IV. Tiến triển công nghệ tạo mạng diện rộng wan



tải về 19.25 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu30.08.2016
Kích19.25 Kb.
IV. Tiến triển công nghệ tạo mạng diện rộng - WAN.

Dịch vụ

Công nghệ

Router

X25

Frame Relay

ATM

Truyền số liệu

LAN to LAN



x

x


x

x


x

x


x

x


Tiếng nói

 

 

x

x

Video

 

 

 

x

Bảng 1: Các dịch vụ sử dụng trên các mạng WAN với các công nghệ khác nhau .

Trên bảng 1 chúng ta có thể thấy rõ tiến triển của công nghệ mạng WAN và kèm theo là khả nǎng phát triển các dịch vụ trên đó. Hiện tại X25, Frame relay và ATM là những mạng công cộng (mạng trục) mang tính kế thừa điển hình cho các mạng WAN phát triển. Công nghệ Frame Relay hiện nay đang dùng phổ biến là 2Mb nên chưa được sử dụng nhiều cho Voice , tuy nhiên cũng đã có nhiều mạng Frame relay đã sử dụng tới 34 Mb (E3) và 45 MB (T3) để có thể kết hợp cả tiếng nói, ví dụ ở Hình vẽ 11.



Hình vẽ 11: Các dịch vụ kết hợp của một công ty trên Frame relay.

Mối quan hệ giữa 3 loại công nghệ X25, Frame Relay và Cell Relay (cơ sở của ATM) rất chặt chẽ được phát triển mang tính kế thừa cả về phần giao thức, phần mềm và chế tạo phần cứng. Biểu đồ sau của tạp chí (Diễn đàn Frame Relay thế giới - Frame Relay Forum ) minh hoạ cho sự tiến triển ấy. Hình vẽ 12.


Số người sử dụng

^
|
|


|
|



 

1990                             1993                            1995                            1997

Hình vẽ 12: Sự phát triển của các công nghệ.

Đầu tiên Frame Relay là một phần của ISDN, do vậy nó dùng giao thức LAP - D như đã nói ở trên, đồng thời Frame relay được hình thành dựa trên giao thức X25. Cell Relay - chuyển tải Tế bào là cơ sở cho dịch vụ B-ISDN (mạng đa dịch vụ bǎng rộng) thực hiện trên công nghệ ATM - Asynchronous Transfer Mode.

Mục đích của ATM là gom và chuyển tải tất cả các loại hình dịch vụ như số liệu, âm thanh, hình ảnh, video, truyền hình cáp - CATVv.v... trên một đường kết nối tốc độ cao. ATM và Frame relay giống nhau ở một số điểm cơ bản sau.


  • Cả hai đều được thiết kế để hoạt động trên đường truyền dẫn có chất lượng cao.

  • Kết nối cuộc liên lạc theo kiểu chiếm giữ kênh (Connection oriented), [trong thực tế còn kiểu kết nối không chiếm kênh (Connectionless oriented) được thực hiện nhiều trên Internet].

  • Có thể chia sẻ độ rộng bǎng - Bandwith , thực chất là mượn Bandwith của người khác khi họ chưa dùng đến.

  • Cả hai đều dùng thủ tục ISDN Q.931/Q.933 khi thiết lập cuộc gọi .

Công nghệ ATM đã chứng tỏ được tính ưu việt của nó trong việc tích hợp được tất cả các loại hình dịch vụ, một mạng trục lý tưởng kết nối các "Xa lộ thông tin", do vậy tiến tới ATM là mục đích chung của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông nhưng vẫn tận dụng được mọi khả nǎng của Frame Relay không những truyền số liệu mà cả các dịch vụ khác như Voice và Video trên mạng ATM (Tuy vậy hiện tại cũng đã có những tuyên bố rằng công nghệ chuyển mạch Phôtông - Photonic Swicthing Technology có khả nǎng chuyển tải siêu cao tốc đến Gigabit hay Terabit trong tương lai gần sẽ đưa ATM vào phòng trưng bày các công nghệ đồ cổ. Đấy là chuyện của tương lai, còn bây giờ chưa phải là tương lai). Trên mạng này Frame Relay chỉ đóng vai trò là một giao thức truy nhập cho dịch vụ truyền số liệu. Số liệu từ Frame Relay sang mạng ATM phải qua một thiết bị gọi là Lớp tương thích ATM ( AAL - ATM Adaptation Layer ) đổi từ khung frame sang tế bào ATM cell và đổi trở lại tại phía thu. Hình vẽ 13.

Hình vẽ 13: Con đường hoà nhập Frame relay và Cell relay.



Từ cơ sở kế tục của giao thức mà dẫn đến các nhà cung cấp thiết bị như Alcatel hoặc Nortel đã sản xuất trên cùng một tổng đài truyền số liệu có thể chạy cả X25 và Frame relay, hoặc trên cùng một tổng đài chuyển mạch có thể chạy cả Frame relay lẫn ATM, rất thuận tiện cho việc hoà nhập và kế thừa




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương