Bài 8: thức mạt-na (manas) nguyên văn chữ HÁN



tải về 95.86 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu02.09.2016
Kích95.86 Kb.

Bài 8: THỨC MẠT-NA (MANAS)

  1. NGUYÊN VĂN CHỮ HÁN

已說初能變。第二能變其相云何。頌曰
 次第二能變  是識名末那
  依彼轉緣彼  思量為性相.5
 四煩惱常俱  謂我癡我見
  并我慢我愛  及餘觸等俱.6
 有覆無記攝  隨所生所繫
  阿羅漢滅定  出世道無有.7


DỊCH NGHĨA

Đã trình bày thức năng biến thứ nhất. Bản chất của thức năng biến thứ hai là gì? Kệ tụng trình bày như sau:

5.Thứ đến, thức năng biến thứ hai. Thức này tên là Mạt-na. Nó hoạt động y kia và duyên kia. Tính tướng của nó là tư lương.

6. Nó thường cùng với bốn phiền não, là: ngã si, ngã kiến, cùng ngã mạn và ngã ái. Và cùng với các thứ khác, xúc, v.v…

7. Nó thuộc vô ký hữu phú; ràng buộc vào nơi thọ sinh; không có nơi A-la-hán, trong diệt định, và xuất thế đạo.

  1. ĐỊNH DANH MẠT NA THỨC ( 次第二能變 . 是識名末那)

 


Thức năng biến thứ hai là nêu lên thể tánh của nó. Thức ấy gọi là Mạt-na (Manas-vijñāna).

Thức Mạt na tiếng Phạn là Manas- vijñāna (末那識). Manas nghĩa là Ý. Vijñāna nghĩa là Thức.

Dịch là Ý thức. Nếu dịch là Ý thức thì trùng tên với thức thứ sáu, nên vẫn giữ lại tên Mạt-na để dễ phân biệt. Thức thứ sáu và bảy tuy cùng tên, nhưng ý nghĩa không giống nhau. Thức thứ bảy là ý căn, là nơi để thức thứ sáu nương vào.

Thức thứ bảy gọi là ý mà không gọi là ý thức, vì ba nguyên nhân sau:



  1. Nếu gọi là ý thức, thì lẫn lộn với thức thứ sáu.

  2. Theo Du già (63 (tr. 651b19), các thức đều có tên chung là Tâm - Ý - Thức. Về thể, tuy là một, nhưng giải thích ý nghĩa thì khác nhau. Vì căn cứ theo tính ưu thắng, thức A-lại-da tích luỹ chủng tử của tất cả các pháp, và sinh khởi hiện hành nên gọi là Tâm (citta); Mạt-na được gọi là Ý, vì trong tất cả thời gian, nó suy nghĩ, so đo, chấp ngã, ngã sở. Các thức còn lại gọi chung là Thức (vijñāna), vì đặc tính của chúng là phân biệt và nhận thức các đối tượng riêng biệt. Huân tập hiện hành thì thức thứ bảy không bằng thức thứ tám, phân biệt thì không bằng thức thứ sáu. Vì suy nghĩ, so đo của thức thứ bảy vượt trội hơn các thức khác, nên gọi là Ý.

  3. Thức thứ bảy là nơi nương tựa của thức thứ sáu, nên thức thứ sáu mới gọi là ý thức. Chỗ nương ấy là ý căn, thức thứ bảy, nên gọi tên là ý.

Vận hành không ngưng nhưng có chuyển dịch nên gọi là chuyển thức. Mạt-na thức là cái bóng của A-lại-da; A-lại-da có mặt là Mạt-na có mặt. Tất cả văn hoá, ngôn ngữ,… của con người, cộng đồng tích tập trong A-lại-da bị Mạt-na chấp làm cái ngã, xem những chủng tử cộng đồng là của mình. Nên khi ai xúc phạm vào văn hoá cộng đồng thì Mạt-na liền phản ứng lại.

Sự tích tập của Mạt-na kém hơn Tâm, vì đặt nặng chọn lựa. Trong khi tâm không nắm giữ, thì đối với Mạt-na, buông bỏ hay nắm giữ, yêu thương hay ghét bỏ, duy trì hay phá bỏ… đều do thức Mạt-na này chủ động thực hiện.

Liễu biệt của nó kém hơn các thức khác (sáu thức trước). Vì nó không trực tiếp giải quyết các vấn đề nhận thức, nghe, nếm, ngửi, xúc chạm… các đối tượng bên ngoài. Mạt-na là ngưỡng cửa của căn nhà, mọi người chủ hay khách đều phải đi qua ngưỡng cửa này. Nó ở ngay cửa để giữ gìn các hạt giống. Người gác cỗng chùa, người nấu ăn, thị giả, dễ dàng thấy mình người quan trọng, đòi hỏi những vấn đề giấy tờ khi vào cơ quan, hỏi kỹ khi ai vào chùa, có việc gì để gặp thầy trụ trì… Mạt na nhân danh trách nhiệm để duy trì ngã chấp.

Ý căn (意根): Sở y của ý thức để nhận thức vạn pháp. Còn gọi là thắng nghĩa căn.

Truyền tống thức (傳送識): Thu nhận ảnh tượng vào nội tâm và cất giữ ở A-lại-da sau khi được ý thức nhận thức. Đồng thời, chuyển ảnh tượng từ A-lại-da trình diện ý thức để hồi tưởng. Thích thì thu nạp, không thích thì tống khứ. Khuynh hướng thái độ, thành kiến, kiến chấp, phân ranh giới nhị nguyên

Câu sinh ngã chấp (俱生我執): A-lại-da theo nghiệp lực thọ sanh vào cõi nào thì Mạt-na bám theo đó làm ngã.



  1. SỞ Y CỦA MẠT NA (依彼轉)1

Duyên bỉ là chỉ cảch sở duyên của thức Mạt-na. Bỉ (kia) là chỉ cho thức A-lại-da. Đối Pháp Luận, quyển 2, nói: Ý thì luôn luôn duyên thức A-lại-da, nên A-lại-da là cảnh sở duyên của Mạt-na. Nói cách khác, sở y của tập khí của Mạt-na là A-lại-da; do y chỉ trên đó mà nó vận hành, sinh khởi liên tục tiếp nối.2 Nên nói rằng thức này y chỉ nơi tàng thức. Do có A-lại-da mà có Mạt-na.3

Do đó, Mạt-na phát sinh từ Căn bản thức (A-lại-da), thức thứ bảy không là một thực tại độc lập. Mạt-na là thức, nên nó cũng cần có căn. Nó nương trên A-lại-da để phát hiện nên được gọi là chuyển thức. Chuyển thức là một nhận thức được sinh khởi, chuyển hiện từ thức căn bản. Có tất cả bảy chuyển thức (evolving consciousness) và một căn bản thức.

Theo Duy thức học, thức có ba phần: Kiến phần (subject: chủ thể), tướng phần (object: đối tượng), tự chứng phần (bản chất của thức); cũng giống như cái đĩa, mặt trên và mặt dưới (kiến và tướng), và cái chất là ra đĩa là tự chứng phần. Nếu không có chất làm ra đĩa thì cũng không có mặt trên và mặt dưới.

Tướng phần của A-lại-da sự biểu hiện của thức này thành ra thế giới vạn vật, tất cả những gì thuộc về đối tượng nhận thức của mình là tướng phần. Kiến phần là việc duy trì chủng tử, duy trì hiện hành. Kiến cũng là tướng.

Chuyển4 có nghĩa là lưu chuyển; hiển thị thức này hằng y chỉ thức kia, vì lấy đó làm điểm tựa.

Ngài Hộ Pháp cho rằng thức thứ bảy luôn luôn duyên kiến phần của thức thứ támkhởi lên chấp ngã. Vì thức thứ tám, một loại tương tục từ xưa cho tới nay, dường như thường; lại là chỗ nương tựa của các pháp, dường như có tác dụng chủ tể, cho nên cho là có một cái ngã thật (thật ngã).

Tại sao nói Mạt-na duyên kiến phần của A-lại-da? Bởi tác dụng thọ nhận cảnh, kiến phần được lộ rõ. Đó là lý do, thức thứ bảy chỉ duyên kiến phần của thức thứ tám.

Mạt-na thức và A lại da thức có mối quan hệ mật thiết với nhau, đưa đến nương tựa vào nhau. Mạt na thức nương vào A lại da thức, nên Mạt na là Năng y, A lại da là Sở y. Cả hai nương vào nhau, cũng giống như tám thức Tâm vương và các Tâm sở đều có chỗ nương tựa. Như cỏ cây lấy đất làm chỗ nương tựa, lìa xa đất chúng không thể sinh trưởng, tồn tại, đứng vững… Sở y của thức có ba thứ: Nhân duyên, Tăng thượng duyên, và Đẳng vô gián duyên.


  1. Nhân duyên y (因緣依: dựa vào nhân duyên) dựa vào nhân duyên cũng gọi là dựa vào chủng tử, vì điểm sở y là chủng tử, nên gọi là chủng tử y hay là bản thân chủng tử. Ví như hạt lúa là nhân duyên sinh ra cây lúa. Tất cả Tâm pháp, Sắc pháp đều có chủng tử của nó và chứa trong A lại da thức, chờ duyên khởi lên hiện hành. Nên các pháp hữu vi đều nương vào Nhân duyên y mới có thể sinh khởi. Chủng tử có khả năng sinh ra hiện hành, nên gọi là Nhân duyên.

Nan-đà và Tối Thắng Tử cho rằng: phải đợi chủng tử diệt, hiện quả mới được sản sinh.

Ngài Hộ Pháp cho rằng chứng lý ấy không đứng vững. Nếu chủng tử diệt rồi mầm mới sinh không phải là điều đã được công nhận. Vì lửa và bấc đồng thời làm nhân cho nhau. Tuy nhiên, với chủng tử đồng loại, nhân quả không đồng thời hiện hữu. Chủng tử và hiện hành sinh sản lẫn nhau, nhất định chúng đồng thời hiện hữu. Chủng tử và quả của nó tất đồng thời hiện hữu. Chủng tử y không có tính tiền hậu.



  1. Tăng thượng duyên y (增上緣依) đó là sáu nội xứ. Kiến phần của A-lại-da đóng vai trò tăng thượng duyên, những điều kiện để Mạt-na có thể căn cứ để tạo ra sở duyên của mình. Các tâm, tâm sở đều tựa và đây làm sở y. Cũng gọi là Câu hữu y (俱有依). Tăng thượng là thêm lên cái hiệu quả của nó, thúc đẩy sự phát triển của nó. Những điều kiện giúp cho nhân duyên phát triển. Như nắng mưa, phân bón,… giúp cho cây lúa phát triển. Có cả “Thuận tăng thượng duyên và Nghịch tăng thượng duyên”. Không phải lúc nào nghịch tăng thượng duyên cũng là xấu. Câu hữu y là y chỉ trên sự kiện (nhân quả) đồng thời hiện hữu; nhân quả lẫn nhau, nương tựa, giúp đỡ lẫn nhau. Như nhãn thức dựa vào nhãn căn, mà nhãn căn lại dựa vào nhãn thức. Thiếu một thì hai cái không có tác dụng.

Theo ngài Hộ Pháp, Y có nghĩa là tất cả các pháp có sinh diệt đều tựa trên nhân, gá vào duyên, mà được sinh sản và tồn tại. Những gì cần tựa gá được gọi là y. Như vua và bầy tôi nương tựa lẫn nhau.

Chỉ gọi tâm, tâm sở là cái có sở y, chứ không nói các pháp như sắc v.v., vì chúng không có sở duyên. Tâm sở lấy tâm làm sở y chứ không nói tâm lấy tâm sở làm sở y, vì chúng không làm chủ.



Năm thức đều có sở y, gồm năm sắc căn, thức thứ sáu, thứ bảy và thứ tám. Nếu khuyết một trong số đó, chúng không hoạt động. Khi nói năm thức duy chỉ y năm căn, đó là do tính chất đặc hữu.

Thức thứ sáu chỉ có hai câu hữu y. Đó là thức thứ bảy và thứ tám. Khuyết một trong đó, nó không hoạt động.

Thứ thứ bảy chỉ một câu hữu y, là thức thứ tám. Nếu không có tàng thức, nó nhất định không hoạt động.

A lại da chỉ có một câu hữu y, là thức thứ bảy. Nếu không có thức thứ bảy, nó nhất định không hoạt động.



  1. Đẳng vô gián duyên y (等無間緣依), cũng gọi là Khai đạo y, điểm sở y là cái mở đường. Sự biến mất của cái đi trước là điều kiện mở đường cho cái đi sau xuất hiện. Đẳng vô gián là: Niệm trước niệm sau tương tợ gọi là đẳng. Liên tục, không dứt quãng là vô gián. Dựa vào Đẳng vô gián là chỗ nương tựa của niệm trước làm niệm sau. Niệm trước mới diệt, niệm sau liền sanh không một chút gián đoạn, nên gọi là Đẳng vô gián duyên. Đã là Tâm pháp (gồm Tâm vương và Tâm sở) đều là như thế. Khai đạo y là, trong một sát na, Tâm pháp không có hai thể cùng khởi lên. Cho nên, chờ niệm trước diệt, nhường hiện hành xuất hiện, niệm sau mới khởi lên.

Cũng theo ngài Hộ Pháp, Khai đạo y, đó là pháp có duyên, chủ động, làm điều kiện đẳng vô gián. Nó mở đường, nhường lối cho tâm, tâm sở pháp tiếp theo sau được dẫn sinh, nên gọi nó là Khai đạo y. Sở y này chỉ thuộc tâm, chứ không phải tâm sở các thứ (tâm sở, sắc pháp, bất tương ưng hành, vô vi)

Tóm lại, Mạt-na là một chuyển thức, có gốc rễ từ thể A-lại-da, phát hiện ra thành một tác dụng nhận thức và đối tượng của nó là kiến phần của A-lại-da. Nó ôm lấy một phần của A-lại-da và cho đó là ngã của nó.

  1. SỞ DUYÊN CỦA MẠT NA THỨC (緣彼: Lấy kia làm đối tượng)5

Thức Mạt-na lấy tàng thức làm đối tượng. Ý chỉ duyên kiến phần của tàng thức chứ không cái gì khác. Vì nó hằng là sở y cho các pháp. Vì nó duy chỉ chấp thức thứ tám làm tự ngã nội tại.

Trong giai đoạn chưa chuyển y, Mạt-na chỉ duyên tàng thức làm đối tượng. Khi đã được chuyển y, nó cũng duyên chân như và các pháp khác, vì trí bình đẳng chứng đắc mười tính bình đẳng (quả tu tập của mười địa, mỗi địa chứng đắc một bình đẳng tính), vì biết rõ những sai biệt về trình độ nhận thức của các hữu tình nên thị hiện nhiều loại hình tượng Phật khác nhau.

Trong ba tánh: tánh cảnh (性境: the realm (lãnh vực) of things in themselves), đới chất cảnh (帯質境: the realms of representations: tượng trưng, đại diện) và độc ảnh cảnh (獨影境: the realm of mere images), thì cảnh của thức thứ tám là tánh cảnh. Nó duy trì, nuôi nấng, và biểu hiện bằng cách trực tiếp, ngay thẳng, không suy luận gì cả.

Đối tượng của Mạt-na là đới chất cảnh, là hình ảnh về sự vật, chứ không phải là bản thân sự vật. Dựa vào tánh cảnh (sự vật) mà Mạt-na vẽ riêng theo ý mình, tức chỉ là bản sao về sự vật. Đó không là tự thân của tánh cảnh. Đó là một sáng tạo phẩm của bản thân nó căn cứ trên tánh cảnh. Thành ra đối tượng của sự chấp ngã, đeo bám, ôm ghì của Mạt-na không phải là bản thể của A-lại-da mà là hình ảnh do Mạt-na tạo ra từ sự biến kế của nó.

Đới là đèo theo, mang theo, đem theo, nó có ảnh hưởng của bản chất. Đới chất có nghĩa là không phải tự thân của bản chất, nhưng có mang theo một ít chất liệu của bản chất, gọi là đới chất. Do đó, đối tượng của Mạt-na không phải là tánh cảnh, tức là thực tại bản thân mà chỉ là đới chất cảnh. Tức là đối tượng được tạo ra do sự giao thoa giữa A-lại-da và Mạt-na.

Đối tượng của Mạt-na là ngã tướng, đới chất. Ngã tướng là (image of itself) là một cái ta. Nhưng nó chỉ là đới chất cảnh (representation chứ không phải reality). Triết học gọi là ý tượng. Đó chỉ là những ý tượng, những hình tượng trong ý mình. Những ý tượng này không giống như các sự vật ở ngoài.

- Tùy duyên chấp ngã, lượng vi phi (隨缘執我量為非).

- Hằng thẩm tư lương ngã tướng tuỳ (恒審思量我相隨) (Bát thức quy cũ)

Mạt na cũng có mang theo cả Phật và ma, cả phiền não lẫn bồ đề, mặc dù nó bị che lấp bởi phiền não (hữu phú), nhưng nó cũng là vô ký.

Sự ngộ nhận của Mạt-na là xem bản sao (đới chất cảnh) với tánh cảnh là một. Đây là ngã tướng đới chất (mình với ta tuy hai là một, ta với mình tuy một mà hai). Nó xem chính nó với các chủng tử tuy hai là một, từ ngộ nhận này, nó chấp ngã. Cũng vậy, người giữ kho và hàng hoá không thể là một.


  1. TÁNH TƯỚNG CỦA MẠT NA: (思量為性相:Lấy tư lương làm tánh tướng)6

Thức thứ bảy được gọi là chuyển thức, được chuyển hiện từ căn bản thức. Thức căn bản như là biển cả, còn chuyển thức thì như những đợt sóng, nó phát sinh từ biển cả vậy.

Thức thứ bảy còn gọi là nhiễm tịnh y, là căn bản của nhiễm và tịnh. Tức là thức thứ bảy là nền tảng tịnh và nhiễm cho sáu thức khác. Nếu Mạt-na bị nhiễm quá nhiều, thì sáu thức kia cũng bị nhiễm, và ngược lại.

Thức thứ bảy làm chỗ y cứ, nền tảng cho hành động.

Tụng nói, “Tự tánh và hành tướng của nó là tư lương.” Tức nó có bản chất là tư lương, và đó cũng là hình thái hoạt động của nó. Vì cái thẩm sát và tư lương ấy mà thức thứ bảy được gọi là Mạt na. Vì trước giai đoạn chuyển y nó hằng thẩm sát và tư lương trên ngã tướng được chấp trước.

Thức này luôn ôm chặt kiến phần của thức thứ tám làm ngã, mới có tác dụng là suy nghĩ, so đo. Đó là hành tướng của kiến phần thức thứ bảy. Vì thể tánh của thức Mạt-na vi tế khó biết, cho nên lấy dụng làm rõ thể, lấy suy nghĩ, so đo làm thể tánh của nó.

Tư là suy nghĩ lo lắng; lương là độ lượng (đo và lường) cảnh duyên của thức. Đã có phân biệt thì có tư lương (mentation, cogitation).

Mạt-na đêm ngày chỉ làm cái việc ôm ghì, níu lấy. Đối tượng của Mạt-na không phải là tướng phần (object) của thức A-lại-da mà nó ôm kiến phần (subject) của A-lại-da. Cố nhiên, kiến cũng như tướng phần. Vì trong kiến có tướng. Nhưng ở đây nói rõ là kiến phần, tức phần chủ thể của A-lại-da. Kiến phần là đối tượng để Mạt-na níu lấy làm ngã.

Tư lương đều có mặt trong tám thức, nhưng tại sao ở đây chỉ đặc biệt nêu lên tác dụng tư lương của thức thứ bảy? Bởi vì thức thứ tám thì tập khởi (huân tập, hiện hành) nên gọi là tâm, tư lương (suy nghĩ, lo lắng, đo lường) gọi là Ý; Liễu biệt (phân biệt chi ly) gọi là thức. Tác dụng của Ý là tư lương, hơn nữa tư lương của Mạt-na là hằng thẩm tư lương.



Hằng (always: ) là luôn luôn. Thẩm (reflection: 審) là thẩm sát (tra xét kỹ càng). Mạt na thức luôn luôn thẩm sát tư lương (tra xét kỹ càng, suy nghĩ, lo liệu và đo lường).

Thẩm ở đây là tư lương. Tư lương là níu lấy kiến phần làm ngã. Cái yêu thương thì níu kéo, cái ghét thì bỏ. Những tính toán của Mạt-na thường có sự sai lầm, thiếu trí tuệ.

Năm thức trước thì không có thẩm sát tư lương, nên nói tư lương mà không hằng không thẩm. Tư lương của thức thứ sáu thì có lúc gián đoạn, nên nói tư lương có thẩm mà không hằng. Thức thứ tám liên tục, không gián đoạn, nhưng tác dụng tư lương của nó không thẩm sát, nên gọi là tư lương mà không hằng không thẩm. Chỉ có thức thứ bảy thì tư lương thường hằng và thẩm sát. Vì là thức Mạt-na luôn luôn giữ lấy kiến phần của thức thứ tám làm tự ngã mà thẩm sát tư lương.

Thức thứ tám: không thẩm, nhưng hằng chuyển.

Thức thứ bảy: vừa thẩm vừa hằng.

Thức thứ sáu: thẩm mà không hằng.

Ngũ thức: không hằng không thẩm.

Thức thứ bảy vừa thẩm lại vừa hằng, hữu phú mà vô ký. Nó giống với A-lại-da ở chỗ là vô ký. Nhưng khác là A-lại-da là “vô phú vô ký”

Trong việc tu tập, thức thứ tám và bảy là vô ký (không thiện không ác, nên bị thụ động, chỉ có thức thứ sáu chủ động đem ánh sáng chiếu rọi trong căn nhà tối tăm, đem chánh niệm để dừng các tạp niệm, có vậy mới tạo ra sự thay đổi - CHUYỂN Y – transformation at the base.


  1. TÂM SỞ TƯƠNG ƯNG

四煩惱常俱

謂我癡我見


並我慢我愛

及餘觸等俱


Bát Thức Quy Củ Tụng cũng có nói những Tâm sở tương ưng của Mạt na thức rằng:

八大遍行別境慧


貪痴我見慢想隨

Biến hành, huệ và tám đại tuỳ

Tham, si, kiến, mạn quanh ngã tưởng.

Những Tâm sở tương ưng với Mạt na bào gồm:



Tám tâm sở đại tuỳ phiền não: hôn trầm, trạo cử, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, bất chánh tri. Năm tâm sở biến hành: xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư. Tâm sở huệ trong biệt cảnh. Bốn tâm sở căn bản phiền não: tham, si, mạn, kiến. Trong 18 tâm sở này, bốn phiền não (si, kiến, mạn, ái) luôn đi cùng với Mạt na thức.

Kể từ vô thỉ cho đến trước khi được chuyển y, Mạt na, một cách tự nhiên và thường trực, duyên vào tàng thức; cùng tương ưng với bốn phiền não.



  1. Bốn phiền não gồm: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái.

Ngã si tức là vô minh, ngu muội đối với ngã tướng, mê mờ lý vô ngã. Ngã si đứng đầu bốn phiền não. Tất cả phiền não đều do vô minh này mà sanh khởi.

Ngã kiến: Kiến có nghĩa là phỏng đoán, suy luận, lấy huệ làm thể. Kiến của ngã kiến chính là bất chánh kiến của căn bản phiền não. Bất chánh kiến lấy nhiễm huệ làm tánh. Ngã kiến là thân kiến trong năm kiến (thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến), chính là lầm chấp thân do 5 uẩn hoà hợp cho là thật ngã với những thuộc tính thường, độc nhất, chủ tể. Ngã kiến còn gọi là ngã chấp, nó cùng khởi lên, tương tục, duyên thức thứ tám không phải là ngã, mà lầm chấp trước cho là ngã. Ngã có hai: Phân biệt ngã kiến, do tà sư, tà giáo hướng dẫn mà có. Câu sanh ngã kiến7 là cùng có khi sanh ra. Có ngã thân thì có ngã kiến, đời đời không lìa nhau.

Ngã mạn: Mạn là tôn mình lên, xem thường người khác. Ngã mạn là cao ngạo, cậy vào ngã được chấp trước khiến cho tâm bốc cao. Mạn là một trong sáu căn bản phiền não. Mạn có 7 thứ: mạn, quá man, quá quá mạn, ngã mạn, tăng thượng mạn, ty liệt man, tà mạn. Ngã mạn do chấp ngã mà có. Từ chấp ngã tiến lên thành cống cao ngã mạn.

Ngã ái tức là tham lam, đối với ngã được chấp trước mà phát sinh đắm trước sâu. Tham đắm gọi là ái. Ái có bốn thứ: Ái là tự thân đã duyên được mà khởi lên tham ái. Hậu hữu ái: tự thân duyên chưa được mà khởi lên tham ái. Tham hỷ câu hành ái: Cảnh giới đã duyên được mà khởi lên tham ái. Bỉ bỉ hỷ lạc ái: cảnh giới chưa duyên được mà khởi lên tham ái. Bốn loại ái này đều cùng tương ưng với Mạt na thức.

Bốn phiền não này luôn luôn hiện khởi, khuấy đục nội tâm, khiến cho các chuyển thức bên ngoài luôn luôn trở thành tạp nhiễm. Hữu tình do đây mà sinh tử luân hồi, không thể xuất ly, nên gọi là phiền não.

Trong 10 căn bản phiền não (lấy ác kiến mở rộng thành 5 thứ, nên thành 10) chỉ có 4 thứ ái tương ưng với thức thứ bảy, còn lại những tâm sở khác không có quan hệ cùng hoạt động với Mạt na thức. Như Sân thì duyên cảnh trái ngược mà sanh ra, nhưng Mạt na duyên A lại da làm ngã lại là thuận cảnh, nên Sân không có lý do để sinh khởi. Tâm sở nghi cũng thế. Mạt na duyên A lại da làm ngã, là một sự tiếp nối cùng loại, chắc chắn không ngờ vực, nên tâm sở nghi không có lý do sinh khởi. Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ giống với Ngã kiến, lấy tâm sở Huệ làm thể. Trong tâm sở có cùng tính chất, thì không có tâm sở nào nữa sinh khởi. Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiếnNgã kiến phân biệt khởi (Ngã kiến khởi lên khác nhau). Nhưng Ngã kiến tương ưng với Mạt na là Câu sanh khởi không phải Phân biệt khởi, nên không cùng tương ưng. còn lại Biên kiến, tuy cũng là Phân biệt khởi, nhưng ở sau Ngã kiến, sẽ là Biên kiến khởi lên, hoặc luôn luôn, hoặc gián đoạn. Trong khi ấy, Ngã kiến của Mạt na tương ưng là một liên tục, nên Biên kiến, không có lý do sinh khởi.


  1. Các tâm sở khác:

“Cập dư xúc đẳng câu” nói rõ tâm sở tương ưng với Mạt na. Ngoài bốn phiền não trên, còn có năm Tâm sở biến hành (xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư) có mặt ở tất cả tâm. Tám tâm sở Đại tuỳ phiền não (trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, toán loạn, bất chánh tri).biến khắp nhiễm tâm, và Huệ tâm sở trong Biệt cảnh.

Tại sao không có các tâm sở khác?



  1. Năm tâm sở biệt cảnh:

  1. Dục: là hy vọng những điều chưa thoả mãn. Tuy nhiên, Mạt na duyên vào đối tượng mà nó thoả mãn, không có điều gì hy vọng. Vì vậy, không có dục.

  2. Thắng giải ghi dấu ấn trên đối tượng trước kia chưa xác định. Mạt na từ vô thuỷ duyên vào sự thể xác định, đã được ghi dấu ấn. Cho nên nó không có thắng giải.

  3. Niệm là ký ức ghi nhớ sự việc đã trải qua. Thức này hằng duyên vào cảnh được cảm thọ hiện tại, không có gì phải ghi nhớ. Cho nên nó không có niệm.

  4. Định: duy buộc tâm chuyên chú trên một đối tượng. Thức này vận hành tự nhiên mà duyên đối tượng riêng biệt từng sát-na, tức không chuyên nhất. Cho nên nó không có định.

  5. Huệ đây chính là ngã kiến, do đó không nói riêng.

  • Các tâm sở thiện: Các tâm sở thiện vốn là tịnh, nên không cùng chung với thức này.

Các tuỳ phiền não: Các tuỳ phiền não được xác lập do y trên sự sai biệt về phần vị (trạng thái tồn tại, bao hàm ý niệm thời phần) trước sau của phiền não. Thức này thường cùng với bốn phiền não, trước sau đồng nhất loại, không có khác biệt phần vị. Cho nên thức này không cùng với các tuỳ phiền não:

  • Ố tác: hối tiếc những việc đã làm từ trước. Mạt-na vận hành tự nhiên, hằng duyên vào cảnh hiện tại, chứ không hối hận sự việc quá khứ. Nên không có ố tác.

  • Thuỵ miên: thân tâm nặng nề, mê muội, do ảnh hưởng điều kiện bên ngoài. Thức này từ vô thuỷ thường chấp nội tâm, không lệ thuộc điều kiện bên ngoài.

  • Tầm và Tứ: đều hoạt động hướng ngoại, suy tính sâu, cạn, thô, tế, rồi phát động ngôn ngữ. Mạt na chỉ hoạt động hướng nội.

  • Trạo cử: phát triển trong trạng thái tham, nên nói nó là phần tử của tham.

  • Miên (thuỵ miên) và hối (ố tác): phát triển trong trạng thái si, nên được nói là thuộc phần si.

Mười tâm sở khác:

Phẫn,… hành tướng thô động. Trong khi Mạt-na thẩm sát một cách vi tế. Vì vậy chúng không cùng chung.

Vô tàm, vô quý, duy chỉ có tính bất thiện. Trong khi thức này thuộc vô ký.

Tán loạn, khiến tâm dong ruổi ra ngoài. Thức này hằng hướng nội chấp trước.

Bất chánh tri, hướng ngoại phát động các hành vi của thân, ngữ, ý, vi phạm quỹ tắc. Thức này duy chỉ hướng nội chấp trước. Do đó chúng không cùng chung.

  1. Tương ưng thọ:

Khi sinh vào ác thú, nó tương ưng với ưu thọ; vì duyên vào quả được dẫn khởi bởi nghiệp bất thiện.

Sinh vào loài người, Dục giới thiên và tĩnh lự đầu, tương ưng với hỷ thọ; vì nó duyên vào quả của nghiệp thiện và các địa có hỷ.

Ở tĩnh lự thứ ba, nó tương ưng với lạc thọ, vì duyên vào quả của nghiệp thiện và địa có lạc.

Tĩnh lự thứ tư cho đến Hữu đỉnh, nó duy chỉ tương ưng với xả thọ, vì duyên vào quả của nghiệp thiện và các địa có xả.



  1. Ba tính: Thuộc vô ký hữu phú

Hữu phú: vì nó tương ưng với bốn phiền não các thứ. Vì đây là pháp nhiễm ô, chướng ngại Thánh đạo, che khuất tự tâm, cho nên nói là hữu phú.

Vô ký: vì không phải thiện hay bất thiện, nên nói là vô ký. Do định lực mà các phiền não bị đè nén nên chúng thuộc tính chất vô ký; các pháp nhiễm ô lấy thức này làm sở y và cùng tồn tại, chúng vi tế, vận chuyển một cách tự nhiên, nên nói là vô ký.

Thiện: khi Mạt-na được chuyển y, nó chỉ có tính thiện.


  1. Giới hệ8: 隨所生所繫

Các tâm sở tương ưng với Mạt-na, khi Mạt-na sinh ở đâu, thì chúng hệ thuộc vào địa đó.

Giới, Địa là ba cõi, chín địa: Cõi Dục có (1) Ngũ thú tạp cư địa; Cõi Sắc có (2) Ly sanh hỷ lạc địa, (3) Định sanh hỷ lạc địa, (4) Ly hỷ diệu lạc địa, (5) Xả niệm thanh tịnh địa; Cõi Vô Sắc: (6) Không vô biên xứ địa, (7) Thức vô biên xứ địa, (8) Vô sở hữu xứ địa, (9) Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa. Đây là phân loại theo cõi hữu lậu.

Hệ là trói buộc, bị phiền não trói buộc ở một giới địa nào đó. “Tuỳ sở sanh sở hệ”: “Sở sanh” là năng biến thứ nhất A-lại-da. Tàng thức dị thục hiện khởi và hiện tiền tại địa nào, Mạt-na nhiễm ô duyên vào đó mà chấp là ngã tức hệ thuộc vào đó, nên nói là hệ thuộc vào đó. Nói cách khác, A-lại-da là chủ thể của luân hồi trong ba cõi, chín địa, bốn loài, sáu nẻo. Thức thứ bảy lấy thức thứ tám làm nơi nương tựa, nên thức thứ tám sanh ở cõi địa nào, thì thức thứ bảy cũng bị trói buộc ở cõi đó, địa đó.

Nó cũng bị hệ phược bởi các phiền não trong địa đó nên nói là hệ thuộc vào đó.

Nêu đã được chuyển y, nó là phi sở hệ.


  1. Phân Biệt Về Khởi Diệt: 阿羅漢滅定;出世道無有.

Khởi và Diệt là sanh khởi và đoạn diệt. Tuy nói là khởi, diệt, nhưng thực ra là đoạn diệt. Đến địa vị A- la-hán, diệt định, và vị xuất thế thì Mạt-na nhiễm ô đã chế phục và diệt sạch (vô hữu).

Vị A la hán: là quả Tam thừa vô học. Ngay lúc Trí vô lậu xuất hiện, chủng tử và hiện hành của nhiễm ô của Mạt-na vĩnh viễn bị đoạn diệt. Từ đó vĩnh viễn không tái sanh, vĩnh viễn vào Niết-bàn. Cho nên nói là Mạt-na không tồn tại.

Ở vị này, tuy chủng tử phiền não (Sanh ngã chấp) vĩnh viễn đoạn diệt, nhưng vẫn còn phiền não pháp chấp. Ở đây chỉ đề cập đến A-la-hán, mà không nói đến Bồ-tát. Vì Bồ-tát ở địa thứ tám về trước còn pháp câu sanh ngã chấp chưa trừ, nên Mạt-na vẫn còn ô nhiễm.



Vị Diệt định: Diệt định tức diệt tận định, cũng gọi là diệt thọ tưởng định.9 Ở vị này, tâm, tâm sở của sáu thức trước không khởi lên hiện hành. Tâm, tâm sở nhiễm của Mạt-na cũng diệt mất. Diệt tận định này là đẳng lưu quả của sanh không trí hoặc pháp không trí (Thánh đạo), là định vô lậu vắng lặng, không phải là nhiễm ô của thức Mạt-na. Mạt-na tạm thời bị trấn phục trong diệt tận định của bậc hữu học, và trong xuất thế đạo10; do đó nó không tồn tại.

Vị Xuất thế đạo: chữ đạo ở vị này là trí vô lậu (trí xuất thế gian). Vì vậy, xuất thế đạo là trí quán, chỉ cho sau khi hiện hành căn bản tríhậu đắc trí. Phiền não của thức thứ bảy vốn vi tế, trí hữu lậu không thể chế phục và diệt trừ được, chỉ có trí quán vô lậu mới có thể chế phục và diệt trừ được. Khi đạt được hai trí (Căn bản pháp không và Hậu đắc) thì pháp ngã chấp bị chế phục và tiêu trừ. Nói cách khác, đến kiến đạo vị trở lên, thì thức Mạt-na đã chuyển thức thành trí.

Hai vị diệt định và xuất thế, hiện hành của nhiễm ô Mạt-na từ từ chế phục và diệt trừ, nhưng chủng tử thì chưa diệt trừ hoàn toàn.



Ba vị trên, tuy có tạm chế phục và vĩnh viễn diệt trừ chủng tử phiền não không giống nhau, nhưng đến đây Mạt-na thức không còn nhiễm ô. Từ phàm phu đến thánh quả cứu cánh, Mạt-na phải trải qua ba ngôi vị nhiễm, tịnh: Sanh ngã kiến tương ưng vị, Pháp ngã kiến tương ưng vị, Bình đẳng tánh trí tương ưng vị.

  1. Sanh ngã kiến tương ưng vị: Ngã chấp này sanh ra từ thức Mạt-na duyên Kiến phần của A-lại-da. Vì có ngã chấp nên tâm hữu lậu của tất cả phàm phu, Nhị thừa hữu học, Bồ-tát thất địa trở lên, đều được thu nhiếp vào vị này.

  2. Pháp ngã kiến tương ưng vị: Ở vị này pháp chấp chưa hết. Tất cả phàm phu, Nhị thừa, Duyên giác, Bồ-tát chưa đến Địa hiền tiền của quả pháp không trí, đều thu nhiếp vào đây.

  3. Bình đẳng tánh trí tương ưng vị: Bồ tát ở vị kiến đạo, vị tu tập, quả pháp không trí đã xuất hiện, chứng được Phật quả đều thu nhiếp vào đây.

Trong ba vị, hai vị đầu là Hữu lậu, vị thứ ba là Vô lậu. Trong hai vị Hữu lậu: Vị thứ nhất là vị nhiễm ô, vị thứ hai là vị không nhiễm ô.



1 Nương vào A-lại-da, phát hiện thức Mạt-na. Tác dụng là tư lương, níu lấy tàng làm ngã.

2 Triṃśa.

3 Du già 51 (tr. 580b14).

4 Nó chuyển, có nghĩa là nó xuất hiện một cách liên tục tiếp nối.

5 Đối tượng của Mạt-na là ngã tướng đới chất, phát sinh từ giao thoa giữa ý và tàng thức.

6 Vì sáu chuyển thức khác, đóng vai trò nhiễm tịnh y. Vừa thẩm lại vừa hằng. Hữu phú mà vô ký.

7 Câu sanh ngã kiến có hai loại: (1) luôn luôn tiếp nối và (2) có gián đoạn. Luôn luôn tiếp nối thì tương ưng với thức thứ bảy, có gián đoạn thì tương ưng với thức thứ sáu. Ngã kiến do phân biệt khởi lên thì chỉ tương ưng với thức thứ sáu.

8 Du-già 51cho rằng (tr. 580b): “Do có a-lại-da nên có Mạt-na … Do Mạt-na này, trong trạng thái vô tâm hay hữu tâm, luôn luôn cùng vận hành với A-lại-da, duyên vào A-lại-da làm cảnh giới.”  Hiển dương 1 (tr. 480c23): “Ý, được sản sinh từ chủng tử trong thức A-lại-da, rồi trở lại lấy thức đối làm đối tượng sở duyên.” Tạp tập 2 (tr. 702a06): “Ý, trong tất cả thời, duyên vào thức A-lại-da. Bản chất của nó là tư duy (tư độ).”


9 Diệt tận định mà một vị A-na-hàm thuộc bậc hữu học chứng đắc.

10 Xuất thế đạo, cũng gọi là vô lậu đạo.








Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương