TIÊu chuẩn quốc gia tcvn 9583 : 2012 iso 5700: 2006



tải về 183.91 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu18.07.2016
Kích183.91 Kb.
  1   2   3
TIÊU CHUẨN QUỐC GIA

TCVN 9583 : 2012

ISO 5700:2006

MÁY KÉO NÔNG LÂM NGHIỆP - KẾT CẤU BẢO VỆ PHÒNG LẬT (ROPS) - PHƯƠNG PHÁP THỬ TĨNH HỌC VÀ ĐIỀU KIỆN CHẤP NHẬN



Tractors for agriculture and forestry - Roll-over protective structures (ROPS) - Static test method and acceptance conditions

Lời nói đầu

TCVN 9583 : 2012 hoàn toàn tương đương với ISO 5700:2006.

TCVN 9583 : 2012 do Trung tâm Giám định Máy và Thiết bị biên soạn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
MÁY KÉO NÔNG LÂM NGHIỆP - KẾT CẤU BẢO VỆ PHÒNG LẬT (ROPS) - PHƯƠNG PHÁP THỬ TĨNH HỌC VÀ ĐIỀU KIỆN CHẤP NHẬN

Tractors for agriculture and forestry - Roll-over protective structures (ROPS) - Static test method and acceptance conditions

1. Phạm vi áp dụng

Tiêu chuẩn này quy định phương pháp thử tĩnh học và những điều kiện chấp nhận đối với kết cấu bảo vệ phòng lật (buồng lái hoặc khung) của máy kéo bánh hơi dùng trong nông lâm nghiệp.

Tiêu chuẩn này áp dụng cho máy kéo có trang bị ít nhất hai trục lắp bánh hơi hoặc bánh xích có khối lượng máy kéo không lắp đối trọng không nhỏ hơn 800 kg và có bề rộng vết bánh sau nhỏ nhất lơn hơn 1150 mm.

2. Tài liệu viện dẫn

Các tài liệu viện dẫn sau rất cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung (nếu có).

ISO 630 1), Structural steels - Plates, wide flats, bars, sections and profiles (Kết cấu thép - Tấm, bản rộng, thanh, mặt cắt và định hình);

ISO 5353:1995, Earth-moving machinery, and tractors and machinery for agriculture and forestry - Seat index point (Máy làm đất, máy kéo và máy nông lâm nghiệp - Điểm chỉ báo chỗ ngồi);

ASTM A370, Standard test methods and definitions for mechanical testing of steel products (Định nghĩa và phương pháp thử chuẩn cho thử nghiệm cơ học của các sản phẩm thép).

3. Thuật ngữ và định nghĩa

Trong tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau:



3.1.

Kết cấu bảo vệ phòng lật (roll-over protective structure)

ROPS

Khung bảo vệ người lái máy kéo nông lâm nghiệp, để làm giảm thiểu tổn thương có thể xảy ra với người lái do bất ngờ bị lật trong lúc vận hành bình thường.

CHÚ THÍCH: ROPS được đặc trưng bởi việc xác lập khoảng không gian cho một vùng khoảng trống bên trong vùng bao của kết cấu hoặc bên trong một không gian được giới hạn bởi loạt các đường thẳng từ các mép ngoài của kết cấu tới một phần nào đó của máy kéo có thể tiếp xúc với mặt đất; nó có khả năng đỡ máy kéo ở vị trí đó nếu máy kéo lật nhào.

3.2.

Khối lượng máy kéo (tractor mass)

Khối lượng máy kéo không chất tải ở trạng thái làm việc với các thùng chứa và bộ tản nhiệt đã nạp đầy, kết cấu bảo vệ phòng lật có bao che và thiết bị bảo vệ bất kỳ hoặc có thêm bộ phận truyền động cần thiết cho bánh trước để sử dụng bình thường.

CHÚ THÍCH: Không bao gồm người lái, khối lượng đối trọng tùy chọn, bánh xe bổ sung, thiết bị đặc biệt và tải trọng.

3.3.

Khối lượng tham chiếu (reference mass)

mt

Khối lượng, không nhỏ hơn khối lượng máy kéo, do nhà chế tạo lựa chọn để tính năng lượng đầu vào được sử dụng trong các thử nghiệm.



3.4.

Thử tải trọng theo phương ngang (horizontal loading test)

Tác động tải trọng theo phương ngang vào phía sau, phía trước và phía bên của kết cấu bảo vệ phòng lật.



3.5.

Thử phá hủy (crushing test)

Tác động tải trọng theo phương thẳng đứng thông qua một dầm được đặt ngang qua các bộ phận cao nhất của kết cấu bảo vệ phòng lật.



3.6.

Mặt phẳng trung tuyến dọc (longitudinal median plane)

Mặt phẳng đối xứng theo chiều dọc (longitudinal plane of symmetry)

Mặt phẳng gốc tọa độ Y (zero Y plane)

Mặt phẳng thẳng đứng Y đi qua trung điểm của AB, vuông góc với AB, A và B được xác định:

- Đối với mỗi bánh xe, mặt phẳng thẳng đứng đi qua trục của nó cắt mặt phẳng giữa của bánh xe theo một đường thẳng , gặp bề mặt đỡ của máy kéo tại một điểm, và

- A và B là hai điểm được xác định tương ứng với hai bánh xe, cả hai bánh xe là bánh dẫn hướng hay bánh chủ động, đặt ở vị trí tương ứng tại hai đầu của cùng một trục thực hay giả định.

Xem Hình 1.

CHÚ THÍCH 1: Mặt phẳng giữa của bánh kép cách đều nhau từ mép trong của một bánh và mép ngoài của bánh khác, đường thẳng  trong trường hợp đặc biệt này là đường giao nhau của mặt phẳng giữa của bánh kép với mặt phẳng thẳng đứng đi qua đường tâm của ngõng trục.

CHÚ THÍCH 2: Trích từ Điều 5, ISO 612:1978 [1].



Hình 1 - Mặt phẳng trung tuyến dọc

3.7.

Mặt phẳng tham chiếu (reference plane)

Mặt phẳng thẳng đứng, thông thường theo chiều dọc máy kéo và đi qua điểm chỉ báo chỗ ngồi và tâm của vô lăng lái.

CHÚ THÍCH: Thông thường, mặt phẳng tham chiếu này trùng với mặt phẳng trung tuyến dọc của máy kéo.

4. Ký hiệu và chữ viết tắt

Đối với mục đích của tiêu chuẩn này, sử dụng ký hiệu cho trong Bảng 1.



Bảng 1 - Ký hiệu

Ký hiệu

Mô tả

Đơn vị

ah

Một nửa khoảng điều chỉnh ghế ngồi theo phương ngang

mm

av

Một nửa khoảng điều chỉnh ghế theo phương thẳng đứng

mm

D

Độ uốn của ROPS để tính năng lượng cơ sở yêu cầu tại điểm uốn và trên đường, đặt tải trọng

mm

Eil1

Năng lượng vào được hấp thụ trong thời gian gây tải thứ nhất theo chiều dọc

J

Eil2

Năng lượng vào được hấp thụ trong thời gian gây tải thứ hai theo chiều dọc

J

Eis

Năng lượng được hấp thụ trong thời gian gây tải ở phía bên

J

F

Lực tải tĩnh cho năng lượng cơ sở yêu cầu

N

Fmax

Lực tải tĩnh lớn nhất xảy ra trong thời gian gây tải (không tính quá tải)

N

Ff

Lực sử dụng ở phía trước trong phép thử phá hủy

N

Fr

Lực sử dụng ở phía sau trong phép thử phá hủy

N

mt

Khối lượng tham chiếu

kg

W

Bề rộng của ROPS

mm

5. Dụng cụ

5.1. Thử tải trọng theo phương ngang

5.1.1. Vật liệu, thiết bị và phương tiện kèm theo phải đảm bảo khung máy kéo được giữ cố định vững chắc với mặt nền (và được đỡ) không phụ thuộc vào các lốp.

5.1.2. Phương tiện tạo ra lực theo phương ngang đặt vào kết cấu bảo vệ phòng lật như thể hiện trên Hình 2 và Hình 3, theo các yêu cầu trong 5.1.2.1 đến 5.1.2.4.

5.1.2.1. Phải đảm bảo tải trọng được phân bố đồng đều theo đường pháp tuyến với phương của tải trọng và dọc theo dầm với chiều dài giữa 250 mm và 700 mm, cách đều đúng 50 mm.

5.1.2.2. Các cạnh của dầm tiếp xúc với kết cấu bảo vệ phòng lật phải được vê tròn với bán kính tối đa 50 mm.

5.1.2.3. Khớp các đăng, hoặc kết cấu tương tự phải được kết hợp để đảm bảo thiết bị gây tải không được cản trở kết cấu quay hoặc xê dịch theo bất kỳ hướng nào ngoài hướng của tải trọng.

5.1.2.4. Trường hợp dầm gây tải được đặt trên toàn bộ chiều dài của kết cấu bảo vệ phòng lật, không tạo thành đường thẳng pháp tuyến với phương đặt tải trọng, khoảng trống phải được kê để phân bố tải trọng trên toàn bộ chiều dài này.

CHÚ DẪN:


1 tải trọng phía sau

2 điểm chỉ báo chỗ ngồi (SIP)

3 tải trọng phía trước

4 điểm đặt tải trọng thứ hai theo chiều dọc, phía trước hoặc phía sau

5 SIP, mặt phẳng trung tuyến dọc

6 điểm đặt tải trọng theo chiều dọc, phía trước hoặc phía sau



Hình 2 - Đặt tải trọng phía trước và phía sau

Kích thước tính bằng milimét



CHÚ DẪN:


1 điểm chỉ báo chỗ ngồi (SIP)

2 điểm đặt tải trọng phía bên (xem (7.2.3)

3 độ uốn do tải trọng theo chiều dọc phía sau

4 SIP, mặt phẳng trung tuyến dọc

5 tải trọng

Hình 3 - Đặt tải trọng phía bên

5.1.3. Thiết bị đo lực và độ uốn dọc theo chiều tác động của lực và liên quan đến khung máy kéo. Để đảm bảo độ chính xác, các phép đo phải được ghi liên tục. Các thiết bị đo phải được đặt sao cho ghi được lực và độ uốn tại điểm, dọc theo đường đặt tải trọng.

5.1.4. Phương tiện để xác định vùng khoảng trống không bị xâm nhập trong thời gian thử. Có thể sử dụng dụng cụ đo dựa vào vùng khoảng trống như thể hiện trên Hình 4.

CHÚ DẪN:


1 Điểm chỉ báo chỗ ngồi (SIP)

Kích thước

mm

Ghi chú



100

Nhỏ nhất



500






500

{ Nhỏ nhất hoặc bằng bán kính vô lăng lái cộng 40 mm, chọn số nào lớn hơn



500






250

{ Nhỏ nhất hoặc bằng bán kính vô lăng lái cộng 40 mm, chọn số nào lớn hơn

J0E0

300




F0G0

---

Tùy thuộc vào máy kéo

I0G0

---

C0D0

---

E0F0

---

CHÚ THÍCH: Với các kích thước khác, xem Hình 6 a) và b).

Hình 4 - Dụng cụ đo vùng khoảng trống

5.2. Thử phá hủy

5.2.1. Vật liệu, thiết bị và phương tiện kèm theo phải đảm bảo khung máy kéo được giữ cố định chắc chắn với mặt nền (và được đỡ), không phụ thuộc vào các lốp.

5.2.2. Phương tiện gây ra lực nén xuống kết cấu bảo vệ phòng lật, như thể hiện trên Hình 5, bao gồm một dầm cứng có bề rộng 250 mm.

5.2.3. Phương tiện để xác định vùng khoảng trống không bị xâm nhập trong thời gian thử. Có thể sử dụng dụng cụ đo dựa vào vùng khoảng trống như thể hiện trên Hình 4.

CHÚ DẪN:


1 lực

2 khớp nối chốt vạn năng

3 xy lanh thủy lực

4 giá đỡ trục trước và sau

5 dầm phá hủy

Hình 5 - Ví dụ bố trí thử nghiệm phá hủy

6. Chuẩn bị máy kéo và ROPS để thử

6.1. Kết cấu bảo vệ phòng lật phải được chế tạo với đặc điểm của sản phẩm và lắp với kiểu khung máy kéo thích hợp, phù hợp với phương pháp gá lắp của nhà chế tạo công bố.

6.2. Hệ thống phải được lắp chặt với nền để các bộ phận kết nối hệ thống và nền không bị chệch hướng đáng kể liên quan đến ROPS chịu tác động của tải trọng. Hệ thống không chịu bất cứ sự tựa đỡ nào dưới tải trọng tác động ngoại trừ do phụ kiện ban đầu.

6.3. Điều chỉnh bề rộng vết bánh đối với các bánh sau để không cản trở tới ROPS khi thử.

Hệ thống phải được đỡ và siết chặt hoặc chỉnh sửa để toàn bộ năng lượng thử được hấp thụ bởi ROPS và phụ kiện của nó với các bộ phận cứng của máy kéo.



6.4. Tất cả các cửa sổ, các tấm chắn và các bộ phận không thuộc kết cấu có thể tháo phải được tháo ra để chúng không ảnh hưởng đến độ bền của ROPS.

Trong trường hợp có thể đóng các cửa và cửa sổ mở, hoặc tháo ra khi làm việc, thì khi thử chúng có thể được tháo ra hoặc hãm ở trạng thái mở, sao cho chúng không làm tăng thêm độ bền của kết cấu bảo vệ phòng lật gắn phía sau. Điều đó đảm bảo không tạo ra mối nguy hiểm cho người lái trong trường hợp lật máy.



6.5. ROPS phải được trang bị với thiết bị cần thiết để thu được số liệu về lực-độ uốn.

7. Quy trình thử

CẢNH BÁO - Một số thử nghiệm theo quy định trong tiêu chuẩn này cần sử dụng các phương pháp có thể dẫn tới tình trạng nguy hiểm.

7.1. Trình tự các phép thử

7.1.1. Phép thử phải được thực hiện đúng quy trình theo trình tự từ a) đến e).

a) Tải trọng thứ nhất theo chiều dọc

Với máy kéo có khối lượng phân bố trên các bánh sau ít nhất 50 % khối lượng máy kéo, tải trọng theo chiều dọc phải tác động từ phía sau. Với máy kéo khác tải trọng theo chiều dọc phải tác động từ phía trước.



b) Thử phá hủy thứ nhất

Phép thử phá hủy thứ nhất áp dụng ở cùng vị trí đầu mút của ROPS như tải trọng theo chiều dọc.



c) Tải trọng từ phía bên

Trường hợp ROPS có ghế lệch và/hoặc độ vững chắc không đối xứng, tải trọng sẽ được thực hiện ở phía bên có khả năng xâm nhập vào vùng khoảng trống nhiều hơn.



d) Thử phá hủy thứ hai

Phép thử phá hủy thứ hai áp dụng ở vị trí đầu mút đối diện của ROPS với tải trọng theo chiều dọc.

Trường hợp có kết cấu loại hai trụ, có thể cùng vị trí như trong b).

e) Tải trọng thứ hai theo chiều dọc

Tải trọng thứ hai theo chiều dọc được áp dụng với máy kéo lắp ROPS bị nghiêng khi tải trọng theo chiều dọc tại điểm a) không áp dụng theo hướng mà ROPS nghiêng do thiết kế.



7.1.2. Tất cả các phép thử phải được thực hiện trên cùng một ROPS. Không sửa chữa hoặc nắn thẳng bất kỳ chi tiết nào được thực hiện giữa các phép thử.

7.1.3. Sau khi hoàn thành tất cả các phép thử, đo và ghi lại độ uốn dư của ROPS.

Sau mỗi phần được thử trong 7.1.1, phải kiểm tra ROPS bằng mắt thường khi đã ngắt tải trọng. Nếu có các vết nứt hoặc rách trong thời gian gây tải ngoại trừ khi thử phá hủy thứ hai, việc thử quá tải quy định trong 11.4 phải được thực hiện trước khi tiến hành gây tải tiếp theo theo trình tự cho trong 7.1.1.

Với tải trọng liên tục, biến dạng của buồng lái/khung có thể làm hướng tải trọng thay đổi. Điều này là chấp nhận được.

7.2. Tải trọng theo phương ngang từ phía sau, phía trước và phía bên

7.2.1. Yêu cầu chung đối với thử tải trọng theo phương ngang

7.2.1.1. Các tải trọng đặt vào ROPS phải được phân bố bằng dầm cứng, theo các yêu cầu trong 5.1.2, được đặt ở vị trí pháp tuyến với phương của tải trọng tác động; dầm cứng có thể có phương tiện để ngăn cản sự dịch chuyển của nó sang phía bên. Mức độ của tải trọng tác động phải đảm bảo sao cho tốc độ uốn không được vượt quá 5mm/s. Khi tải trọng tác động, FD phải được ghi đồng thời với các dữ liệu ghi liên tục, để đảm bảo độ chính xác. Một khi tác động đầu tiên đã bắt đầu, tải trọng không được giảm cho đến khi thực hiện xong phép thử; nhưng cho phép dừng việc tăng tải trọng nếu yêu cầu, ví dụ để ghi số liệu đo.

7.2.1.2. Đặt tải trọng phải theo yêu cầu trong 7.2.1.1 và 5.1.2. Trong trường hợp đặc biệt, nếu bộ phận của kết cấu mà tải trọng tác động vào, bị cong thì phải đáp ứng các yêu cầu trong 5.1.2.4.

7.2.1.3. Nếu không có kết cấu thanh ngang ở điểm tác động, có thể sử dụng dầm thử thay thế mà không làm tăng độ bền của kết cấu để hoàn thành quy trình thử.

7.2.2 Tải trọng thứ nhất theo chiều dọc

Tải trọng được tác động theo phương ngang và song song với mặt phẳng trung tuyến dọc của máy kéo từ phía sau hoặc phía trước như yêu cầu trong 7.1.1 a). Nếu từ phía sau, nó phải tác động vào phía đối diện với phía mà tải trọng phía bên tác động. Nếu từ phía trước, nó ở cùng một phía với tải trọng phía bên.

Tải trọng phải được tác động vào bộ phận kết cấu ngang cao nhất của ROPS (nghĩa là phần có thể đập xuống mặt đất đầu tiên khi tai nạn lật máy).

Điểm đặt tải trọng phải ở 1/6 bề rộng của đỉnh kết cấu bảo vệ phòng lật tính từ góc ngoài vào phía trong. Bề rộng của ROPS được lấy là khoảng cách giữa hai đường song song với mặt phẳng trung tuyến dọc của máy kéo và tiếp xúc với điểm ngoài cùng xa nhất của ROPS trong mặt phẳng nằm ngang tiếp xúc với đỉnh của những bộ phận kết cấu ngang cao nhất.

Chiều dài dầm không được nhỏ hơn 1/3 bề rộng của kết cấu bảo vệ phòng lật (như được mô tả ở trên) và không được lớn hơn mức tối thiểu này 49 mm.

Phép thử phải dừng khi:

a) Năng lượng biến dạng được hấp thụ bởi ROPS bằng hoặc lớn hơn năng lượng vào cần thiết, Eil1, tính bằng jun, trong đó:

Eil1 = 1,4.mt

hoặc


b) ROPS xâm nhập vào vùng khoảng trống (xem Điều 9) hoặc mất tác dụng bảo vệ.

7.2.3. Tải trọng từ phía bên

Tải trọng phải được tác động từ phía bên theo phương ngang pháp tuyến với mặt phẳng trung tuyến dọc. Nó phải được tác động vào phần phía trên cùng của kết cấu bảo vệ phòng lật tại điểm thông thường cách 85 mm (xem Hình 3) về phía trước của SIP (xem Hình 3 và Điều 8), hoặc lấy điểm giữa đoạn thẳng nối các SIP theo hai hướng lái đối với máy kéo có thể đảo vị trí người lái.

Nếu chắc chắn rằng phần đặc biệt nào đó của phía bên buồng lái sẽ tiếp xúc mặt đất đầu tiên khi máy kéo lật sang bên, thì tải trọng phải tác động vào điểm đó miễn là nó cho phép phân bố tải trọng đồng đều như quy định trong 7.2.1. Trường hợp kết cấu hai trụ, tải trọng phía bên phải được tác động tại phần kết cấu cao nhất ở phía bên, không phụ thuộc vào SIP.

Chiều dài dầm càng dài càng tốt, nhưng tối đa là 700 mm.

Phép thử phải dừng khi:

a) Năng lượng gây biến dạng được hấp thụ bởi ROPS lớn hơn hoặc bằng năng lượng vào cần thiết, E­is, tính bằng jun, trong đó:



E­is = 1,75.mt

hoặc


b) ROPS xâm nhập vào vùng khoảng trống (xem Điều 9) hoặc mất tác dụng bảo vệ.

7.3. Thử phá hủy

7.3.1. Phá hủy phía sau

Dầm phải đặt ngang qua bộ phận kết cấu cao nhất phía sau và lực phá hủy tổng hợp phải đặt trong mặt phẳng tham chiếu thẳng đứng. Tác động lực, Fr, trong đó Fr = 20 mt, tính bằng niu tơn. Lực được duy trì tối thiểu 5 s sau khi dừng quan sát bất kỳ dịch chuyển nào của ROPS.

Trường hợp phần phía sau mái che của kết cấu bảo vệ phòng lật không chịu được lực phá hủy đầy đủ, thì tác động lực cho đến khi mái che biến dạng trùng với mặt phẳng nối phần trên của ROPS với phần sau của máy kéo có khả năng đỡ khối lượng máy kéo khi bị lật. Sau đó dừng tác động lực, đặt lại vị trí máy kéo hoặc tải trọng để dầm đặt trên ROPS tại điểm sẽ đỡ phía trước máy kéo khi bị lật hoàn toàn và tác động lực đầy đủ.

7.3.2. Phá hủy tại phía trước

Dầm phải đặt ngang qua các bộ phận kết cấu cao nhất phía trước và hợp lực phá hủy phải được đặt trong mặt phẳng tham chiếu thẳng đứng. Tác động lực, Ff, trong đó Ff = 20 m­t, tính bằng niu tơn. Lực được duy trì tối thiểu 5 s sau khi không nhìn thấy bất kỳ sự dịch chuyển nào của ROPS.

Trường hợp phần phía trước mái che của kết cấu bảo vệ phòng lật không chịu được lực phá hủy đầy đủ, thì tác động lực cho đến khi mái che biến dạng trùng với mặt phẳng nối phần trên của ROPS với phần trước máy kéo có khả năng đỡ khối lượng máy kéo khi bị lật. Sau đó dừng tác động lực, đặt lại vị trí máy kéo hoặc tải trọng để dầm đặt trên phần của ROPS mà sẽ đỡ phía sau máy kéo khi bị lật hoàn toàn và tác động lực đầy đủ.

7.4. Tải trọng thứ hai theo chiều dọc

Tải trọng thứ hai theo chiều dọc được tác động theo hướng ngược lại và ở góc xa nhất, tải trọng theo chiều dọc theo 7.2.2, nếu không thì theo 7.2.1.

Phép thử phải dừng thử khi:

a) Năng lượng gây biến dạng được hấp thụ bởi ROPS bằng hoặc lớn hơn năng lượng vào yêu cầu, Eil2, tính bằng jun, trong đó:



Eil2 = 0,35.mt

hoặc


b) ROPS xâm nhập vào vùng khoảng trống (xem Điều 9) hoặc mất tác dụng bảo vệ.

8. Điểm chỉ báo chỗ ngồi

Điểm chỉ báo chỗ ngồi (SIP) được xác định theo ISO 5353.

Đối với ghế ngồi có giảm xóc, nếu nhà chế tạo có hướng dẫn thì phải tuân theo để điều chỉnh hệ thống giảm xóc. Mặt khác, hệ thống giảm xóc của ghế ngồi phải được đặt ở điểm giữa hành trình dịch chuyển của hệ thống giảm xóc. Sau khi lắp ghế ngồi lên máy kéo, điểm chỉ báo chỗ ngồi (SIP) sẽ trở thành một điểm cố định đối với máy kéo và không di chuyển cùng với ghế ngồi trong phạm vi điều chỉnh ngang và dọc của ghế.




  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương