Bài 6: quan đIỂm về giáo lý CỦA ĐẠi chúng bộ VÀ ba chi pháI ĐẦu tiêN (40 48)



tải về 74.15 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu02.09.2016
Kích74.15 Kb.
Bài 6: QUAN ĐIỂM VỀ GIÁO LÝ

CỦA ĐẠI CHÚNG BỘ VÀ BA CHI PHÁI ĐẦU TIÊN (40 - 48)

(40) 佛 所 說 經 皆 是 了 義 。

Các kinh của đức Phật thuyết đều là liễu nghĩa (nitārtha).

BCDL: 一 切 諸 經 無 不 了 義 。



  • Liễu Nghĩa: Revelation of the whole meaning or truth - Complete understanding.

  • Liễu Nghĩa Giáo: Teaching of the whole truth.

  • Liễu Nghĩa Kinh: The sutras containing the whole truth. Bất liễu nghĩa is partial reveletion adapted (phương tiện) to the capacity of the hearers.

  • Từ Điển Phật Học Hán Việt (HT. Kim Cương Tử chủ biên): Kinh điển trình bày thuyết giảng nghĩa cứu cánh liễu hiển thì gọi là liễu nghĩa kinh (đó là Kinh điển Đại thừa). Kinh điển Tiểu thừa là Bất liễu nghĩa kinh. Cho nên Phật dạy: phải y vào kinh liễu nghĩa, đừng y vào kinh bất liễu nghĩa. (tr. 665)

Thế nhưng, chính Đại thừa lại đưa ra học thuyết “tứ y”:

Tứ y bao gồm: Y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y trí bất y thức, y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh. Các kinh luận Hán tạng đề cập đến Tứ y gồm: Đại Bát Niết Bàn kinh, q.6; Đại Phương Đẳng Đại Tập kinh, q.29; Đại Phương Tiện Phật Báo Ân kinh, q.7; Đại Trí Độ luận, q.9 v.v… (Thích Minh Cảnh, Từ điển Phật học Huệ Quang, tr.4904). Về bản Việt dịch, trong kinh Đại Bát Niết Bàn, tập 1, Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch, phẩm VIII, Tứ y, NXB Tôn Giáo ấn hành, 2003, trang 186;

(41) 無 為 法 有 九 種 。 一 擇 滅 。 二 非 擇 滅 。 三 虛 空 。 四 空 無 邊 處 。 五 識 無 邊 處 。六 無 所 有 處 。 七 非 想 非 非 想 處 。八 緣 起 支 性 。九 聖 道 支 性 。

Pháp vô vi gồm có 9 loại: 1) trạch diệt, 2) phi trạch diệt, 3) hư không, 4) không vô biên xứ, 5) thức vô biên xứ, 6) Vô sở hữu xứ, 7) Phi tưởng phi phi tưởng xứ, 8) Duyên khởi chi tánh (12 chi phần duyên khởi), 9) Thánh đạo chi tánh (tám chi phần thánh đạo).

BCDL: 無 為 法 有 九 種 。 一 思 擇 滅 。 二 非 思 擇 滅 。 三 虛 空 。 四 空 處 。 五 識 處 。 六 無 所 有 處 。 七 非 想 非 非 想 處 。 八 十 二 因 緣 生 分 。 九 八 聖 道 分 。

Duyên khởi chi tánh là tánh của 12 chi duyên khởi. Thánh đạo tánh là tánh của 8 chi thánh đạo; nói vô vi có 9 như thế, chứng tỏ bản tánh các pháp nhiễm tịnh toàn là vô vi.


  • Chữ 支 có khi nào viết nhầm của chữ 之 ?

  • Câu Xá chỉ nói 3 vô vi: 1) Hư không vô vi 虛 空 無 為 = Ākāsa Asaṃskṛta, 2) Trạch diệt vô vi 擇 滅 無 為 = Pratisaṃkhyā Nirodha Asaṃskṛta, 3) Phi trạch diệt vô vi: 非 擇 滅 無 為 = Apratisaṃkhyā Nirodha Asaṃskṛta.

  • Pháp Tướng Tông nói sáu pháp vô vi: Asaṃskṛtadharma (S). Anything not subject to cause, condition, or dependence; out of time, eternal, inactive, supra-mundane. Pháp tướng tông enumerates 6 vô vi pháp: non-created elements: (1) Hư không vô vi: 虛 空 無 為 Ākāsa Asaṃskṛta = Unconditioned Empty Space; (2) Trạch diệt vô vi 擇 滅 無 為: Pratisaṃkhyā Nirodha Asaṃskṛta = Unconditioned Extinction obtained by knowledge; (3) Phi trạch diệt vô vi 非 擇 滅 無 為 Apratisaṃkhyā Nirodha Asaṃskṛta = Unconditioned extinction not by knowledge but by nature; (4) Bất động diệt vô vi = 不 動 滅 無 為 = Acala Nirodha Asaṃskṛta = Unconditioned extinction by a motionless state of heavenly meditation; (5) thọ tưởng diệt vô vi 受 想 滅 無 為 = Saṃjñā vedayita Nirodha Asaṃskṛta = Unconditioned extinction by the stop of idea and sensation by an arhat; (6) chân như vô vi: = 真 如 無 為 = Tathatā Asaṃskṛta = Unconditioned true suchness.

  • Pháp Tạng Bộ cũng nói đến 9 vô vi, nhưng khác với 4 bộ trên.

(42) 心 性 本 淨 客 隨 煩 惱 之 所 雜 染。說 為 不 淨。

Tâm tánh vốn thanh tịnh, nói bất tịnh là vì bụi bặm phiền não làm cho ô nhiễm.

BCDL: 心 者 自 性 清 淨 客 塵 所 污 。 一 隨 眠 煩 惱 。 二 倒 起 煩 惱 。 Trong BCDL, phiền não lại phân thành 3 loại phiền não.

隨 煩 惱: Tùy Phiền Não: Tùy Hoặc - Phiền não khởi lên bởi phiền não căn bản, đối lại với phiền não căn bản khởi lên từ lục căn - Sequent, or associated klesa-trials, or evils, either all of them as always dogging the footsteps—Consequent afflictions resulting or arising from the fundamental afflictions, in contrast with afflictions arising from the six senses.

* Chủ trương bản tính thanh tịnh này giống như thiền tông Trung Hoa, Nhật Bản.

(43) 隨 眠 非 心。非 心 所 法。亦 無 所 緣。

Tùy miên chẳng phải tâm, chẳng phải tâm sở pháp, cũng không phải đối tượng (sở duyên).

BCDL: 隨 眠 煩 惱 。非 心 非 心 法 無 所 緣 。



Anusaya (P), Anuśaya (S) Proclivity = latent defilements: phiền não ngủ ngầm.

  • 所 緣 : đối tượng.

  • Câu Xá nói có 6 loại tuỳ miên: Tham, sân, vô minh (si), mạn, nghi, ác kiến. Chia ác kiến thành 5: thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà kiến. Nói rộng là 10 tuỳ miên, còn gọi là 10 kiết sử phiền não.

  • Theo Theravada, thuỳ miên là tâm sở bất thiện và cũng là đối tượng của tâm. Khi quán pháp, hành giả lấy 5 triền cái làm đối tượng để quán đầu tiên nên nó thuộc đối tượng của tâm.

  • Theo tông nghĩa của Hữu Bộ, "tùy miên" là một tên khác của phiền não: Used by the Sarvastivadins as an equivalent for klesa, the passions and delusions.

  • Theo tông nghĩa của phái Duy Thức Ðại Thừa, đây là tên gọi chung cho chủng tử của "Phiền Não Chướng" và "Sở Tri Chướng" (tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến): Used by the school of consciousness as the seed of klesa (greed, hatred, ignorance, pride, doubt, wrong views).

Tâm sở có bốn đặc tính:

- Ekuppāda: đồng sanh, nghĩa là tâm sanh lên, tâm sở cũng sanh lên ngay tức khắc, không trước cũng không sau.

- Ekanirodha: đồng diệt, nghĩa là tâm diệt đi, tâm sở cũng diệt ngay tức khắc.

- Ekālambana: đồng cảnh, nghĩa là tâm biết cảnh nào, tâm sở cũng chỉ biết cảnh ấy.

- Ekavatthuka: đồng (nương) vật, nghĩa là tâm nương nơi vật nào thì tâm sở cũng nương chính vật ấy. Như nhãn thức nương nhãn vật, những tâm sở đồng sanh với Nhãn thức cũng chỉ nương nhãn vật, Nhĩ thức nương nhĩ vật, các tâm sở đồng sanh với nhĩ thức cũng chỉ nương nơi nhĩ vật...Ý thức nương ý vật (hadayavatthu) thì các tâm sở đồng sanh với ý thức cũng chỉ nương ý vật.

Bốn sự đồng này là nói tổng quát, chỉ có trong cõi ngũ uẩn, ỡ cõi tứ uẩn thì không có đồng nương vật.

(44) 隨 眠 異 纏 。纏 異 隨 眠 。應 說 隨 眠 與 心 不 相 應 。纏 與 心 相 應 。

Tùy miên khác với triền phược, triền phược khác với tùy miên. Cho nên mới nói tùy miên không tương ưng với tâm mà triền phược lại tương ưng với tâm.



Theo Câu Xá Luận, Tùy miên (S: Anuśaya, P: Anusaya). Tùy miên phiền não (隨 眠 煩 惱) là phiền não đưa con người vào trạng thái mờ mịt nặng nề, hoạt động của nó nhỏ nhiệm khó biết, cùng đối cảnh và tâm, tâm sở tương ưng ảnh hưởng lẫn nhau mà thêm lớn mạnh nên gọi Tùy tăng, bởi nó trói buộc con người nên gọi là tùy phược. Có 6 thứ: tham, sân, mạn, vô minh, ác kiến và nghi. Đây là sáu món tùy miên hay còn gọi là sáu món căn bản phiền não. Trong đó tham chia làm 2: dục tham và hữu tham thành 7 món tùy miên; kiến lại chia thành 5 thứ: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ, thành 10 món tùy miên. Ngoài ra, mười món này thêm những phần nhỏ nhiệm vi tế, tạo thành 98 món tùy miên.

Triền phược (Paryavasthàna) còn gọi là đảo khởi phiền não (倒 起 煩 惱). Là sự trói buộc làm chướng ngại sự tu thiện, gồm có chung và riêng. Chung là chỉ cho tất cả phiền trói buộc chúng sanh trong sanh tử nơi ba cõi. Phân biệt riêng thì triền có 3 triền, 8 triền, 10 triền cho đến 500 triền; phược cũng có 3 phược, 4 phược. Kinh bộ gọi chủng tử phiền não (ở giai đoạn tiềm ẩn) là tùy miên; trái lại, gọi sự hiện hành của phiền não (ở giai đoạn hiển lộ) là triền.

BCDL: 隨 眠 煩 惱 異 。 倒 起 煩 惱 異 。 隨 眠 煩 惱 與 心 相 離 倒 起 煩 惱 與 心 相 應 。



triền phược là phiền não hiện hành, nên xếp vào loại tương ưng (tâm sở), còn tùy miên nên xếp vào loại bất tương ưng.

  • 隨 眠 là tên khác của phiền não. Có 8 thứ triền: vô tàm, vô quý, tật, xan, hối miên, trạo cử, hôn trầm. Có 10 loại: thêm phẫn và phú.

  • Triền cái Payavashāna (S), Nīvaraa (P), Hindrance Cái, Chướng, Ngăn, Che lấp, Phiền não Phiền não ngăn che thiện tâm. Có 5 thứ phiền não: tham dục, sân nhuế, hôn trầm, trạo cử, nghi ngờ. 1- Ngũ cái (5 cái nắp che đậy = 5 thứ phiền não che lấp tâm tính). Gồm: tham dâm, sân nhuế, thuỵ miên, trạo hối, nghi pháp.

  • Theo Duy Thức Tông, tuỳ miên thuộc tâm sở bất thiện. 24 tâm bất tương ưng hành trong Duy Thức học không có “triền phược”.

(45) 過 去 未 來 非 實 有 體。Quá khứ và vị lai không thực có bản thể.

BCDL: 過 去 未 來 。 是 無 現 在 。

Nếu nói quá khứ và vị lại chỉ về mặt thời gian thì không thực thể là điều dễ hiểu. Nếu liên hệ với Kinh Nhất Dạ Hiền Giả (131) trong Trung Bộ Kinh về quá khứ và vị lai là nói đến pháp (5 uẩn) không có thực.

Liên hệ: Câu chuyện Ngài Đức Sơn Tuyên Giám gánh bộ Thanh Long (sớ giải của kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật) gặp bà già bán bánh rán “quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc” .

Hữu bộ lại cho cả ba thời đều có thực.

(46) 一 切 法 處 非 所 知 非 所 識 量 。非 所 通 達。

Tất cả các pháp xứ không phải là cái được biết, không phải là cái được nhận thức suy lường, cũng không phải là cái thông đạt.

BCDL: 是 有 法 入 。 非 所 知 非 所 識 。

* Dharmāyatana: 法 處 pháp xứ : mental objects. Đối tượng của ý căn gọi là pháp xứ. Trong Duy Thức gọi là “lạc tạ ảnh tử” (ấn tượng).

Pháp xứ hay Pháp nhập (dhamrànyatana), là một trong 12 xứ, chỉ chung cho tất cả cảnh giới mà ý thức nương tựa vào đó. Nếu phối hợp với 5 uẩn thì Pháp xứ chính là thọ, tưởng và hành, gồm thâu 64 pháp là 46 tâm sở, 14 bất tương ưng hành, vô biểu sắc và 3 vô vi (theo Duy Thức học).

* Tất cả mọi ấn tượng không phải là chỗ được nhận biết (đối tượng nhận biết), cũng không phải là đối tượng nhận thức, cũng không phải chỗ thông đạt. (HT. Trí Quang)

(47) 都 無 中 有。

Không có trung hữu.

BCDL: 中 陰 是 無 。

* antarā-bhava: còn gọi là trung ấm (in the intermediate state).

* Quan điểm này đồng với quan điểm của Thượng Toạ Bộ. Thượng Toạ Bộ cho rằng tâm tử (cuti citta) cũng tức là tâm sanh (patisandhi citta).

không công nhận trung hữu, vì cho không có sự cách hở giữa tử hữu và sinh hữu; sự cách hở thời gian chỉ là đẳng vô gián duyên.

(48) 諸 預 流 者 亦 得 靜 慮。

Các vị Dự Lưu cũng đạt được tĩnh lự.

BCDL: 須 氀 多 阿 半 那 得 定。

* Tịnh lự: Dhyāna (thiền / định).

如 是 等 是 本 宗 同 義。Đại loại như vậy là học thuyết căn bản và đồng nhất [của 4 bộ phái]








Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương