PHẬt giáo nguyên thủy và phật giáO ĐẠi thừa a. Phần lịch sử



tải về 203.25 Kb.
trang2/2
Chuyển đổi dữ liệu26.05.2018
Kích203.25 Kb.
1   2

IV. Giáo lý Bồ tát (Bodhisattva doctrine):

a. Định nghĩa thuật ngữ Bồ-tát (Pāli:Bodhisatta- Sanskrit: Bodhisattva)


“Bodhisattva” (bồ-tát) có hai phần cấu thành; đó là bodhi và satta hay sattva. Có rất ít bất đồng ý kiến trong giới học giả về từ “bodhi” với ý nghĩa là “sự chứng ngộ hay giác ngộ”, nhưng lại quá nhiều tranh cãi liên quan đến ý nghĩa và sự ứng dụng của từ “satta hay sattva” trong phạm trù liên hệ.

Bộ Bách Khoa Tôn giáo nói rằng, “theo từ nguyên học, bodhisattva (bồ-tát) là thuật ngữ được ghép thành từ chữ bodhi, với ý nghĩa là ‘sự giác ngộ hay chứng ngộ [của một vị Phật], và sattva, có nghĩa là ‘chúng sinh’. Như thế, bodhisattva đề cập đến hoặc một người đang mưu cầu giác ngộ (bodhi) hoặc “một chúng sinh giác ngộ (bodhi being), nghĩa là chúng sinh ấy chắc chắn sẽ chứng đắc qủa vị Phật. Sự giải thích khác về nó như “một chúng sanh mà tâm của người ấy đã trở nên vững chắc ở sự giác ngộ, cũng được truyền thống công nhận”1.

Trong khi ấy, Bộ Bách Khoa Phật giáo định nghĩa từ ngữ này như sau: “Bodhisattva (Pāli: Boddhisatta) là một chúng sinh thiết tha đối với sự giác ngộ (bodhi). Theo từ nguyên, thuật ngữ này có thể tách biệt thành hai phần, đó là bodhi và sattva. Bodhi, có gốc từ chữ budh, tức tỉnh ngộ, nghĩa là ‘sự tỉnh ngộ’ hay ‘giác ngộ’; và sattva, bắt nguồn từ saint, hiện tại phân từ của nó với ý nghĩa là ‘sự hiện hữu’ hay sự tồn tại (to be or being); hay theo nghĩa đen, ‘sattva là một chúng sinh’. Do vậy, từ ngữ này mang ý nghĩa là ‘một chúng sinh có bản chất là giác ngộ, hoặc một vị Phật tương lai. Cũng có sự gợi ý rằng thuật ngữ satta của Pàli có thể bắt nguồn từ bodhi và satta (Sanskrit Sakta có gốc từ Sanj), nghĩa là “một người gắn bó hay khao khát để đạt đến sự giác ngộ2 ”.

Trong một nghiên cứu tỉ mỉ về giáo lý Bồ-tát, sau khi nêu lên một số định nghĩa về thuật ngữ “sattva” từ một số tự điển và giải thích của các học giả, giáo sư Har Dayal đi đến kết luận rằng “sattva (giống đực) có thể mang ý nghĩa là chúng sinh hay hữu tình (Skt. Dicy. M.W). Từ Pāli ’satta’ có thể có nghĩa là chúng sinh, hay sinh vật, hữu tình, hay con người (Pāli Dicy. S.v). Hầu hết các học giả chấp nhận sự giải thích này3”.

Har Dayal tiếp tục phát biểu rằng “Người ta có cảm giác thuyết phục khi tin rằng từ Pāli ‘satta’ thực sự có thể biểu hiện cho từ Sakta của Sanskrit, vì giải thích trên dường như định ra phẩm chất chính của con người thiết tha với sự giác ngộ. Nhưng cách an toàn nhất cho một học giả nghiên cứu đối với vấn đề này là phải quay về với ngôn ngữ Pàli mà không quá gắn chặt tầm quan trọng với các nhà từ điển học và triết gia đời sau. Như vậy, từ bodhisatta trong kinh điển Pāli dường như có nghĩa là “một chúng sinh giác ngộ” (bodhi-being). Tuy thế, satta ở đây không hàm nghĩa là một hữu tình bình thường, và hầu như từ ngữ ấy liên hệ chắc chắn với từ của Vedic “Krieger”, có nghĩa là “một người mãnh mẽ hay dũng cảm, tức anh hùng hay chiến sĩ”. Trong cách này, chúng ta cũng có thể hiểu được thuật ngữ “dpah” của tiếng Tây Tạng vốn cùng có ý nghĩa như thế. Satta trong Pàli nên phải được giải thích là “một người anh hùng, hay một chiến sĩ tâm linh”. Từ này gợi lên hai ý tưởng: sự hiện hữu và chiến đấu, mà không chỉ đơn thuần là ý niệm về sự hiện hữu đơn nhất4”.

Trên cơ sở của một vài ý kiến vừa đề cập ở trên, người ta có thể phát biểu rằng thuật ngữ Bodhisatta (Bồ-tát) có nghĩa là một chúng sinh tha thiết đạt được sự giác ngộ. Tuy nhiên, trong chừng mực mà thông số của tác phẩm này có liên hệ, sự nhấn mạnh cần phải cộng thêm vào đây là: tác giả quan niệm tất cả con người bình thường là anh hùng, chiến sĩ, với sức mạnh tâm linh tiềm tàng như đức Phật Gotama trước ngày chứng ngộ, và những con người bình thường này có khả năng để loại trừ mọi ác nghiệp và khổ đau của họ, và cũng sẽ đạt được giải thoát tối hậu như đức Thế Tôn đã làm, nếu người ta nỗ lực tối đa thực hành theo con đường mà Như Lai đã khám phá và giảng dạy.

Tuy nhiên, điều cực kỳ quan trọng để lưu ý ở đây là khái niệm Bồ-tát được đề cập trong giáo lý của Phật giáo, cả Phật giáo Nam Truyền (Theravāda) và Phật giáo Bắc Truyền (Mahāyāna) chỉ chuyển tải cùng một nội dung và ý nghĩa như đã được thảo luận ở trên. Nghĩa là, thuật ngữ Bồ-tát (Pàli: bodhisatta; Sanskrit: bodhisattva) chỉ là một danh từ chung, nhằm chỉ đến một chúng sanh (con người) đang đi trên con đường hướng đến giác ngộ, và không có bất cứ ý nghĩa bí mật hay đặc biệt nào ẩn tàng đằng sau nó. Những lời dạy sau đây của đức Thế Tôn hy vọng sẽ soi sáng lập luận vừa nêu một cách rõ ràng:

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sinh, sau khi biết rõ sự nguy hại của sinh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bịnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Thánh cầu5”.

Và sau đây chúng ta hãy lắng nghe đức Phật nói về chính Ngài:

“Này các Tỷ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng Chánh Đẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại đi tìm cầu cái bị già, tự mình bị bịnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm6...”

Trên cở sở của những điều vừa được đề cập, một vấn đề trở nên hoàn toàn rõ ràng là chính đức Phật đã tuyên bố rằng không có gì khác nhau giữa Ngài trước ngày chứng ngộ và một chúng sinh đang đi trên con đường hướng đến giải thoát, Niết-bàn. Do vậy, nếu có điều gì đó bí mật hàm chứa trong thuật ngữ (Bồ-tát) này, theo ý kiến của tác giả, phần bí mật ấy hẳn phải là của riêng chúng ta, và trong phạm trù rộng lớn, bí mật ấy được tạo ra từ sự tưởng tượng của chúng ta do bởi khát vọng, vị kỷ. Từ đó, có lẽ sẽ vô cùng hợp lý để người ta chấp nhận sự kiện rằng nếu Phật giáo Nam Truyền hay Theravāda đặc biệt dùng thuật ngữ ‘bodhisatta’ (Bồ-tát) để nhằm chỉ đức Phật, sự thật là vì lòng tôn trọng và sự kính ngưỡng của hàng đệ tử đối với đấng giáo chủ hay bậc đạo sư. Thái độ tương tự cũng diễn ra tương tự đối với Phật giáo Bắc Truyền hay Mahāyāna, và điều này sẽ được minh chứng trong các chương sau.

Trong chừng mực của sự bàn thảo chi tiết mà chúng ta đã nỗ lực thực hiện, điều có thể nêu rõ ở đây là khái niệm Bồ-tát không chỉ là tư tưởng đặc quyền của Phật giáo Bắc truyền, mà thật ra, nó đã xuất hiện trong kinh tạng Nikāya của văn điển Pāli. Nói khác đi, trong một chừng mực nào đó, giáo lý Bồ-tát đã là một phần của toàn bộ giáo điển Theravāda hay Nam Truyền Phật giáo. Trong thực tế, hiện nay có rất nhiều học giả công nhận sự kiện vừa nêu. Ví dụ, mặc dù không thể trình bày được những giai đoạn phát triển quan trọng của giáo lý Bồ-tát, giáo sư Har Dayal đã khẳng định rằng từ ngữ Bồ-tát (mà không phải là ‘khái niệm hay giáo lý Bồ-tát) đã xuất hiện và được sử dụng nhiều nơi trong kinh tạng Nikāya. Tuy nhiên, do một vài nguyên nhân, hoặc ảnh hưởng học thuyết của các tôn giáo đương thời, hoặc vì nhu cầu thực tế của con người ở một số thời điểm nhất định, hoặc do âm mưu của ngoại đạo với mục tiêu làm suy yếu Phật giáo, khiến Phật giáo bị chia chẻ thành nhiều bộ phái nhỏ, như Tiểu thừa (Hināyāna) và Đại thừa (Mahāyāna), Mật thừa (Tantrism), v.v..., và tạo nên một số tư tưởng gây nhiều tranh cãi liên hệ đến giáo lý Bồ-tát. Hay nói một cách cụ thể hơn, tư tưởng Bồ-tát vẫn là một thực tế mỉa mai, đau xót đang vận hành âm ỉ đằng sau các tổ chức Tăng đoàn Phật giáo trong hầu hết các quốc gia, như Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc, Tây Tạng, cả đến các nước Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, v.v... Hy vọng chúng ta sẽ có cơ hội trở lại vấn đề trên khi thích hợp trong tác phẩm nghiên cứu này.



b.- Lục độ hay Thập Độ:

Thuật ngữ Paramita (ba la mật hay ba la mật đa hay độ) được T.W Rhys Davids và W. Stede cho rằng Paramita có gốc từ chữ Parama (mà không phải là para với căn gốc là i) và được dịch là sự toàn thiện, sự hoàn hảo, trạng thái cao nhất. Har Dayal giải thích hai học giả này kết hợp hai chữ param có nghĩa là bờ bên kia, bờ xa hơn, và ita từ gốc i có nghĩa là là vượt qua, đi tới. Theo Har Dayal, Trung Hoa và Tây Tạng dịch là độ và pha-rol-tu-phyin-pa với ý nghĩa tương ứng là vượt qua bờ bên kia, phương tiện để vượt qua, đến bờ bên kia. D.T. Suzuki cho rằng Paramita có thể dịch là đạt đến bờ bên kia hay toàn thiện. Bách khoa tôn giáo (Encyclopeadia of Religion) định nghĩa Paramita (Pali và Sanskrit) với ý nghĩa là sự toàn thiện, có gốc từ Parama, có nghĩa là cao cả, hoàn hảo, toàn thiện. Truyền thống Đại thừa phân tích Paramita bao gồm hai chữ Param + ita với ý nghĩa đi đến bờ bên kia.



Văn học của Thượng tọa bộ (Pali) đề cập đến 10 ba la mật, gồm Dana (bố thí), Sila (trì giới), Nekkhamma (Ly dục), Panna (trí tuệ), Viriya (tinh tấn), Khanti (nhẫn nhục), Sacca (sự thật), Adhitthana (phát nguyện), Metta (từ), Upekkha (xã). Trong khi ấy, văn học Sanskrit (Bộ phái và Đại thừa) chỉ đề cập đến 6 ba la mật: dana, sila, ksanti, virya, dhyana, prajna; chỉ có tập Dasabhumikasutra (Thập địa) đề cập đến 10 ba la mật: dana, sila, ksanti, virya, dhyana, prajna, upaya-kausalya, pranidhana, bala và jnana.

c.- Thập địa (Dasabhumis)

Như chúng ta đã biết, định nghĩa của thuật ngữ ‘bhūmi’ tức địa theo nghĩa đen là “quả đất, vị trí, nền tảng, căn cứ, đất, v.v...”, và theo nghĩa bóng là “cấp độ, vị trí, trình độ, trạng thái của thức...” dường như không đòi hỏi bất cứ giải thích nào. Tuy nhiên, chưa có sự nhất trí giữa giới học giả về số lượng chính xác và triết lý của các bhūmi (địa- ).



1.- Hoan hỷ địa (Pramudita bhumi) : vượt khỏi địa vị phàm phu, chấm dứt đời sống thế tình, hướng đến đời sống xuất thế, an trú vào bình đẳng tánh của Bồ tát, thiện trú trong vị trí Bồ tát, cuối cùng sẽ thành Phật. Khi đạt được cấp độ này, vị Bồ tát có hân hoan, tín, hỷ, thượng hỷ, cực hỷ, tinh tấn, không có mạn, bất hại và vô hận.

2.- Vô cấu địa (Vimala bhumi) : ở cấp độ này, vị Bồ tát không còn sát sanh, thâu đạo, tà dâm, vọng ngữ, ác khẩi, ỷ ngữ, không còn hà tiện, không sân hận và thành tựu chánh kiến.

3.- Phát quang địa (Prabhakari) : vị Bồ tát chứng được sự vật vô thường, đầy đau khổ, sanh diệt trong từng sát na, vô thủy vô chung và bị lý nhân duyên chi phối, chứng được Như lai trí, phát tâm tinh tấn cứu độ chúng sanh.

4.- Diệm Huệ địa (Arcismati bhumi) : chứng 10 pháp quang (dharmalokas), nghĩa là sau khi chứng hiểu chúng sanh giới, thế giới, pháp giới, không giới, thức giới, dục giới, sắc giới, vô sắc giới, cao thượng ý nguyện giới và đại ý nguyện giới. Vị này cùng thành tựu các đặc tính sau : tin tưởng chân thành vào Tam bảo, nhận thức rõ ràng tính sinh diệt của các pháp hữu vi, thực hành bất sinh của sự vật, khứ lai của thế giới, của luân hồi, niết bàn, hành động của chúng sanh trong mọi giới.

5.- Cực nan thắng địa (Sudurjaya bhumi) : Tu tập thanh tịnh bình đẳng tâm nguyện, liên hệ đến những vấn đề : giáo lý của chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai, giới định tuệ, đoạn trừ tà kiến và nghi, hiểu hết chánh đạo và tà đạo, thực hành các phẩm Bồ đề giác chi.

6.- Hiện tiền địa (Abhimukhi bhumi) : thành tựu các đạo, chứng 10 bình đẳng tánh : vô tướng, vô tánh, vô khởi, vô sanh, thoát lý, thanh tịnh từ ban đầu, vô hý luận, bất thủ bất xả, giống như huyễn mộng, vọng thanh, và phi hữu phi vô.

7.- Viễn hành địa (Durangama) : thành tựu 10 phương tiện trí bát nhã.

8.- Bất động địa (Acala bhumi) : an trú vào 4 đức : chân, thí, tịch và trí ; hiểu rõ mọi pháp là bất sanh bất diệt, bất tăng bất giảm, tự tánh không có thật, hiểu được như thật tánh (tathata) của mọi vật, an trú vô sanh pháp nhẫn (anutpattikadharmaksanti) ; chứng được các pháp là bất tư duy, vô quán niệm (anabhoga). Bồ tát nhớ lại hững đại nguyện xưa của mình là pháp tánh (dharmata), nỗ lực để chứng được vô lượng thân, trí, thế giới, hào quang, âm thanh v.v…

9.- Thiện huệ địa (Sadhumati bhumi) : biết chính xác các pháp thiện, bất thiện, vô ký, thanh tịnh, không thanh tịnh, thế tục, siêu việt, định pháp, bất định pháp, hữu vi, vô vi. Ở cấp độ này, Bồ tát biết một cách tỉ mỉ mục đích và đức tánh của mỗi chúng sanh và có thể quyết định phương phấp hướng dẫn chúng sanh đến đích. Bồ tát vẫn tu tập hạnh balaparamita (lực ba la mật), và nếu muốn Bồ tát có thể trở thành Đại phạm thiên -Maha brahma.

10.- Pháp vân địa (Dharmamegha) : biết rõ ràng phương cách mà thế giới các pháp thế gian sanh diệt, vô lượng hạnh của đức Phật, vô lượng giải thoát môn của vị Bồ tát, các thiền định và chí thuật. Vị ấy được cụ túc Smrti kausalya (niệm thiện xảo) nên có thể thâu nhận tất cả mây pháp (dharmamegha) do vô lượng Phật thấm nhuần ; vị ấy có thể vận dụng mọi loại thần thông và phát hy trí tuệ ba la mật (jnana paramita). Tại đây, Bồ tát trở thành đức Như Lai (tathagata). Khi Bồ tát ngồi trên tòa sen, hào quang từ chư Như Lai chiếu đến và thọ ký vị Bồ tát thành Sambhuda (Chánh đẳng giác), đầy đủ nhất thiết trí . Do vậy, địa này còn gọi là Như lai địa (Tathagatabhumi- Lankavatara và Satashasrika).

1 Mircea Eliade, The Encyclopaedia of Religion, Collier Macmillan Publishers, New York, 1987, tập II, tr. 265.

2 G.P Malalasekera, O.B.E., The Encyclopaedia of Buddhism, Ceylon, 1971, tập III, p. 224.

3 Har Dayal, The Buddhisattva Doctrine in buddhist Sanskrit Literature, Motilal Banarsidass, Delhi, 1975, tr. 5. Để tiện cho việc nghiên cứu của giới độc giả, sau đây tác giả xin trích một số định nghĩa tiêu biểu và giải thích mà giáo sư Har Dayal đã trình bày trong tác phẩm trên.

Theo sự nghiên cứu của Har Dayal:



  1. Sattva có thể có nghĩa là “bản chất, thực chất hoặc sự tồn tại thực sự” (Skt. Dicy. M.W). Từ Pàli ‘satta’ cũng có thể có nghĩa là “tính chất” (Pàli Dicy. S.v). Những nhà từ điển học lớn thời nay dường như giải thích sattva theo ý nghĩa này. Bohtlingk và Roth, giải thích ‘bodhivattva’: là “(adj.) dến Wesen Erkenntniss ist; (mas.) der im Beitz des Wesens der Bodhi Seinde”, và Monier William dịch như sau: “Chúng sanh sở hữu sự giác ngộ hay trí tuệ toàn hảo trong bản chất của họ” (tr. 688b). E. Burnouf dường như giải thích thuật ngữ này giống như Bohtlingk và Roth. Theo C. Iliot, “sattva có nghĩa là con người với bản chất là trí tuệ”. (Eliot, II, tr. 7). Theo D. Hackmann, “sattva có nghĩa là người với bản chất được định sẵn sự giác ngộ” (Buddhism, tr. 52).

  2. “Sattva” (giống đực) có thể có nghĩa là “một chúng sanh hữu tình” (Saht. Dicy. M.W), “ein lebendes Wesen (Skt. Dicy Pbg.). Từ Pàli “satta’ có thể có nghĩa ‘con người, hữu tình, hay một con người hay chúng sanh hữu tình có trí năng” (Pà li Dicy, s.v.) Theo Kern, “Sattva có nghĩa là một hữu tình hay một sự sống có lý trí, sở hữu sự giác ngộ (Manual, tr. 65, line II). Theo Rhys Davids và W. Stede, “sattva là một chúng sanh giác ngộ (bodhi being) nghĩa là một chúng sanh chắc chắn đạt được giác ngộ trọn vẹn (Pàli dicy. s.v.). Theo L.D.Barnett., “Sattva là một hữu tình giác ngộ (“Path”. tr.20). Theo M. Anesaki, “sattva là một chúng sanh mưu cầu giác ngộ, hay chắc chắn giác ngộ (“Buddha”, tr.2, ghi chú I). Theo D.T. Suzuki, sattva là một con người thông thái (“Outline”, tr.277). Theo Csoma de koros, sattva là một linh hồn thanh tịnh và uy dũng (Scoma, tr.6). Tác giả của kinh Samadhi-raja giải thích sattva là một chúng sanh, một hữu tình nhưng nghĩ rằng thuật ngữ bodhisattva (bồ-tát) có nghĩa là người khuyên bảo, hay thúc đẩy tất cả chúng sanh (bodheti vattsan… Sam. Rà. Fol. 25q, 4). P. Ghosa dường như giải thích sattva là con người, nhưng phân tích toàn bộ từ này trong một cách đặc biệt “bodhi sa casau maha-krp-asayena sattvalambanat sattvas ceti bodhisattvah… “Câu này có nghĩa rằng con người vừa là bodhi (giác ngộ) vừa là sattva (chúng sanh)!

  3. “Sattva” có thể có nghĩa là linh hồn, là tâm, là tri giác, là thức, “Geist” (Skt. Dicy. M.W. and Pbg.) Từ Pàli “satta” cũng có thể có nghĩa “linh hồn” (Pà li Dicy. s.v.). I. De la Valee Poussin, nhà từ điển học của Ấn Độ, cũng giải thích sattva như là một biểu tượng của citta (tâm) hay vyasasāya (quyết định hay quyết tâm). Bình luận về B.C. Ava, tác phẩm Prajnakaramati nói rằng: “tatra (bodhau) sattvam abhipraya syeti bodhisattvah”. P. Ghosa trích dẫn lời của một cựu luận sư, giải thích rằng sattva có nghĩa là abhipraya (ý định hay mục đích): “bodhau sattvam abhipaya yesam te bodhisattvah” (Pr. Pà. Sata., tr.2, ghi chú 2). Như vậy từ ngữ này có nghĩa là :người với tâm, ý định hay ý nghĩ, hay ước muốn đã gắn chặt với giác ngộ (bodhi). P. Oltramare không thừa nhận giải thích trên vì ông cho là quá gượng gạo và không đúng; nhưng L. de la Valee Poussin thì dường như có khuynh hướng chấp nhận nó, cùng lúc ấy ông ta thừa nhận rằng ý nghĩa nguyên thủy của thuật ngữ này có thể bắt nguồn từ (ý niệm thực chất hay bản tính cố hữu”.

  4. Sattva có thể có nghĩa là ‘thai tạng’ (Skt. Dicy, M.W.); H.S. Gour dịch là “Trong con người mà sự hiểu biết còn tiềm ẩn và chưa phát triển” (Buddhism, tr. XI)

  5. Sattva có thể có cùng ý nghĩa vì ở trong tác phẩm Yoga-sastra (Luận Du-già) nó ngược lại với từ purasa (người) và có ý nghĩa là ‘tâm hay sự hiểu biết’. Giải thích ấy thường được E. Senart tin tưởng rằng Phật giáo bị ảnh hưởng sâu sắc bởi hệ thống Yoga (Du-già)… thực sự rằng sattva xuất hiện rất thường trong Yoga sutra, và G. Jha dịch là nguyên tắc tư duy hay tâm (Yo. Sù. II 41, tr. 109, “Sattva-suddhi-saumanasy-aikagry-endriya-jya-atma-darsana-yogyatvani ca). E. Senart chỉ ra rằng sattva được nói là khác với purisa (ngườI) trong Yoga sutra. (III. 55, “sattva-purusyoh suddhi-samye”, tr. 174). Do vậy, ông ta đưa ra sự trích dẫn ở trên, nhưng tôi (Har Dayal) thú nhận rằng tôi thực sự không hiểu những điều mà E. Senart muốn nói ở câu “sattva de la bodhi”. Ý kiến của Kern là thành phần thứ nhất ‘bodhi’ có thể có liên quan đến thuật ngữ ‘buddhi’ của hệ thống Yoga (Du-già), vì thuật ngữ buddhisattva đặc biệt được tìm thấy trong văn học Yoga (Du-già). Như vậy, Bồ-tát có thể là một nhân cách hóa sự hiểu biết tiềm tàng (trong chúng sinh).

  6. Sattva có thể là một hình thức Sanskrit hóa sai của thuật ngữ Pāli ‘satta’, và từ Pāli này có thể tương hợp với từ Sanskrit “satka”. Như vậy, từ chữ “boddhisatta” của Pāli, theo đó tiếng Sanskrit bắt nguồn sẽ là bodhi-satka, có ý nghĩa là “người tận tụy với hay gắn chặt với giác ngộ (bodhi)”. Satka (từ căn gốc sanj) có nghĩa là “bám vào, níu lấy, hay gắn chặt vào, nối kết lại, liên kết với, say mê với, tận tụy với, thích thú, miệt mài” (Skt. Dicy. M.W). Theo từ điển Pāli, thuật ngữ Pāli ‘satta’ cũng có liên hệ với những từ của Sanskrit, như ‘sattva, sapta, sakta, và sapta’. Có người đã gợi ý rằng từ Pāli ‘satta’ có liên hệ với từ Sanskrit ‘Sukta’ mà không phải là ‘sūtra’, vì từ sūtra là một chọn lựa không thích hợp đối với những bài kinh dài dòng và rườm rà của Phật giáo. Các nhà Phật học rất chú trọng đến tầm quan trọng của những lời dạy tốt (subhasita), và theo họ từ Pāli sutti thì không tương hợp với từ Sanskrit sūkti (Pali, Dicy. s.v). Tuy nhiên điều có thể là người ta có thể lập luận một cách hợp lý rằng từ Bodhi-sakta của Sanskrit thì có thể tương đồng với từ Pāli bodhisatta. Ý kiến của các học giả Phật giáo chọn sự diễn dịch sattva không cần phải xem là quyết định tuyệt đối trong vấn đề này, vì chắc chắn họ đã cho chúng ta những hình thức Sanskrit sai lầm khác, ví dụ smrupasthāna (thay cho từ Pāli), samyak-prahāna (thay thế cho từ Pāli sammappadhāna), v.v…; bodhisattva cũng có thể thuộc về những thuật ngữ Sanskrit sai lầm này. Tuy thế, P. Oltramare loại bỏ cách giải quyết trên, vì động từ sanj thì không được dùng để biểu thị sự gắn bó với những lý tưởng đạo đức và tâm linh, và các nhà văn về sau cũng không thể tạo ra “một lỗi lầm kỳ cục” như thế trong việc phiên dịch Pāli sang Sanskrit.

  7. “Sattva” có thể có nghĩa là “sức mạnh, năng lực, khí lực, quyền lực, can đảm” (Skt. Dicy, M.W, tr. 1052). Từ ngữ bodhisattva cũng sẽ có nghĩa là “người mà năng lực và sực mạnh hướng đến sự giác ngộ (bodhi); Sattva trong ý nghĩa này thường xuất hiện trong Avadāna-kalpa-làta của Ksemendra (tr. 4,5,6,7.) v.v

4 Har Dayal, The Bodhisattva Doctrine in Buddhist Sanskrit Literature, Delhi, 1075, tr.9

5 Đại Tạng kinh VN, kinh Trung Bộ, tập I, tr. 366.

6 Sđd., tr. 336.


1   2


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương