MỤc lục chương Cơ sở lý luận và các chỉ tiêu đánh giá tính khả thi của dự án xây dựng công trình giao thông: 7



tải về 0.82 Mb.
trang3/8
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích0.82 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8

1.2. Các tiêu chỉ đánh giá tính hiệu quả dự án xây dựng công trình.

1.2.1. Khái niệm hiệu quả, các nguyên tắc xác định và sự cần thiết đánh giá tính hiệu quả của dự án :

1.2.1.1. Khái niệm hiệu quả:


Hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa lợi ích mà chủ thể nhận được và chi phí mà chủ thể bỏ ra để nhận được lợi ích đó trong những điều kiện nhất định.

Xét theo góc độ chủ thể nhận được lợi ích và bỏ chi phí để nhận được lợi ích đó thì có khái niệm hiệu quả tài chính và hiệu quả KT - XH.

Hiệu quả tài chính còn được gọi là hiệu quả sản xuất - kinh doanh hay hiệu quả doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp. Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí kinh tế mà doanh nghiệp phải bỏ ra để nhận được lợi ích đó. Hiệu quả tài chính là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, những nhà đầu tư. Hiệu quả tài chính chỉ liên quan đến những lợi ích, chi phí trực tiếp.

Hiệu quả KT - XH là hiệu quả tổng hợp được xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, nó mô tả mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế xã hội mà toàn bộ xã hội nhận được và chi phí bỏ ra để nhận được lợi ích đó. Chủ thể của hiệu quả KT - XH là toàn bộ xã hội (Nhà nước, doanh nghiệp, người sử dụng) mà người đại diện cho nó là Nhà nước. Vì vậy những lợi ích và chi phí được xem xét trong hiệu quả kinh tế xã hội xuất phát từ quan điểm toàn bộ xã hội, bao gồm những lợi ích, chi phí trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội (kinh tế, xã hội, môi trường, …) của tất cả các chủ thể trong xã hội.

1.2.1.2. Sự cần thiết đánh giá hiệu quả KT – XH của dự án đầu tư:


Đánh giá hiệu quả KT - XH của DAĐT là một nội dung cực kỳ quan trọng trong lập và thẩm định DAĐT. Việc đánh giá này không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước và các định chế tài chính

- Đối với chủ đầu tư: đánh giá hiệu quả KT - XH là căn cứ chủ yếu để nhà đầu tư thuyết phục các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án và thuyết phục các định chế tài chính (ngân hàng, các cơ quan việc trợ) cho vay vốn. Nếu DAĐT không mang lại lợi ích cho xã hội thì dự án đó sẽ khó có thể được thực hiện.

- Đối với Nhà nước: đây là căn cứ chủ yếu để quyết định có cấp giấy phép đầu tư hay không. Đối với các nhà đầu tư, mục tiêu chủ yếu của họ là lợi nhuận. Khả năng sinh lợi do một dự án nào đó mang lại chính là thước đo chủ yếu và là động lực thúc đẩy bỏ vốn của nhà đầu tư. Song đối với Nhà nước, trên phương diện của một quốc gia thì lợi ích kinh tế xã hội mà dự án mang lại chính là căn cứ chủ yếu để xem xét và cấp giấy cho các nhà đầu tư. Một dự án chỉ được cấp giấy phép khi nó thực sự có đóng góp cho nền kinh tế xã hội cũng như nó đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

- Đối với các định chế tài chính: đánh giá hiệu quả KT - XH cũng là căn cứ chủ yếu để các định chế tài chính quyết định có tài trợ vốn hay không. Bất cứ một DAĐT phát triển nào muốn tìm đến sự tài trợ của các định chế tài chính quốc gia cũng như quốc tế (như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á,…) thì đòi hỏi đầu tiên là phải chứng minh được một cách chắc chắn dự án sẽ mang lại lợi ích cho nền KT-XH.


1.2.2. Phương pháp đánh giá hiệu quả KT - XH của dự án.


Đồ án chỉ đưa ra phương pháp đánh giá dự án với nhóm chỉ tiêu động trong trường hợp thị trường vốn hoàn hảo.

Thị trường vốn được coi là hoàn hảo khi nó đảm bảo được các điều kiện sau đây:

- Nhu cầu về vốn luôn luôn được thoả mãn, không bị một hạn chế nào về khả năng vấp vốn.

- Lãi suất phải trả khi vay vốn và lãi suất nhận được khi cho vay vốn là bằng nhau.

- Tính thông suốt của thị trường về mọi mặt được đảm bảo.

1.2.2.1. Chỉ tiêu hiệu số thu chi.


Chỉ tiêu hiệu số thu chi có thể quy về thời điểm hiện tại (NPW), quy về thời điểm tương lai (NFW) hoặc quy san đề hàng năm (NAW).

Sau đây là phương pháp xác định hiệu số thu chi quy về thời điểm hiện tại (NPW).



- Công thức:

Trong đó:

Bt :Khoản thu năm t.

Ct: Chi phí bỏ ra ở năm t, đây là chi phí vận hành chưa kể khấu hao.

n: Tuổi thọ quy định của dự án.

i: Suất chiết khấu.

Trong công thức trên ta thấy rằng thực ra tại thời điểm t = 0 không có khoản thu nào, chỉ có vốn đầu tư ban đầu V0. Ngoài ra tại thời điểm n, trị số SV phát sinh không phải từ hoạt động kinh doanh của dự án mà từ hoạt động bất thường (thanh lý tài sản). Nếu ta tách các giá trị V0 và SV ra thì dòng tiền còn lại là dòng thu chi từ hoạt động sản xuất kinh doanh của dự án. Trị số NPW lúc này có thế xác định theo công thức sau:



- Đánh giá:

NPW ≥0 phương án đáng giá.


1.2.2.2. Chỉ tiêu suất thu lợi nội tại IRR.


Suất thu lợi nội tại (IRR) là mức lãi suát mà nếu dùng nó làm suất chiết khấu để quy đổi các dòng tiền tệ của phương án thì giá trị hiện tại của thu nhập PWB sẽ cân bằng với giá trị hiện tại của chi phí PWC, nghĩa là NPW = 0. Hay nói khác đi IRR là nghiệm của phương trình.



- Phương pháp xác định IRR.

Để tìm IRR ta dùng phương pháp nội suy gần đúng.

Bước 1, chọn trị số i1 sao cho NPW1 >0 càng nhỏ càng tốt.

Bước 2, chọn trị số i2 sao cho NPW2 <0 càng gần 0 càng tốt.

Bước 3, xác định IRR bằng công thức:



- Đánh giá bằng chỉ tiêu IRR:

Trong trường hợp cần lựa chọn trong 2 phương án dưa ra.

Nếu vốn đầu tư ban đầu cho tài sản cố định là bằng nhau thì chọn phương án có IRR lớn hơn là phương án tốt nhất.

Nếu vốn đầu tư ban đầu khác nhau thì phải so sánh lựa chọn theo nguyên tắc “gia số đầu tư”. Nghĩa là phương án có vốn đầu tư ban đầu lớn hơn được chọn là phương án tốt nhất nếu gia số đầu tư của nó đáng giá (tức là IRR > MARR) Nếu gia số đầu tư của nó IRR < MARR thì chọn phương án có vốn đầu tư nhỏ hơn.


1.2.2.3. Chỉ tiêu tỷ số thu chi.


Phương pháp phân tích dựa trên tỷ số B/C được sử dụng phổ biến với các dự án phục vụ công cộng, các dự án mà Nhà nước không đặt ra mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận.

Tỷ số lợi ích - chi phí (B/C) là tỷ số giữa giá trị tương đương của lợi ích trên giá trị tương đương của chi phí. Các giá trị tương đương này có thể là PW, AW hay FW (giá trị FW ít được sử dụng nhất).

Công thức thông thường nhất của chỉ tiêu tỷ số thu chi có thể biểu diễn như sau:

Với dự án khi tỷ số >1 thì dự án được coi là đáng giá về mặt kinh tế. So sánh các phương án khi sử dụng chỉ tiêu cũng tương tự như đối với chỉ tiêu IRR. Nghĩa là cũng sử dụng nguyên tắc phân tích theo số gia đầu tư.

Trường hợp 2 phương án có vốn đầu tư ban đầu bằng nhau và đã quy về cùng một thời điểm tính toán thì phương án nào có tỷ số lớn hơn là phương án tốt hơn.

Nếu vốn đầu tư khác nhau thì phải so sánh theo gia số đầu tư, nếu >1 thì phương án có vấn đầu tư lớn hơn sẽ là phương án tốt nhất, ngược lại <1 thì phương án có vốn đầu tư nhỏ hơn là phương án tốt nhất.


1.2.2.4. Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn tính bằng phương pháp hiện giá.


Thời gian hoàn vốn tính bằng phương pháp hiện giá THV là thời gian mà kể từ đó trở đi hiệu số thu chi quy về thời điểm hiện tại trở nên không âm. Hay nói khác đi thời gian hoàn vốn tính bằng phương pháp hiện giá là nghiệm của phương trình NPW = 0 đối với ẩn thời gian tính toán.

Lập bảng hiện giá để nhận thấy thời gian mà kể từ đó giá trị quy về hiện tại bắt đầu dương. Khi đó công thức tính THV được tính như sau:



(tháng)

t: Năm bắt đầu có hiệu số thu chi dương.

NPW(t-1): Giá trị quy về hiện tại của năm cuối cùng còn âm.

Nt: Hiệu số thu chi năm thứ t. Nt = Bt - Ct



1   2   3   4   5   6   7   8


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương