nhằm phát huy vài trò, trách nhiệm của các đối tượng có liên quan như đã nêu trên, hạn chế tác động tiêu cực của game online đối với lứa tuổi thanh, thiếu niên học sinh, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để xây dựng Quyết định do Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về quản lý trò chơi trực tuyến.

Đến nay, Bộ Thông tin và Truyền thông hoàn chỉnh dự thảo Quy chế sau khi đã tổ chức nhiều cuộc họp, hội thảo lấy ý kiến góp ý của nhiều đối tượng góp ý cho dự thảo, đồng thời cũng tham khảo kinh nghiệm quản lý trò chơi trực tuyến ở một số nước có ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển như Trung Quốc và Hàn Quốc. Theo đó, dự thảo quy định chặt chẽ hơn về giờ chơi, người chơi và một số quy định quan trọng khác nhằm quản lý có hiệu quả loại hình dịch vụ này, cụ thể:

- Đại lý Internet chỉ được cho người chơi trò chơi trực tuyến từ 8 giờ sáng đến không quá 22 giờ đêm.

- Không cho trẻ em đăng nhập tham gia trò chơi từ 22 giờ đêm đến 8 giờ sáng.

- Không để học sinh phổ thông sử dụng dịch vụ trò chơi trực tuyến từ 8 giờ đến 17 giờ hàng ngày.

- Thời gian chơi tổng cộng của mỗi người chơi trong một ngày đối với mỗi trò chơi không được vượt quá 180 phút.

- Khi đăng nhập vào trò chơi, người chơi bắt buộc phải cung cấp những thông tin về cá nhân như: Tên người chơi; tuổi người chơi; địa chỉ thường trú; số chứng minh thư hoặc số hộ chiếu; số điện thoại cố định.

Dự thảo Quy chế cũng quy định nhiều vấn đề liên quan đến điểm thưởng, vật phẩm ảo trong trò chơi; bổ sung thêm một số hành vi bị nghiêm cấm; nhiều chính sách khuyết khích sản xuất các trò chơi trực tuyến mang tính giáo dục, trò chơi có nội dung về lịch sử, văn hóa Việt Nam được bổ sung. Đặc biệt, các quy định về điều kiện cung cấp cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến, trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi được quy định chặt chẽ hơn; trách nhiệm, vai trò của Hội đồng tư vấn thẩm định, các bộ, ngành, đơn vị liên quan trong việc quản lý trò chơi trực tuyến được nâng cao. Bộ Thông tin và Truyền thông đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quy chế nêu trên vào cuối tháng 6 năm 2010. Tuy nhiên, để có thể hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của trò chơi trực tuyến cần phải nhấn mạnh vai trò quan trọng của gia đình, nhà trường và tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương và cộng đồng xã hội trong việc phối hợp giáo dục và quản lý, đặc biệt là vai trò của chính quyền cơ sở trong việc quản lý chặt chẽ hoạt động của các đại lý Internet.

Về việc chỉ đạo các đài Phát thanh, Truyền hình hạn chế việc quảng cáo rộng rãi các trò chơi có nội dung không lành mạnh trên các phương tiện thông tin đại chúng và có các biện pháp hiệu quả để ngăn chặn tình trạng này. Khoản 3, Điều 3 của Thông tư liên tịch 60/2006/TTLT-BVHTT-BCVT-CA quy định không quảng cáo các trò chơi game online cấm lưu hành tại Việt Nam.

Trong thời gian tới, Bộ Thông tin và Truyền thông triển khai kế hoạch quản lý trò chơi trực tuyến. Tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

- 03 giải pháp trước mắt: Tạm ngừng cấp phép các trò chơi trực tuyến đến hết năm 2010; Khóa đường truyền đến các đại lý Internet từ 23 giờ đêm đến 06 giờ sáng hôm sau; Cấm quảng cáo trò chơi trực tuyến liên quan đến bạo lực, kích dâm, cờ bạc, xuyên tạc lịch sử.

- 03 giải pháp cần thiết: Thay thế Thông tư liên tịch số 60/2006/TTLT-BVHTT-BBCVT-BCA ngày 01/6/2006 về Quản lý trò chơi trực tuyến bằng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý trò chơi trực tuyến; Chỉ đạo sản xuất các trò chơi trực tuyến thuần Việt lành mạnh (chống bạo lực, kích dâm, nội dung cờ bạc, xuyên tạc lịch sử); Tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn xã hội để hành động đúng.

- 03 giải pháp cơ bản: Nghiên cứu xây dựng Luật An toàn thông tin trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý của các nước trên thế giới; Khẩn trương hoàn thành thủ tục thành lập Cục An toàn thông tin; Tích cực hợp tác với các tổ chức an ninh, an toàn thông tin thế giới để học hỏi kinh nghiệm về các giải pháp quản lý của các nước.

- 03 trọng điểm thanh tra: Thanh tra các giấy phép đã cấp. Nếu doanh nghiệp chấp hành tốt thì cho duy trì, nếu vi phạm thì cảnh cáo hoặc rút giấy phép; Thanh tra các cơ sở sản xuất trò chơi trực tuyến, nếu sản xuất những sản phẩm có tính bạo lực, kích dâm, cờ bạc sẽ bị thu hồi thậm chí rút giấy phép hoạt động; Thanh tra các đại lý Internet.



2. Cử tri Gia Lai kiến nghị: Đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với các bộ, ngành có liên quan để thống nhất trong phạm vi toàn quốc việc ngầm hóa hạ tầng nói chung; thống nhất nội dung, hướng dẫn cụ thể về thủ tục thuê đất, cấp phép xây dựng cho các trạm BTS.

Trả lời:

Nhận thức và đánh giá đúng tầm quan trọng trong việc ngầm hóa cơ sở hạ tầng, Bộ Thông tin và Truyền thông đã chủ trì và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 422/CT-TTg ngày 02/4/2010 về việc tăng cường quản lý và phát triển bền vững cơ sở hạ tầng viễn thông. Trong Chỉ thị, Thủ tướng Chính phủ đã giao:

- Bộ Thông tin và Truyền thông: Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công thương ban hành hướng dẫn việc quy hoạch, thiết kế, thi công hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động kết hợp với các công trình hạ tầng kỹ thuật xây dựng, giao thông, điện lực, cấp nước, thoát nước. Hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng quy hoạch hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động tại địa phương. Trên cơ sở đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã đưa nhiều nội dung trên vào Luật Viễn thông (đã được Quốc hội thông qua), Nghị định hướng dẫn Luật Viễn thông, các văn bản pháp quy liên quan và hướng dẫn, triển khai thực hiện.

- Bộ Xây dựng: Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng và trình Chính phủ ban hành quy định sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật liên ngành (xây dựng, giao thông, điện lực, cấp nước, thoát nước, viễn thông, phát thanh, truyền hình ...). Bộ Xây dựng đã chủ trì và phối hợp với Bộ Công thương, Bộ Thông tin và Truyền thông và các Bộ, ngành liên quan xây dựng quy định sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật liên ngành áp dụng trên phạm vi toàn quốc, trong đó có việc ngầm hóa các cơ sở hạ tầng kỹ thuật liên ngành như cấp thoát nước, điện lực, phát thanh, truyền hình, viễn thông, …

- UBND các tỉnh: Chỉ đạo việc phối hợp liên ngành trên địa bàn về sử dụng chung các công trình hạ tầng kỹ thuật giữa viễn thông với điện lực; viễn thông với cấp nước, thoát nước; viễn thông với giao thông công chính, theo quy định chung của Chính phủ và hướng dẫn của các Bộ, ngành có liên quan.

Về việc thống nhất nội dung, hướng dẫn cụ thể về thủ tục thuê đất, cấp phép xây dựng cho các trạm BTS, Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Bộ Xây dựng ban hành Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT/BXD-BTTTT ngày 11/12/2007 hướng dẫn về cấp phép xây dựng đối với các công trình trạm thu phát sóng thông tin di động. Trong Thông tư đã xác định vùng cần xin cấp phép xây dựng trạm BTS, vùng không cần xin cấp phép xây dựng và đơn giản hóa thủ tục xin cấp phép. Đối với các trạm BTS loại 1 là công trình xây dựng bao gồm nhà trạm và cột ăng ten thu, phát sóng thông tin di động được xây dựng trên mặt đất thì bắt buộc phải xin cấp phép xây dựng. Hồ sơ xin cấp phép xây dựng được nêu cụ thể tại Thông tư 12/2007/TTLT/BXD-BTTTT bao gồm:

a) Đơn xin giấy phép xây dựng theo mẫu tại Phụ lục số 1 của Thông tư 12/2007/TTLT/BXD-BTTTT;

b) Bản sao hợp lệ giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật (thuộc quyền sử dụng của chủ đầu tư hoặc thuê);

c) Hồ sơ thiết kế đã được thẩm định theo quy định bao gồm bản vẽ mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng điển hình; mặt bằng móng của công trình; sơ đồ đấu nối kỹ thuật cấp điện, cấp nước, thoát nước.

Thẩm quyền cấp phép xây dựng được thực hiện theo các quy định của pháp luật về xây dựng (Luật Xây dựng và các văn bản pháp quy khác về xây dựng), Trong đó, chính quyền cấp huyện có thẩm quyền cấp phép xây dựng đối với các công trình BTS loại 1. Để tạo giúp cho các doanh nghiệp triển khai cấp phép đối với các công trình BTS loại 1, Bộ Thông tin và Truyền thông đã chỉ đạo các Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan tạo điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng đối với các trạm BTS tại địa phương.



3. Cử tri Gia Lai kiến nghị: Đề nghị Bộ tăng cường đầu tư, mở rộng hệ thống truyền thông FM ở các xã, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bằng dân tộc thiểu số để kịp thời chuyển tải những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân.

Trả lời:

Hiện nay, cả nước đã có hơn 600 đài phát thanh, truyền thanh, truyền hình cấp huyện và khoảng hơn 8.000 đài truyền thanh hoặc cụm truyền thanh cấp xã. Trong đó, nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có hệ thống đài cấp xã phủ kín toàn bộ số lượng các xã, thị trấn. Về cơ cấu, mỗi xã có thể có một hoặc hơn một đài truyền thanh.

Các đài truyền thanh cấp xã chủ yếu tiếp phát chương trình của đài tỉnh, huyện và đồng thời là công cụ điều hành của cấp ủy và chính quyền địa phương (thông báo lịch cắt điện, nước, tiêm phòng, lịch gieo trồng, thu hoạch thông báo các khoản đóng góp, các nghĩa vụ thuế...). Mỗi xã, phường (trừ những thành phố lớn), thị trấn có trạm truyền thanh để tiếp âm đài quốc gia, đài tỉnh, huyện đồng thời là công cụ điều hành, chỉ đạo của chính quyền cơ sở.

Đây là phương tiện truyền thông có hiệu quả trong công tác chỉ đạo, điều hành, đặc biệt đối với những thông tin yêu cầu cung cấp nhanh. Hiện nay, mô hình các đài truyền thanh tại các xã, phường, thị trấn vẫn được duy trì và hệ thống này đang tiếp tục phát huy tốt chức năng thông tin, tuyên truyền của mình ở các xã vùng đồng bằng trung du. Tuy nhiên, đối với khu vực đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn do những thay đổi về nhu cầu của cộng đồng dân cư và do sự tăng trưởng nhanh chóng về số lượng, chất lượng các phương tiện nghe, nhìn cá nhân và hộ ở gia đình nên việc duy trì mô hình đài truyền thanh cấp phường, thị trấn đang gặp một số bất cập. Ở các xã vùng sâu, vùng xa do khoảng cách về địa lý giữa trung tâm hành chính với các hộ gia đình khá xa, thiếu điện và do chưa có sự đầu tư thỏa đáng nên việc duy trì và phát triển hệ thống phát sóng FM của đài xã đang gặp một số khó khăn nhất định.

Chính vì vậy, Bộ Thông tin và Truyền thông đang nhanh chóng triển khai Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020 để bảo đảm mục tiêu phủ sóng phát thanh AM - FM tới 100% dân cư, hầu hết các hộ dân có thể thu, nghe được các kênh chương trình phát thanh quảng bá và số các hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo có nhu cầu được cung cấp thiết bị thu các kênh chương trình phát thanh, truyền hình kỹ thuật số với giá cả phù hợp. Bên cạnh đó, Bộ cũng đang tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các chính sách phát triển hệ thống truyền thanh cơ sở cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

4. Cử tri Cần Thơ kiến nghị: Các thông tin về hoạt động tôn giáo vừa qua (trên báo, đài...) nhiều khi "trái chiều" nhau, không biết tin thế nào. Đề nghị nên hạn chế hoặc thận trọng hơn với các thông tin này.

Trả lời:

Bộ Thông tin và Truyền thông với trách nhiệm thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với các loại hình báo chí, thường xuyên theo dõi sát sao các hoạt động lĩnh vực báo chí. Đối với những vấn đề nhạy cảm (trong đó có công tác quản lý thông tin về tôn giáo), Bộ vẫn theo dõi, quản lý chặt chẽ vấn đề này trên báo chí để đảm bảo nắm bắt và có biện pháp điều chỉnh kịp thời. Bên cạnh đó, hàng tuần, trong giao ban báo chí, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội Nhà báo Việt Nam và các cơ quan chức năng định hướng thông tin cho lãnh đạo các cơ quan báo chí về những vấn đề quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội, trong đó bao gồm cả công tác thông tin về tôn giáo.



5. Cử tri Bình Định kiến nghị: Đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng cần tuyên truyền thích hợp, hạn chế tình trạng gây biến động ảo về giá thị trường sau khi tăng lương.

Trả lời:

Tại Khoản 1, Điều 6, Luật Báo chí quy định báo chí có nhiệm vụ và quyền hạn "Thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và nhân dân". Vì vậy, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ xử lý nghiêm khắc nếu phát hiện cơ quan thông tin đại chúng cung cấp thông tin gây mất ổn định về kinh tế - xã hội (bao gồm cả vấn đề về giá cả thị trường), làm ảnh hưởng đến lợi ích của đất nước và nhân dân. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ chỉ đạo, định hướng thông tin kịp thời để tránh đưa các nội dung gây bất ổn định về giá cả thị trường tại các giao ban báo chí hàng tuần hoặc đột xuất.



6. Cử tri Bình Phước kiến nghị: Đề nghị Nhà nước sớm ban hành những chế định quản lý các website, blog cá nhân.

Trả lời:

Trong thời gian qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tham mưu và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý các website, blog cá nhân như:

- Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet;

- Thông tư số 07/2008/TT-BTTTT, ngày 18/12/2008, hướng dẫn một số nội dung về hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet;

- Thông tư số 14/2010/TT-BTTTT, ngày 29/6/2010, quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet đối với hoạt động quản lý trang thông tin điện tử và dịch vụ mạng xã hội trực tuyến.

Như vậy, hành lang pháp lý để quản lý các website, blog cá nhân đã được xác lập, tạo điều kiện cho hoạt động này được phát triển một cách lành mạnh theo định hướng quản lý của nhà nước.



7. Cử tri Thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Đề nghị tăng cường công tác tin học hóa trong quản lý nhà nước: Đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; đồng bộ theo ngành và giữa các cấp chính quyền (các phần mềm quản lý, cơ sở dữ liệu, kết nối mạng,…)”.

Trả lời:

Nhận thức được vai trò và xu thế phát triển tất yếu của ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, hướng tới Chính phủ điện tử, Đảng và Nhà nước đã và đang thực hiện mạnh mẽ chủ trương đẩy mạnh ứng dụng CNTT nhằm phục vụ công cuộc cải cách hành chính, từng bước hiện đại hóa cơ quan Chính phủ, xây dựng một Chính phủ hiệu lực, hiệu quả, thực sự của dân, do dân và vì dân. Trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, xác định rõ nội dung: “Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính nhà nước; áp dụng các công cụ, phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại trong các cơ quan hành chính nhà nước”.

Thời gian gần đây, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành những chính sách, kế hoạch ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước hết sức cụ thể, thiết thực, như: Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước; Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008; Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg ngày 03/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường sử dụng hệ thống thư điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước; Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010. Để bảo đảm việc triển khai ứng dụng CNTT được đồng bộ trên quy mô quốc gia, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có nhiều văn bản đôn đốc, hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương triển khai ứng dụng CNTT, cụ thể như: Văn bản hướng dẫn xây dựng Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010 của các bộ, ngành, địa phương; văn bản hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương xây dựng Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015. Nhìn chung, nhiều bộ, ngành, địa phương đã triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của mình theo đúng định hướng chung, thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở.

Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn nhiều hạn chế về việc nhận thức, kinh phí, nguồn nhân lực nên sự phát triển ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước chưa đồng đều, đồng bộ, các ứng dụng CNTT còn có quy mô nhỏ, chưa kết nối rộng. Để khắc phục những hạn chế trong việc triển khai ứng dụng CNTT, Bộ Thông tin và Truyền thông đã trình và được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015. Trong đó, để bảo đảm việc triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước được đồng bộ, thống nhất trên quy mô quốc gia, Chương trình đã định hướng rõ các mục tiêu, nội dung, giải pháp ứng dụng CNTT chung. Đặc biệt, nhiều dự án, nhiệm vụ ứng dụng CNTT quy mô quốc gia nhằm xây dựng hạ tầng kỹ thuật, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu lớn kết nối trên diện rộng các hoạt động của cơ quan nhà nước các cấp đã được xác định cụ thể như: Dự án xây dựng mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước sẽ bảo đảm kết nối mạng giữa các cơ quan nhà nước (đến cấp xã, phường) tốc độ cao, an toàn, bảo mật; dự án hệ thống thông tin quản lý văn bản tích hợp trên toàn quốc bảo đảm việc kết nối, trao đổi văn bản giữa cơ quan nhà nước các cấp; các dự án chuyên ngành quy mô quốc gia bảo đảm kết nối theo ngành dọc ( ngành tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, y tế, kinh tế, văn hóa,…).



8. Cử tri tỉnh Thái Bình kiến nghị: Một số cử tri là nhân viên bưu chính cấp xã đề nghị được hưởng chế độ như công chức cấp xã, được tham gia đóng bảo hiểm bắt buộc, được hưởng quyền lợi BHYT và chế độ nghỉ khi đến tuổi theo quy định.

Trả lời:

Hiện nay, tại các bưu cục cấp xã có nhân viên bưu tá xã và nhân viên điểm BĐ-VHX. Nhân viên bưu tá xã được trả thuê khoán theo khối lượng công việc thực hiện (cụ thể là theo sản lượng phát và tuyến đường đi phát). Nhân viên điểm BĐ-VHX được trả công cho công việc trực, duy trì hoạt động của điểm BĐ-VHX (bằng mức lương tối thiểu) và được hưởng thêm % hoa hồng theo sản lượng dịch vụ phát sinh.



Việc thực hiện dịch vụ bưu chính ở Việt Nam cũng như ở hầu hết các nước trên thế giới đều do doanh nghiệp đảm nhận và nhân viên làm trong doanh nghiệp đều không phải là công chức nhà nước. Do vậy, nhân viên bưu chính xã không được hưởng chế độ công chức. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho nhân viên bưu chính cấp xã nói chung, Bộ sẽ yêu cầu doanh nghiệp có báo cáo cụ thể vấn đề này và xem xét, điều chỉnh mức chi trả cho phù hợp quy định hiện hành và sẽ dựa trên cơ sở bảo vệ tốt nhất về quyền lợi cho nhân viên bưu chính ở cấp xã.
BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
1. Cử tri tỉnh Sơn La kiến nghị:

Đề nghị Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương ban hành chính sách đặc thù đối với các tỉnh miền núi, vùng có nhiều khó khăn để khuyến khích các hoạt động ứng dụng chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn.

Trả lời (Tại Công văn số 2486/BKHCN-VP ngày 8/10/2010)
1   ...   42   43   44   45   46   47   48   49   50


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương