KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)



tải về 3.73 Mb.
trang44/50
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích3.73 Mb.
1   ...   40   41   42   43   44   45   46   47   ...   50

Trả lời:

Thời gian qua, thực hiện Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007 (trong đó có Đề án: “Nâng cao hiểu biết pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng biên giới”) và các Đề án trong Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ từ năm 2008 đến năm 2012, Chương trình hành đồng quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010 và văn bản liên tịch giữa Bộ Tư pháp với các bộ, ngành, đoàn thể, Bộ Tư pháp đã biên soạn nhiều loại tài liệu phổ biến pháp luật dưới các hình thức như: Đề cương tuyên truyền pháp luật, sách hỏi đáp, tờ gấp pháp luật, băng, đĩa hình pháp luật… và phát hành miễn phí cho địa phương, cơ sở làm tài liệu tuyên truyền, nhân bản phục vụ nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ, nhân dân. Các tài liệu này được nhiều địa phương, cơ sở đánh giá tốt, góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân.

Bên cạnh đó, hiện nay, theo đề xuất của Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, Đảng và Nhà nước ta đang có một số chính sách tạo điều kiện cho địa phương, cơ sở, tổ chức xuất bản, xây dựng tủ sách, tài liệu tuyên truyền và văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là:

- Đối với các loại sách mang tính tuyên truyền đường lối của Đảng: Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật đã xây dựng Đề án trang bị sách cho cơ sở xã, phường, thị trấn và sách dành cho cán bộ lãnh đạo trình Ban Bí thư Trung ương Đảng. Hiện nay, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đồng ý thực hiện thí điểm trang bị sách về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các xã, phường, thị trấn và tiến hành cấp phát sách đến các địa phương thực hiện thí điểm.

- Đối với các loại sách mang nội dung phổ biến văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước: Theo quy định tại Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật, mức chi hàng năm để duy trì và bổ sung sách, báo mới cho mỗi Tủ sách pháp luật cấp xã tối thiểu là 02 triệu đồng/năm. Đối với các đơn vị cấp xã thuộc các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo có thể quy định mức cao hơn nhằm đảm bảo có đủ số sách, tài liệu luân chuyển giữa các bản, làng. Các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách và các đơn vị cấp xã thuộc huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 thì kinh phí để xây dựng, quản lý Tủ sách pháp luật do ngân sách Trung ương cấp.

Như vậy, chính sách trợ giá đối với các loại sách mang tính tuyên truyền của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được Chính phủ chỉ đạo và các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện.



23. Cử tri tỉnh Quảng Trị kiến nghị: Hiện nay tại một số xã biên giới của tỉnh Quảng Trị giáp với nước bạn Lào có một số hộ dân Lào xâm canh, xâm cư sang đất Việt Nam. Số dân này trước đây là người Việt Nam, ở trên đất Việt Nam nhưng sau khi hoạch định lại biên giới Việt - Lào năm 1977, số dân này thuộc về đất Lào, trong đó có một số hộ thuộc đối tượng người có công với cách mạng Việt Nam. Nguyện vọng của các hộ dân này là muốn được trở về Việt Nam sinh sống, trở lại Quốc tịch Việt Nam. Đề nghị Chính phủ nghiên cứu, xem xét.

Trả lời:

Hiện nay, do thực hiện Hiệp định về Quy chế biên giới Việt Nam - Lào năm 1977 dẫn đến việc dịch chuyển dân cư giữa một số địa phương hai nước, phần lớn người dân trước đây mà Việt Nam bàn giao cho Lào nay muốn quay trở lại Việt Nam cư trú ổn định lâu dài, sum họp với dòng tộc và hưởng các chế độ ưu đãi của Việt Nam, trong đó điển hình là dân di cư ở khu vực biên giới Lào - Quảng Trị. Dân di cư từ Lào sang Việt Nam hầu hết đều là những người lao động nghèo, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nói thông thạo tiếng Việt, tiếng địa phương. Về cơ bản họ đều chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam, cần cù lao động sản xuất. Số lượng người di cư tự do trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào của tỉnh Quảng Trị là 406 hộ/2012 khẩu. Trong số dân di cư tự do này có khoảng 4% đến 5% gia đình có công với cách mạng, thuộc diện được hưởng chế độ chính sách của Nhà nước Việt Nam. Số dân di cư từ Lào sang Việt Nam đều có nguyện vọng được cư trú ổn định và làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam.

Để giải quyết vấn đề dân di cư tự do dọc biên giới Việt Nam - Lào nói chung, biên giới Lào - Quảng trị nói riêng, ngày 20/10/2008, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg về việc giải quyết tình trạng di cư tự do, vượt biên trái phép và nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào. Ngày 04/3/2009, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 500/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị này.

Ngày 07/5/2009, Bộ Tư pháp có Công văn số 1430/BTP-HCTP hướng dẫn Uỷ ban nhân dân các tỉnh có chung đường biên giới với Lào thực hiện một số nội dung về việc nhập quốc tịch Việt Nam đối với số người Lào di cư tự do và rà soát, hệ thống hoá các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương liên quan đến giải quyết tình trạng di cư tự do, vượt biên trái phép và nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào (Kèm theo các mẫu giấy tờ làm hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam và mẫu Báo cáo rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật).

Ngày 07/5/2009, Bộ Tư pháp có Công văn số 1431/BTP-HCTP về việc cử cán bộ tham gia Nhóm rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật thực hiện Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg về việc giải quyết tình trạng di cư tự do, vượt biên trái phép và nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào.

Ngày 26/3/2010, Bộ Tư pháp có Công văn số 792/BTP-HCTP về việc báo cáo kết quả triển khai thực hiện Kế hoạch triển khai Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg về việc giải quyết tình trạng di cư tự do, vượt biên trái phép và nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào.

Ngày 29/4/2010, Bộ Tư pháp có Công văn số 1206/BTP-HCTP về việc cử cán bộ tham gia Nhóm công tác liên hợp giải quyết các vấn đề di cư tự do, vượt biên trái phép và nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào (gồm lãnh đạo, chuyên viên Vụ Hành chính tư pháp, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Pháp luật quốc tế - Bộ Tư pháp, Cục Lãnh sự, Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài -Bộ Ngoại giao, Vụ Pháp chế - Bộ Công an, Vụ Pháp chế - Ủy ban dân tộc).

Hiện nay, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Trị cũng như các tỉnh có chung đường biên giới với Lào đang chỉ đạo Sở Tư pháp tiến hành rà soát, thống kê, lập danh sách số người Lào di cư tự do sang Việt Nam được phép cư trú tại địa phương và có nguyện vọng xin nhập quốc tịch Việt Nam; hoàn thiện hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của số người Lào nói trên.



22. Cử tri tỉnh Hà Tĩnh kiến nghị: Hiện nay, việc áp dụng chương XVII các tội phạm về môi trường của Bộ luật Hình sự còn gặp khó khăn. Đề nghị các bộ, ngành Trung ương nghiên cứu, kịp thời ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thi hành áp dụng các tội phạm về môi trường.

Cử tri tỉnh Hoà Bình kiến nghị: Hiện nay, vấn đề xử lý tội phạm về môi trường trong nhiều văn bản quy định không cụ thể, chỉ quy định xử phạt đối với cá nhân nhưng chưa quy định xử phạt đối với tổ chức. Đề nghị Chính phủ xem xét vấn đề này và ban hành văn bản thực hiện nhằm quản lý tốt công tác này.

Trả lời:

Thứ nhất, hiện nay theo quy định của pháp luật Việt Nam thì có hai hình thức chính để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, đó là xử phạt hành chính và xử lý hình sự.

Vấn đề xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường được quy định tại Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2010). Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 117/2009/NĐ-CP thì đối tượng bị xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là các cá nhân, tổ chức trong nước và cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên lãnh thổ Việt Nam. Các cá nhân, tổ chức này sẽ bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính như cảnh cáo, phạt tiền hoặc hình thức xử phạt bổ sung như tước giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề có nội dung liên quan về bảo vệ môi trường.

Vấn đề xử lý hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường được quy định thành một chương riêng (chương XVII) của Bộ luật Hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Hiện nay, do Bộ luật Hình sự chưa quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, vì thế chỉ những cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về môi trường theo quy định tại chương XVII Bộ luật Hình sự thì mới bị xử lý hình sự về những hành vi vi phạm đó. Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự đã giao cho Chính phủ phối hợp với các cơ quan hữu quan tiếp tục nghiên cứu các điều khoản của Bộ luật Hình sự có vướng mắc, bất cập trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm mà chưa có điều kiện sửa đổi, bổ sung để chuẩn bị phương án cho việc sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện Bộ luật Hình sự. Bộ Tư pháp xin ghi nhận kiến nghị của cử tri để tiếp tục nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự sau này.

Như vậy, trường hợp các tổ chức vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường thì sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 117/2009/NĐ-CP nêu trên.



Thứ hai, theo kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự của liên ngành Tư pháp - Toà án - Kiểm sát - Công an thì Bộ Tư pháp được giao là cơ quan chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tài nguyên môi trường xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành Chương XVII - Các tội phạm về môi trường của Bộ luật Hình sự. Đây là một chương được sửa đổi, bổ sung khá nhiều trong lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2009 (với việc sửa đổi 04 điều luật và bổ sung thêm 03 điều luật mới). Hiện nay, Bộ Tư pháp và liên ngành đang gấp rút xây dựng dự thảo TTLT. Dự kiến, dự thảo TTLT hướng dẫn thi hành Chương XVII - Các tội phạm về môi trường sẽ được trình lãnh đạo các ngành ký ban hành vào Quý IV năm 2010.

ỦY BAN DÂN TỘC
1. Cử tri các tỉnh Bình Định, Bắc Giang, Ninh Thuận, Hòa Bình, Bắc Kạn, Quảng Nam kiến nghị: Chương trình 135 của Chính phủ hỗ trợ, đầu tư xây dựng cho các huyện miền núi trong những năm qua đã đạt được những kết qủa quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay nhiều địa phương vẫn còn gặp nhiều khó khăn về phát triển kinh tế-xã hội (nhất là các tỉnh Miền Trung vừa bị bão, lũ trong năm qua). Cử tri mong muốn Chính phủ xem xét tiếp tục cho thực hiện giai đoạn III chương trình 135 để tạo điều kiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế-xã hội ở các vùng đặc biệt khó khăn.

Cử tri tỉnh Kon Tum kiến nghị: Sau hơn 4 năm triển khai thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II theo quyết định số 07/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010” trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã giúp cho kết cấu hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn và các thôn, làng đặc biệt khó khăn thuộc các xã khu vực II (nhất là hệ thống giao thông nông thôn, thuỷ lợi nhỏ, đường điện, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt,...) được xây dựng. Từ nguồn vốn của chương trình đã giúp các xã tập huấn cán bộ cấp xã, nâng cao trình độ quản lý; tập huấn kỹ thuật chăn nuôi trồng trọt, dự trữ thức ăn gia súc cho người dân; học sinh là con em các hộ nghèo từ bậc học mầm non đến phổ thông cơ sở đã và đang được hỗ trợ tiền ăn, dụng cụ học tập và sinh hoạt… Tuy nhiên, do điều kiện về địa lý, trình độ dân trí còn hạn chế nên đời sống của người nhân dân các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Người dân mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước, đặc biệt là trong các lĩnh vực nông lâm nghiệp, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, giáo dục và y tế. Vì vậy đề nghị Quốc hội, Chính phủ cho kéo dài thời gian thực hiện chương trình 135 giai đoạn II hoặc nghiên cứu để thay thế bằng một chương trình khác mà mục đích, ý nghĩa và hiệu quả bằng hoặc hơn chương trình này để tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các xã, thôn, làng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Kon Tum nói riêng và cả nước nói chung.

Cử tri tỉnh Lai Châu kiến nghị: Cử tri phản ánh, trong những năm qua Chương trình 135 của Chính phủ đã phát huy hiệu quả tích cực trong công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, chương trình 135 giai đoạn II sẽ kết thúc vào năm 2010. Cử tri đề nghị đối với những huyện, thị không được hưởng chính sách theo Nghị quyết 30a/NQ-CP nhưng vẫn còn những thôn, bản thuộc diện đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, Chính phủ cần tiếp tục có chính sách mới hỗ trợ nhân dân để thoát nghèo bền vững.

Cử tri tỉnh Thái Nguyên kiến nghị: Chương trình 135 giai đoạn II của Chính phủ đã được các địa phương thực hiện đạt hiệu quả, giải quyết được những nhu cầu thiết yếu của người dân góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc. Tuy nhiên, để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của chương trình đã đề ra, đề nghị Chính phủ tiếp tục cho thực hiện chương trình 135 kéo dài đến 2015.

Trả lời: (Tại Công văn số 726/UBDT-CSDT ngày 21/9/2010)

Sau hơn 10 năm thực hiện, Chương trình 135 (giai đoạn I và II) đã cơ bản đạt được các mục tiêu đề ra, giúp giảm tỷ lệ nghèo trên địa bàn các xã, thôn, bản ĐBKK xuống còn 31,2% (năm 2009), đời sống của đồng bào các dân tộc được nâng lên. Những kết quả đạt được của Chương trình 135 là thành tựu đáng kể, tuy nhiên do nguồn lực đầu tư còn hạn chế, mức đầu tư thấp nên tình hình kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi còn nhiều khó khăn, thu nhập của người dân ở vùng dân tộc và miền núi với các vùng khác vẫn có xu hướng cách biệt.

Trên cơ sở đó Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo Uỷ ban Dân tộc chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương xây dựng Chương trình phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020. (Dự kiến sẽ trình Thủ tướng Chính phủ tháng 10 năm 2010).

2. Cử tri tỉnh Gia Lai kiến nghị: Chính phủ đã đầu tư cho 11 trung tâm cụm xã của tỉnh nhưng chưa hoàn thành và 1 trung tâm cụm xã mới, với tổng kinh phí là 70,870 tỷ đồng trong 2 năm 2009 -2010. Năm 2009, Chính phủ đã bố trí 3 tỷ đồng và cho ứng trước vốn năm 2010 là 20 tỷ đồng. Hiện nay, còn nhiều hạng mục của 11 trung tâm cụm xã chưa hoàn thành. Đề nghị Ủy ban Dân tộc trình Chính phủ tiếp tục bố trí vốn đầu tư cho các Trung tâm cụm xã trên địa bàn tỉnh là 47,87 tỷ đồng.

Trả lời: (Tại Công văn số /UBDT-CSDT ngày 21/9/2010)

Ngày 30/8 Uỷ ban Dân tộc đã có văn bản số 629/UBDT-CSDT gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ bố trí vốn thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc năm 2011, trong đó có đề nghị vốn Chương trình Trung tâm cụm xã cho tỉnh Gia Lai 47,366 tỷ đồng.



3. Cử tri tỉnh Quảng Nam kiến nghị: Nhân dân các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa phản ánh chủ trương xóa nhà tạm theo chương trình 134 còn nhiều bất cập, hiệu quả chưa cao, nhanh hư hỏng, xuống cấp; chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở vay 8 triệu đồng/hộ theo Quyết định 167 của Chính phủ nhiều nơi người dân không dám vay vì không có khả năng để trả vốn vay, đề nghị trung ương tăng mức hỗ trợ để nhân dân có điều kiện xây dựng nhà ở.

Trả lời: (Tại Công văn số 724/UBDT-CSDT ngày 21/9/2010)

Ngày 12/12/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ký và ban hành Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở với mức hỗ trợ là 6 triệu đồng/ hộ nghèo, 7 triệu đồng/hộ nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng ĐBKK; địa phương hỗ trợ 20% tương ứng 1,2 - 1,4 triệu đồng/hộ. Ngoài nguồn vốn Trung ương hỗ trợ cần phải huy động sự giúp đỡ của cộng đồng, của anh em dòng tộc, các tổ chức đoàn thể xã hội, hộ gia đình tham gia đóng góp để xây dựng nhà ở cho hộ nghèo và được vay vốn từ NHCSXH.



4. Cử tri tỉnh Lạng Sơn kiến nghị: Đề nghị Nhà nước xem xét, công nhận các thôn: Bản Nừng, xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan, Pác Mặn, Khau Phạ thuộc xã Hoàng Văn Thụ, huyện Văn Lãng được hưởng chính sách của thôn vùng III, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Trả lời: (Tại Công văn số 723/UBDT-CSDT ngày 21/9/2010)

Việc xét thôn, bản đặc biệt khó khăn, phân định xã theo 3 khu vực để làm cơ sở thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với trình độ phát triển của từng khu vực. Tiêu chí để xét thôn, bản đặc biệt khó khăn, xã theo 3 khu vực được quy định tại Quyết định số 393/2005/QĐ-UBDT ngày 29/8/2005 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc

Trên cơ sở các tiêu chí và các văn hướng dẫn của Trung ương, Tỉnh Lạng Sơn đã thành lập hội đồng cấp tỉnh, huyện, tổ chức bình xét thôn, bản đặc biệt khó khăn, xã theo 3 khu vực đảm bảo công khai, dân chủ, chặt chẽ và tập trung (theo báo cáo số 29/BC-UBND ngày 24/3/2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn).

Ngày 29/3/2006, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn có Tờ trình số 07/TT-UBND về việc đề nghị xét công nhận các thôn, bản đặc biệt khó khăn; xã thuộc 3 khu vực của tỉnh Lạng Sơn (trong đó không có thôn Bản Nừng, xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan). Căn cứ Tờ trình của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Uỷ ban Dân tộc đã xem xét, công nhận 227 xã, phường, thị trấn thuộc 3 khu vực và 249 thôn, bản đặc biệt khó khăn theo các Quyết định số 301/2006/QĐ-UBDT ngày 27/11/2006 và Quyết định số 05/2007/QĐ-UBDT ngày 6/9/2007 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc.

Như vậy tất cả các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn có đủ tiêu chí theo quy định đã được Uỷ ban Dân tộc công nhận là thôn đặc biệt khó khăn và xã thuộc khu vực I, II, III.

Riêng thôn Bản Nừng, xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan, Uỷ ban Dân tộc đã đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn chỉ đạo các Sở, ban ngành của tỉnh, Uỷ ban nhân dân huyện Văn Quan căn cứ các tiêu chí quy định tại Quyết định số 393/2005/QĐ-UBDT ngày 29/8/2005 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc để xét thôn đặc biệt khó khăn. Nếu đủ các tiêu chí để công nhận thôn đặc biệt khó khăn theo quy định, đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn hoàn thiện hồ sơ gửi Uỷ ban Dân tộc xem xét, quyết định.



5. Cử tri tỉnh Phú Thọ kiến nghị: Đề nghị Ủy ban Dân tộc xem xét sớm có điều chỉnh về khung lộ trình đào tạo đối với dự án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn để việc triển khai thực hiện tại cơ sở tốt hơn.

Trả lời: (Tại Công văn số 722/UBDT-CSDT ngày 21/9/2010)

Dự án đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ xã, thôn bản và cộng đồng các xã ĐBKK là một Hợp phần của Chương trình 135 giai đoạn II. Để triển khai thực hiện, Uỷ ban Dân tộc đã ban hành Chương trình khung đào tạo, bồi dưỡng gồm 11 chuyên đề trong đó chia ra một số chuyên đề do Uỷ ban Dân tộc biên soạn và một số Chuyên đề do tỉnh biên soạn theo đặc thù của địa phương trên cơ sở đó các tỉnh, huyện, xã tổ chức đào tạo, tập huấn.

Do đến giữa năm 2007, Chương trình khung và các chuyên đề do Trung ương biên soạn mới được ban hành đồng thời một số chuyên đề do Trung ương biên soạn chưa phù hợp với tình hình cụ thể của các địa phương nên dẫn đến tiến độ thực hiện Dự án bị chậm; trên cơ sở đề nghị của các tỉnh, ngày 17 tháng 7 năm 2009, Uỷ ban Dân tộc đã ban hành Thông tư số 01/TT-UBDT sửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định số 04/2007/QĐ-UBDT ngày 19 tháng 7 năm 2007 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc về việc ban hành Chương trình khung đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ cơ sở và cộng đồng thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II. Sau khi Thông tư được ban hành, những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện Dự án đào tạo, bồi dưỡng đã được xử lý góp phần quan trọng thực hiện hiệu quả Chương trình 135 giai đoạn II.

6. Cử tri tỉnh Phú Thọ kiến nghị: Về thực hiện chương trình 135 tại Phú Thọ: đề nghị Chính phủ hỗ trợ bổ sung cho 07 xã vùng CT 229 được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ như các xã thuộc chương trình 135 và bổ sung vốn hỗ trợ thôn bản đặc biệt khó khăn (năm 2009, năm 2010 chưa được bố trí); mức hỗ trợ hàng năm chỉ bố trí cho 174/190 thôn, còn lại 16 thôn chưa được hỗ trợ).

Trả lời: (Tại Công văn số 721/UBDT-CSDT ngày 21/9/2010)

- Về bổ sung cho 7 xã vùng CT 229 được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ như các xã thuộc Chương trình 135: Tại Quyết định số 1048/QĐ-TTg ngày 07/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ đã bố trí vốn (năm 2009 - 2010) cho 7 xã vùng CT 229 với tổng kinh phí: 16,996 tỷ đồng. Bộ Tài chính đã giao nguồn kinh phí này về cho địa phương.

- Về bổ sung vốn hỗ trợ thôn, bản ĐBKK (năm 2009, năm 2010 chưa được bố trí); mức hỗ trợ hàng năm chỉ bố trí cho 174/190 thôn, còn lại 16 thôn chưa được hỗ trợ.

Tại điều 2 của Quyết định số 01/2008/QĐ-UBDT ngày 11/01/2008 của Uỷ ban Dân tộc quy định: “Kế hoạch đầu tư, mức vốn hỗ trợ bình quân cho một thôn ĐBKK ở xã khu vực II thực hiện theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và đảm bảo nguyên tắc mỗi xã khu vực II được hỗ trợ tối đa không quá tổng mức vốn bình quân của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đối với các xã khu vực II có trên 4 thôn ĐBKK, Uỷ ban Nhân dân tỉnh căn cứ tình hình thực tế, chủ động cân đối số vốn được ngân sách Trung ương bổ sung hàng năm để phân bổ cho từng thôn đảm bảo đến năm 2010 tất cả các thôn ĐBKK của các xã khu vực II đều được đầu tư theo đúng kế hoạch và mục tiêu của Chương trình”. Năm 2009, 2010 ngân sách Trung ương đã bố trí đủ kinh phí cho 174 thôn còn lại 16 thôn chưa được bố trí kinh phí do các thôn này nằm trong xã khu vực II có trên 4 thôn ĐBKK.Vì vậy theo quy định tỉnh phải chủ động cân đối số vốn được ngân sách Trung ương bổ sung kinh phí hàng năm để phân bổ cho từng thôn đúng theo quy định hiện hành.



7. Cử tri tỉnh Lai Châu kiến nghị: Đề nghị sớm bố trí nguồn vốn để thực hiện nội dung Quyết định 134/QĐ-CP của Chính phủ về hỗ trợ đất sản xuất, nước sinh hoạt, nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định số 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 về việc tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn.

Trả lời: (Tại Công văn số 720/UBDT-CSDT ngày 21/9/2010)

Thực hiện Quyết định 1592/2009/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban Dân tộc đã ban hành văn bản số 880/UBDT-CSDT ngày 5/11/2009 hướng dẫn các địa phương thực hiện Quyết định 1592/2009/QĐ-TTg. Theo đó, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lai Châu đã lập và phê duyệt đề án thực hiện Quyết định 1592/2009/QĐ-TTg gửi các Bộ, ngành có liên quan.

Uỷ ban Dân tộc đã tổng hợp đề án thực hiện Quyết định 1592/2009/QĐ-TTg của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lai Châu và có văn bản số 478/UBDT-CSDT ngày 9/7/2010 đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xem xét tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ bố trí vốn cho địa phương thực hiện.

8. Cử tri tỉnh Cần Thơ kiến nghị: Đời sống người dân tộc (khu vực ĐBSCL) đã được cải thiện từng bước, nhưng đa số vẫn khó khăn so với mặt bằng chung tại địa phương, do đó Thủ tướng Chính phủ vừa qua đã có Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2004 “Về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn”. Tuy nhiên định suất hỗ trợ quá thấp, không đáp ứng nhu cầu tối thiểu, rất nhiều trường hợp đã không dám nhận mức hỗ trợ này. Đề nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, điều chỉnh hợp lý hơn.

1   ...   40   41   42   43   44   45   46   47   ...   50


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương