KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)



tải về 3.73 Mb.
trang48/50
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích3.73 Mb.
1   ...   42   43   44   45   46   47   48   49   50

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn để thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư. Quán triệt tinh thần đó, Bộ Khoa học và Công nghệ luôn quan tâm xây dựng chính sách và triển khai các giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy, hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao các kỹ thuật tiến bộ cho khu vực nông thôn - miền núi.

Với sự ủng hộ và tham gia tích cực của các nhà khoa học, các Bộ, ngành, địa phương, Bộ Khoa học và Công nghệ đã triển khai có hiệu quả nhiều dự án hoàn thiện và chuyển giao công nghệ, hỗ trợ khoa học và công nghệ tại miền núi và đồng bào dân tộc, hỗ trợ phát triển nông thôn, đặc biệt là các dự án thuộc Chương trình xây dựng mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi giai đoạn từ năm 1998 đến nay.

Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện, các dự án nói trên đã huy động được hàng nghìn cán bộ khoa học từ hơn 50 viện nghiên cứu, trường đại học tham gia triển khai hàng trăm dự án chuyển giao kỹ thuật tiến bộ thực hiện ở các tỉnh miền núi. Các dự án này tập trung vào các hướng: Nâng cao năng suất, chất lượng, sản lượng cây trồng, vật nuôi; tạo ngành nghề mới, tạo việc làm, tăng chất lượng các sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô vừa và nhỏ ở nông thôn, miền núi; xử lý ô nhiễm môi trường, giải quyết nước sạch sinh hoạt và vệ sinh nông thôn; các giải pháp khoa học và công nghệ để khai thác, sử dụng các dạng năng lượng gió, mặt trời, sinh khối; khai thác hợp lý, có hiệu quả các vùng đất trống, đồi núi trọc, các vùng đất hoang hoá, đất mới, hình thành công nghiệp trang trại bằng các biện pháp khoa học và công nghệ; xây dựng thư viện tích hợp (thư viện điện tử quy mô nhỏ) phục vụ phổ cập thông tin khoa học và công nghệ cho các xã vùng sâu, vùng xa.

Nhìn chung, việc thực hiện các dự án chuyển giao công nghệ đã tạo ra một số chuyển biến quan trọng bước đầu trong phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc. Nhiều mô hình từ kết quả của các dự án đã được duy trì và phát triển rộng rãi trong thực tiễn, trở thành tập quán sản xuất của nhân dân trên địa bàn. Có thể nêu một số dự án có hiệu quả đã và đang được nhân rộng ở các địa phương như: Dự án xây dựng mô hình đưa thủy sản lên miền núi (nuôi cá ruộng, cá lồng, cá ao quảng canh) thực hiện tại Lai Châu; mô hình tăng cường khả năng sản xuất lương thực, thực phẩm tại chỗ trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống tại Mường Thanh (Lai Châu), Tuần Giáo, Bình Lư, Mường Lò (Yên Bái), Tràng Định (Lạng Sơn); mô hình sử dụng đất dốc ở Thuận Châu (Sơn La), Vị Xuyên (Hà Giang); phát triển kinh tế gò đồi ở Nam Đàn (Nghệ An), Cẩm Thuỷ (Thanh Hoá); thâm canh cây bông ở Cư Jut (Đắc Lắc); cung cấp thông tin khoa học và công nghệ tại Điện Biên, Bắc Kạn, Kon Tum, Bình Định, Đồng Nai;...


Trong giai đoạn đến năm 2015, Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ tại các vùng nông thôn, miền núi (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 01/10/2010) sẽ tập trung vào các mục tiêu cơ bản sau: Chuyển giao, ứng dụng công nghệ và tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, bảo quản, chế biến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của một số hàng hóa và nông sản trên thị trường trong nước và ngoài nước, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở nông thôn, góp phần xóa đói nghèo, tạo việc làm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho cộng đồng dân cư ở nông thôn bằng các giải pháp khoa học và công nghệ.

Bên cạnh các chương trình, dự án ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển nông thôn, miền núi, Bộ Khoa học và Công nghệ đã và đang phối hợp với các Bộ, ngành triển khai các giải pháp đồng bộ khác hỗ trợ khu vực này. Cụ thể là:

- Triển khai Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp phát triển tài sản trí tuệ từ năm 2005 đến nay; trong đó, các doanh nghiệp tại khu vực miền núi cũng là đối tượng được thụ hưởng lợi ích: hỗ trợ xây dựng và phát triển chỉ dẫn địa lý; xác định tính đặc thù của sản phẩm mang địa danh; lựa chọn hình thức bảo hộ và tiến hành các thủ tục xác lập quyền; tổ chức quản lý sử dụng chỉ dẫn địa lý và phát triển giá trị (chè Shan tuyết Mộc Châu; cà phê Buôn Ma Thuột; gạo Điện Biên; sâm Ngọc Linh;...). Chương trình này hiện đang được Bộ Khoa học và Công nghệ trình Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện tiếp trong giai đoạn đến năm 2015.

- Xem xét, hỗ trợ nhiều nhiệm vụ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp đóng trên địa bàn nông thôn, miền núi nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sản phẩm mới, ổn định việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.

- Tăng cường tiềm lực cơ sở vật chất kỹ thuật cho các Trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ của địa phương và các Chi cục tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá các thành tựu khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực quản lý và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật cho nông dân, tăng cường kiểm tra chất lượng hàng nông sản.


- Khuyến khích, hỗ trợ cán bộ khoa học và công nghệ ở các viện nghiên cứu, trường đại học về công tác và làm việc tại địa bàn nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

2. Cử tri tỉnh Sơn La kiến nghị: Đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu sửa đổi Thông tư liên tịch số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN ngày 20/8/2004, trong đó đối với miền núi, vùng khó khăn nên có cơ chế hỗ trợ không thu hồi (theo Thông tư liên tịch số 39/2005/TTLT/BTC-BKHCN ngày 23/5/2005: không thu hồi kinh phí). Đối với các tỉnh miền núi như Sơn La vẫn thực hiện theo Thông tư liên tịch số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN, ngày 20/8/2004 (đầu tư hỗ trợ 30% tổng dự án, trong đó phải thu hồi 60% phần kinh phí hỗ trợ).

Trả lời (Tại Công văn số 2486/BKHCN-VP ngày 8/10/2010)

Đối với các dự án thuộc Chương trình xây dựng các mô hình ứng dụng và chuyển giao công nghệ về nông thôn và miền núi1, Bộ Tài chính và Bộ Khoa học - Công nghệ đã thống nhất không thu hồi kinh phí nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đối tượng hưởng lợi dễ dàng tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới, thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân ở các địa bàn thực hiện dự án.

Tháng 6 năm 2010, sau khi thống nhất với các Bộ, ngành, địa phương, trong đó có Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định việc không thu hồi đối với các dự án sản xuất thử nghiệm sản phẩm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được cấp có thẩm quyền phê duyệt kể từ năm 2010.

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành sẽ là cơ hội thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia và thực hiện thành công các mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ của đất nước nói chung và của địa phương nói riêng, trong đó có sự đóng góp của các lực lượng khoa học và công nghệ tỉnh Sơn La.



3. Cử tri tỉnh Sơn La kiến nghị: Đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn cụ thể các doanh nghiệp địa phương được vay vốn ưu đãi theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 của Chính phủ, các doanh nghiệp được vay ưu đãi vốn tín dụng để đầu tư, đổi mới, chuyển giao công nghệ. Thực chất trong những năm qua chỉ có các doanh nghiệp, tổng công ty lớn ở Trung ương mới có điều kiện, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương chưa có điều kiện và khả năng tiếp cận nguồn vốn này.

Trả lời (Tại Công văn số 2486/BKHCN-VP ngày 8/10/2010)

Để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ nhằm đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, ngày 18 tháng 9 năm 1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 119/1999/NĐ-CP về các chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu t­ư vào hoạt động khoa học và công nghệ. Nghị định này áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật Việt Nam.

Để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với Bộ Tài chính ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định như: Thông tư­ liên tịch số 2341/2000/BKHCNMT-BTC và Thông tư­ liên tịch số 25/2003/TTLT/ BKHCN-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 119; Quyết định số 55/2001/QĐ-BKHCNMT ban hành Quy định về trình tự, thủ tục xem xét hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học - công nghệ và các ­ưu đãi khác quy định tại Nghị định 119 và Thông t­ư liên tịch 2341.

Các quy định trên đã làm rõ trình tự và thủ tục xem xét hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ; thông báo công khai về chủ trương hỗ trợ; quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc xác nhận các hoạt động khoa học và công nghệ để doanh nghiệp được hưởng các ­ưu đãi về thuế, sử dụng đất, thuê đất, tín dụng; hướng dẫn những nội dung chi đư­ợc Nhà n­ước hỗ trợ; hướng dẫn việc lập, quyết định, phân bổ dự toán ngân sách, chấp hành ngân sách; kiểm tra, quyết toán kinh phí hỗ trợ doanh nghiệp;... tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc thụ hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước quy định tại Nghị định 119.

Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thực hiện, Nghị định 119 đã bộc lộ một số điểm bất cập, lạc hậu so với tình hình mới. Do vậy, Bộ Khoa học và Công nghệ đang tích cực soạn thảo để trình Chính phủ trong năm 2011 văn bản sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định về khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ở mọi vùng, miền thuận lợi trong việc tiếp cận các ưu đãi của Nhà nước, đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp.

4. Cử tri tỉnh Sơn La kiến nghị:Đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính xem xét, quan tâm hỗ trợ Sơn La nguồn vốn đầu tư phát triển khoa học công nghệ để tăng cường tiềm lực xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cấp, các ngành và các trung tâm, trạm trại trong tỉnh. Trong những năm gần đây nguồn vốn này chỉ đầu tư khoảng 4-5 tỷ đồng/năm chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra.

Trả lời (Tại Công văn số 2486/BKHCN-VP ngày 8/10/2010)

Những năm qua, trong hoàn cảnh nước ta còn nghèo2, khoa học và công nghệ Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, đầu tư phát triển tiềm lực, đạt mức ổn định 2% tổng chi ngân sách (0,46%GDP). Mức đầu tư này còn thấp so với nhiều nước trong khu vực (như Thái Lan, Malaixia, Indonesia, Philipin), còn khoảng cách khá xa với các nước phát triển (1-2% GDP) nhưng đã thể hiện nỗ lực và quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với sự phát triển KH&CN.



Trong tình hình chung như vậy, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trong việc xem xét, cân đối và tổng hợp dự toán ngân sách cho hoạt động khoa học và công nghệ, trong đó dành tới gần 40% tổng mức chi ngân sách cho hoạt động khoa học và công nghệ của địa phương. Tuy nhiên, do tổng giá trị đầu tư từ ngân sách nhà nước, và đặc biệt là từ doanh nghiệp và ngoài xã hội còn thấp3 nên nguồn vốn để đầu tư, phát triển khoa học và công nghệ cho các địa phương chưa được đáp ứng đầy đủ, đúng như cử tri tỉnh Sơn La đã phản ánh.

Trong giai đoạn tới, để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung và khu vực nông nghiệp, nông thôn nói riêng, việc tiếp tục tăng cường đầu tư để phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ tại các địa phương, vùng miền trong cả nước là một yêu cầu rất cấp thiết. Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ cùng với các Bộ, ngành liên quan đề xuất với Chính phủ cơ chế đảm bảo tăng đầu tư từ ngân sách cho hoạt động khoa học và công nghệ từ 10-15%/năm (không thấp hơn tăng chi ngân sách nói chung). Phấn đấu đến năm 2020 có thể đạt được giá trị đầu tư cho khoa học và công nghệ tương đương với các nước trong khu vực. Đồng thời, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm huy động nguồn đầu tư từ doanh nghiệp và ngoài xã hội cho khoa học và công nghệ; tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí cho khoa học và công nghệ của các bộ, ngành, địa phương bằng những cơ chế quản lý, giám sát phù hợp để nguồn kinh phí được sử dụng kịp thời, đúng mục đích đáp ứng được nhu cầu phát triển đồng bộ về khoa học và công nghệ ở mỗi bộ, ngành, địa phương.

Với định hướng như vậy, Bộ Khoa học và Công nghệ tin tưởng rằng trong những năm sắp tới, nguồn vốn đầu tư phát triển khoa học công nghệ để tăng cường tiềm lực xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cấp, các ngành và các trung tâm, trạm trại của tỉnh Sơn La nói riêng và các địa phương nói chung sẽ được nâng lên, làm cơ sở thúc đẩy mạnh hơn nữa hoạt động ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân tại địa phương.

5. Cử tri tỉnh Bạc Liêu kiến nghị: Đề nghị Chính phủ cần có quy định cụ thể tiêu chuẩn kỹ thuật các loại hàng hóa nhập khẩu, nhất là hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc nhằm bảo vệ quyền lợi và sức khỏe người sử dụng.

Trả lời (Tại Công văn số 2487/BKHCN-VP ngày 8/10/2010)

1. Trong những năm qua, vấn đề quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa lưu thông trên thị trường trong nước và hàng hóa nhập khẩu được Chính phủ quan tâm chỉ đạo quyết liệt nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Chính phủ đã ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (Nghị định số 127/2007/NĐ-CP) và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (Nghị định số 132/2008/NĐ-CP), theo đó, phân định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành trong việc ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hoá có khả năng gây mất an toàn (sản phẩm, hàng hóa nhóm 2) và các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) tương ứng để quản lý.

2. Đến nay, các Bộ đã ban hành tổng cộng 173 QCVN áp dụng cho nhiều nhóm sản phẩm, hàng hoá. Nhiều dự thảo QCVN thuộc các lĩnh vực nông nghiệp, y tế, giao thông vận tải, xây dựng, công nghệ thông tin, viễn thông,… đang trong quá trình thẩm định để ban hành4.

Bên cạnh hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, các tiêu chuẩn quốc gia (với hơn 6.035 TCVN đã được công bố) sẽ trở thành bắt buộc áp dụng khi được viện dẫn trong văn bản quy phạm pháp luật hoặc trong quy chuẩn kỹ thuật. Điều này giúp khắc phục tình trạng chưa kịp ban hành đầy đủ QCVN trong quá trình chuyển đổi từ phương thức quản lý cũ (theo Pháp lệnh Chất lượng sản phẩm, hàng hoá năm 1999) sang phương thức quản lý mới tự nguyện áp dụng tiêu chuẩn và bắt buộc áp dụng quy chuẩn kỹ thuật.

Các sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước và nhập khẩu trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường phải thực hiện các phương thức đánh giá sự phù hợp với QCVN tương ứng như chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy và gắn dấu hợp quy (dấu CR) theo Quyết định số 24/2007/QĐ-BKHCN ngày 29/9/2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.

3. Bên cạnh việc khẩn trương hoàn thiện hệ thống các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, các cơ quan chức năng của Chính phủ đã và đang đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm quy chuẩn kỹ thuật đối với các loại sản phẩm, hàng hoá nhập khẩu, đặc biệt là sản phẩm, hàng hoá nhập khẩu theo con đường tiểu ngạch. Trong thời gian gần đây, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chỉ đạo hệ thống cơ quan quản lý tiêu chuẩn đo lường chất lượng trên cả nước tiến hành kiểm tra chất lượng nhiều mặt hàng nhạy cảm như đồ chơi trẻ em, mũ bảo hiểm,…5, từ đó kịp thời phát hiện và xử phạt các tổ chức, cá nhân sai phạm.

Đối với hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc, thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ và Tổng cục Kiểm tra, Giám sát chất lượng và Kiểm dịch Trung Quốc đã ký kết Hiệp định về thúc đẩy thương mại song phương và đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hóa trao đổi giữa hai nước. Nỗ lực hợp tác này đã giúp kiểm soát được về chất lượng 100% lô hàng mũ bảo hiểm nhập khẩu chính ngạch từ Trung Quốc. Tuy nhiên, hàng hoá kém chất lượng xâm nhập vào thị trường Việt Nam chủ yếu qua đường tiểu ngạch hoặc nhập lậu qua biên giới.

Để giải quyết tình trạng đó, Chính phủ đã giao Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các loại hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng lưu thông trên thị trường và ngăn chặn hàng hoá kém chất lượng nhập lậu từ nước ngoài. Các Ban chỉ đạo 127 ở Trung ương và địa phương cũng đã và đang đẩy mạnh hoạt động này.

Trong thời gian tới, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng đối với sản phẩm, hàng hoá nói chung và hàng hoá nhập khẩu nói riêng, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp với các Bộ, ngành đẩy nhanh việc hoàn thiện hệ thống các QCVN, đẩy mạnh hoạt động chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy và công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng trong nước.

6. Cử tri tỉnh Thanh Hóa kiến nghị: Trong giai đoạn đến năm 2015 và những năm tiếp theo, Thanh Hóa xác định ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa công nghệ cao vào sản xuất và phục vụ đời sống, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là giải pháp quan trọng, mang tính đột phá để tạo chuyển biến rõ nét về tốc độ và chất lượng tăng trưởng. Đề nghị Chính phủ có chủ trương cho Thanh Hóa xây dựng Khu công nghệ cao và chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan giúp đỡ tỉnh triển khai thực hiện.

Trả lời (Tại Công văn số 2488/BKHCN-VP ngày 8/10/2010)

Trong những năm qua, chủ trương đẩy mạnh phát triển công nghệ cao phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững nền kinh tế đất nước được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng. Theo tinh thần của Luật Công nghệ cao năm 2008, Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao gồm khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cơ sở nghiên cứu, cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, hạ tầng thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ cao. Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ phát triển công nghệ cao, Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Do tính chất và nhiệm vụ đặc thù của khu công nghệ cao (nơi tập trung, liên kết hoạt động nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao), để thành lập khu công nghệ cao cần bảo đảm các điều kiện sau:

- Phù hợp với chính sách của Nhà nước về phát triển công nghệ cao, công nghiệp công nghệ cao;

- Có quy mô diện tích thích hợp, địa điểm thuận lợi về giao thông và liên kết với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo có trình độ cao;

- Hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ thuận lợi đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất thử nghiệm sản phẩm công nghệ cao; cung ứng dịch vụ công nghệ cao;

- Có nhân lực và đội ngũ quản lý chuyên nghiệp.

Như vậy, việc quyết định chủ trương hình thành các khu công nghệ cao nói chung, trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá nói riêng, cần có sự xem xét thấu đáo trên cơ sở cách tiếp cận mang tính tổng thể để đảm bảo hiệu quả và sự phát triển hài hòa, cân đối giữa các vùng miền và các khu công nghệ cao trong cả nước. Trong một tầm nhìn dài hạn, việc xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển các khu công nghệ cao tại Việt Nam là cần thiết, trong đó cần tính đến thế mạnh, đặc thù cũng như tính liên kết, bổ sung, phối hợp giữa các địa phương khi hình thành các khu công nghệ cao đa ngành và chuyên ngành.

Trên tinh thần đó, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các Bộ, ngành liên quan sẵn sàng phối hợp với các địa phương, trong đó có tỉnh Thanh Hóa, tiến hành các nghiên cứu, đánh giá nghiêm túc về sự cần thiết, tính khả thi của việc hình thành các khu công nghệ cao trong Quy hoạch tổng thể chung của Chính phủ; từ đó, hỗ trợ các địa phương triển khai các bước tiếp theo.
THANH TRA CHÍNH PHỦ
Tại Công văn số 2753/TTCP-VP ngày 15/6/2010 của Thanh tra Chính phủ về việc trả lời kiến nghị cử tri tại kỳ 7, Quốc hội khóa XII

1. Cử tri tỉnh Hà Tĩnh, Hà Giang kiến nghị: Đề nghị Trung ương xem xét, nghiên cứu ban hành quy định cụ thể về mô hình, bộ máy, quy chế hoạt động về công tác tiếp dân, chế độ chính sách đối với cán bộ làm công tác tiếp công dân để tạo sự thống nhất trung ương đến địa phương.

Trả lời:

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 858/QĐ-TTg ngày 14/6/2010 phê duyệt Đề án Đổi mới công tác tiếp dân, trong đó quy định cụ thế mô hình, bộ máy, quy chế hoạt động của các cơ quan tiếp dân và chính sách đối với cán bộ làm công tác tiếp dân.

Hiện nay, các bộ, ngành, địa phương đang xây dựng kế hoạch triển khai, thực hiện Đề án tại đơn vị mình.

2. Cử tri tỉnh Hà Tĩnh kiến nghị: Cần cho biên chế quản lý nhà nước về phòng chống tham nhũng và các nguồn lực để đảm bảo hoạt động phòng, chống tham nhũng tại Thanh tra tỉnh.

Trả lời:

Chương trình hành động của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng đã xác định việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng đội ngũ quản lý nhà nước là nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo cơ sở để triển khai thực hiện ngay và có hiệu quả trong công tác phòng, chống tham nhũng. Thanh tra Chính phủ và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư Liên tịch số 475/2009/TTLT-TTCP-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi là Thanh tra tỉnh). Trong đó quy định cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh gồm: Văn phòng, các phòng thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo và các phòng chuyên môn nghiệp vụ khác được thành lập phù hợp với đặc điểm của từng địa phương bảo đảm bao quát hết các lĩnh vực, các mặt công tác của Thanh tra tỉnh, gồm: Pháp chế; tổng hợp; phòng chống tham nhũng; đôn đốc xử lý sau thanh tra hoặc công tác khác theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm và yêu cầu quản lý nhà nước đối với công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng tại địa phương, Chánh thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp với Giám đốc Sở Nội vụ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định số lượng và tên gọi các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Thanh tra tỉnh nhưng số lượng phòng, văn phòng không quá 06; đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không quá 08.

Việc bổ sung biên chế và nguồn lực bảo đảm hoạt động phòng, chống tham nhũng tại thanh tra cấp tỉnh là cần thiết nhưng phải đảm bảo đúng quy định, phù hợp với biên chế và nguồn lực được phân bổ cho các hoạt động quản lý Nhà nước khác thuộc chức năng, nhiệm vụ của Ngành.

Thanh tra Chính phủ sẽ nghiên cứu và có ý kiến với Bộ Nội vụ để hướng dẫn cụ thể hơn.



3. Cử tri tỉnh Phú Thọ kiến nghị: Tình trạng giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân kéo dài trái quy định của pháp luật còn khá phổ biến nhưng chưa có chế tài và cơ chế xử lý thích đáng. Đề nghị Chính phủ tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đồng thời có biện pháp chấn chỉnh tình trạng trên.

Trả lời:

Thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được quy định cụ thể tại Điều 36 Luật Khiếu nại, tố cáo sửa đổi, bổ sung năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Trên thực tế, nhiều vụ việc giải quyết chậm so với quy định, kéo dài qua thời gian dẫn đến công dân phải chờ đợi lâu.

Trước tình hình đó, Thanh tra Chính phủ đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của Bộ trưởng, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân (ví dụ như: các bộ: Công thương, Giáo dục - Đào tạo, Tư pháp, Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Lao Động Thương binh và Xã hội…, các tỉnh, thành phố: Phú Thọ, Thái Nguyên, Hải Dương, Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Hậu Giang, Sóc Trăng,…; đồng thời, Thanh tra Chính phủ cũng chỉ đạo các cấp Thanh tra tăng cường thanh tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo của thủ trưởng các cơ quan quản lý nhà nước. Từ đầu năm 2010 đến nay, các cấp thanh tra đã tiến hành 7.295 cuộc thanh tra, kiểm tra trách nhiệm (tăng 36,1% so với năm 2009) tại 10.855 đơn vị. Qua thanh tra đã chỉ ra những tồn tại cần khắc phục như: chưa chấp hành nghiêm quy định của pháp luật trong công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa triệt để, dẫn đến hiệu quả giải quyết chưa cao; cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa được quan tâm đúng mức cả về đào tào, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cũng như chế độ đãi ngộ,…. Bên cạnh đó, Thanh tra Chính phủ đang xây dựng Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo nhằm hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo và bổ sung một số biện pháp chế tài xử lý vi phạm quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo nhằm chấn chỉnh tình trạng trên.

Trong thời gian tới, Thanh tra Chính phủ sẽ tăng cường công tác theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; thường xuyên thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện Luật Khiếu nại, tố cáo. Việc theo dõi, tổng hợp tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân qua hệ thống phần mềm quản lý đơn thư khiếu nại, tố cáo. Hàng tháng, Thanh tra Chính phủ lập danh sách các vụ việc khiếu nại, tố cáo, xuất phát từ đơn thư gửi vượt cấp, thuộc thẩm quyền của các bộ, ngành, địa phương, thông báo và theo dõi việc giải quyết. Trên cơ sở đó sẽ tiến hành kiểm tra, đôn đốc và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét trách nhiệm đối với Thủ trưởng các bộ, ngành, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.



4. Cử tri thành phố Đà Nẵng kiến nghị: Cử tri thắc mắc vì sao nhận định “Tham nhũng vẫn chưa được đẩy lùi” cứ lặp đi lặp lại từ năm này sang năm khác mà Chính phủ vẫn chưa tìm ra biện pháp hữu hiệu để xử lý triệt để hiện tượng này. Đề nghị Chính phủ cần xây dựng pháp luật về chống tham nhũng theo hướng cơ quan chức năng có quyền điều tra tài sản của các quan chức có dấu hiệu bất minh về tài sản.
1   ...   42   43   44   45   46   47   48   49   50


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương