ĐẠi học nha trang viện công nghệ sinh học và MÔi trưỜng kỷ YẾu hội nghị



tải về 433.36 Kb.
trang1/2
Chuyển đổi dữ liệu20.05.2018
Kích433.36 Kb.
  1   2
ĐẠI HỌC NHA TRANG

VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG



KỶ YẾU HỘI NGHỊ

ĐỔI MỚI CÔNG TÁC GIẢNG DẠY THEO HỆ TÍN CHỈ


NHA TRANG, 10/2011

Những khác biệt căn bản giữa đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ

TS. Lê Văn Hảo

Trưởng Phòng Đảm bảo chất lượng và Khảo Thí

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ bắt đầu được áp dụng tại trường Đại học Harvard, Hoa kỳ vào năm 1872, sau đó dần được mở rộng ra khắp Bắc Mỹ và thế giới. Đây là phương thức đào tạo theo triết lý xem “Người học là trung tâm của quá trình đào tạo”. Theo đánh giá của tổ chức Ngân hàng thế giới, đào tạo theo tín chỉ không chỉ hiệu quả đối với các nước phát triển mà còn đối với các nước đang phát triển. Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 được Chính phủ phê duyệt đã khẳng định: “… xây dựng học chế tín chỉ thích hợp cho giáo dục đại học ở nước ta và vạch ra lộ trình hợp lý để toàn bộ hệ thống giáo dục đại học chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ…”. Tại Chỉ thị năm học 2008 – 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức yêu cầu các trường đại học và cao đẳng “chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ vào năm học 2009 – 2010 hoặc muộn nhất là năm học 2010 – 2011”. Cho đến nay, gần như tất cả các trường đại học và cao đẳng trên toàn quốc đã và đang chuyển đổi từ kiểu đào tạo niên chế (hoặc hỗn hợp niên chế + học phần) sang kiểu đào tạo theo tín chỉ với nhiều mức độ khác nhau.

            Bài viết này nhằm cung cấp một bức tranh so sánh giữa hai hai hình thức đào tạo theo niên chế và theo tín chỉ trên một số phương diện chủ yếu nhằm mục đích giúp cho người dạy, người học, và các nhà quản lý đào tạo ở trường đại học nhận ra các khác biệt căn bản giữa hai phương thức đào tạo, từ đó điều chỉnh hoạt động/công việc của mình cho phù hợp với hình thức đào tạo mới.



 

NIÊN CHẾ

TÍN CHỈ

Triết lý/tôn chỉ giáo dục ĐH

Cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có trình độ cao và các phẩm chất cần thiết

Cung cấp nguồn nhân lực có năng lực và tính thích nghi cao, khả năng học tập suốt đời trên cơ sở phát huy tính tự chủ của người học, đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa trong liên thông đào tạo và sử dụng lao động

Đào tạo thiên về hàn lâm, chuyên sâu

Hướng đến 4 trụ cột giáo dục của UNESCO đề ra năm 1996 (Học để biết, Học để làm, Học cách chung sống, Học làm người)

Tính tự chủ của người học

Tất cả SV đều cùng học theo một tiến độ chung.

Mỗi SV có thể tự xây dựng một tiến độ học tập riêng trong khung thời gian cho phép đối với bậc học tương ứng

Chương trình học là như nhau đối với tất cả SV, không có sự lựa chọn môn học.

Mỗi SV có thể chọn lựa môn học thích hợp với sở thích, khả năng trong số các môn học tự chọn

Yêu cầu liên thông

Các môn học trong phạm vi một ngành học có tính liên thông

Các môn học trong phạm vi một trường có tính liên thông, hướng đến liên thông với các trường khác

Các bậc học trong phạm vi một ngành học có tính liên thông

Các bậc học trong phạm vi một trường có tính liên thông, hướng đến liên thông với các trường khác trong và ngoài nước

Chương trình học

Căn cứ chủ yếu về thời gian để xây dựng chương trình: Thời gian SV có thể tham gia học tập trong 1 HK/NH

Căn cứ về thời gian để xây dựng chương trình: Khối lượng làm việc của SV (student workload) trong 1 HK/NH

Thời gian học tập của SV được xác định bằng thời lượng SV phải lên lớp, thực hành, thực tập, …

Khối lượng làm việc của SV được xác định bằng thời lượng SV phải lên lớp, thực hành, thực tập, … và thời gian cần thiết để tự nghiên cứu, tự học.

Được thiết kế theo cấu trúc môn học và theo mục tiêu đào tạo của ngành

Được thiết kế theo cấu trúc mô đun và đáp ứng khả năng liên thông, lắp ghép giữa các ngành

Được thiết kế để cho cùng một đầu ra (VD: Cử nhân/kỹ sư)

Được thiết kế để có thể có hơn một đầu ra (VD: Cử nhân/kỹ sư thiên về thực hành hoặc nghiên cứu)

Tổ chức đào tạo theo năm học: mỗi năm có 2 HK

Tổ chức đào tạo theo HK: mỗi năm có 2-4 HK

Độ dài của chương trình học được tính theo năm

Độ dài của chương trình học được tính theo TC

Chương trình ĐH có khoảng 200 đvht, chương trình CĐ có khoảng 150 đvht (1đvht = 45ph)

Chương trình ĐH (phổ biến) có khoảng 120 TC, chương trình CĐ có khoảng 90 TC (1 TC = 50-60ph)

SV phải hoàn thành khối lượng học tập tính theo năm học

SV phải hoàn thành khối lượng học tập tính theo tín chỉ. Năm học của SV được xác định theo tổng số TC đã tích lũy. Ví dụ:

-        SV năm I: tích lũy dưới 30 TC

-        SV năm II: từ 30 đến dưới 60 TC

-        SV năm III: từ 60 đến dưới 90 TC



-        SV năm IV: từ 90 đến dưới 120 TC

Các môn học cơ bản được xây dựng theo hướng đáp ứng yêu cầu của ngành đào tạo

Các môn học cơ bản được xây dựng theo hướng đáp ứng yêu cầu của nhóm ngành đào tạo

Không có môn học tự chọn

Có các môn học tự chọn: môn tự chọn chính (major elective subject), môn tự chọn tự do (free elective subject), môn dự thính (audit subject), …

Các môn học được xây dựng chủ yếu dựa trên năng lực của đội ngũ GV

Các môn học được xây dựng theo hướng đáp ứng yêu cầu xã hội và thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu quốc tế hóa trong sử dụng lao động

Phương pháp giảng dạy

Ít nhấn mạnh đến vai trò trung tâm của người học

Đặt nặng yêu cầu lấy người học làm trung tâm (learner-centered) hoặc lấy sự học làm trung tâm (learning-centered)

GV sử dụng các PPGD sao cho SV chủ yếu làm việc tại lớp (vì SV không có nhiều thời gian tự học)

GV sử dụng các PPGD sao cho SV phải sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp để tự học, tự nghiên cứu, làm việc nhóm

GV sử dụng các PPGD không yêu cầu đến tính đa dạng (về ngành học) của SV

GV cần quan tâm đến tính đa dạng (về ngành học) của SV khi sử dụng các PPGD (vì SV học khác ngành có thể học chung một lớp môn học)

Phương pháp học tập

SV không cần đăng ký kế hoạch học tập, không cần quan tâm lựa chọn môn học và xây dựng tiến độ học tập riêng

SV cần đăng ký kế hoạch học tập cho từng HK, phải biết lựa chọn môn học và tiến độ học tập sao cho phù hợp với sở thích, năng lực và hoàn cảnh riêng

SV cần lên lớp đầy đủ hoặc đạt tỷ lệ lên lớp tối thiểu

SV cần thõa mãn yêu cầu lên lớp (tính chuyên cần) đối với mỗi môn học

SV chủ yếu hoàn thành các nhiệm vụ học tập cá nhân được GV giao

SV cần tự học, tự nghiên cứu, làm việc nhóm nhiều hơn ngoài thời gian lên lớp (1 TC cần khoảng 30 tiết tự học)

Không đặt nặng yêu cầu SV đọc tài liệu trước khi đến lớp

SV cần đọc tài liệu trước khi đến lớp (vì GV không giảng giải cặn kẽ tất cả nội dung)

Ít đặt nặng yêu cầu về các kỹ năng mềm

SV phải đạt được các kỹ năng mềm

SV tuân thủ lịch học và thi chung của lớp

SV thực hiện lịch học và thi của cá nhân

SV chủ yếu học theo một ngành nhất định

SV có thể dễ dàng học một lúc 2 ngành

Phương pháp đánh giá học tập

Kết quả học tập được đánh giá theo NH. Nếu SV nào không đạt yêu cầu học tập đối với một năm học thì có thể phải học lại năm học đó (lưu ban)

Kết quả học tập được đánh giá theo tổng số TC đã tích lũy. SV bị buộc thôi học nếu không đạt được điểm trung bình chung tích lũy nào đó sau một giai đoạn nhất định

SV phải thi đạt tất cả các môn học qui định

SV cần đạt đủ số TC và điểm trung bình chung tích lũy qui định theo từng năm và cả khóa

Sử dụng thang điểm 10 (hoặc 100) và đề cao cách tính điểm tuyệt đối (criterion-referenced)

Sử dụng thang điểm 4 kết hợp thang điểm chữ, cho phép cách tính điểm tương đối (norm-referenced)

Xem trọng các kỳ thi hết môn (chiếm 70-100% điểm môn học)

Xem trọng đánh giá quá trình (chiếm cỡ 50% điểm môn học)

Tuyển sinh

Tuyển sinh vào đầu mỗi NH

Có thể tuyển sinh theo HK

SV khó được chuyển ngành, chuyển trường

SV được chuyển ngành, chuyển trường trên cơ sở các ngành/trường đáp ứng các yêu cầu về liên thông

Quản lý SV

SV được quản lý và sinh hoạt chủ yếu theo lớp NH, theo khoa

SV được quản lý học tập theo lớp môn học, được khuyến khích tham gia các sinh hoạt chung của khoa, trường

Hồ sơ học tập SV chủ yếu được trích xuất từ kết quả học tập chung của lớp NH

Hồ sơ học tập SV mang tính cá thể

SV được tư vấn chủ yếu bởi GVCN

SV được tư vấn bởi CVHT, chuyên gia tâm lý

Tài liệu tham khảo:

[1] http://www.vatgia.com/hoidap/4006/272184/so-sanh-uu-nhuoc-diem-cua-dao-tao-theo-nien-che-va-dao-tao-theo-tin-chi.html

[2] http://www.ktdn.edu.vn/files/news/1494/content/1509/Su khac biet giua tin chi va nien che - Xuan thu.pdf

[3] http://www.tnut.edu.vn/doc/pqthe_dttinchi.htm

[4] http://dt.ussh.edu.vn/tai-lieu-tham-khao/muc-tieu-su-pham-cua-he-thong-dao-tao-theo-tin-chi-my-va-nhung-goi-y-cho-cai-cach-giao-duc-dai-hoc-o-viet-nam

[5] http://www.cdspbrvt.edu.vn/portal/uploads/temp/vun2.pdf
Một số kinh nghiệm giảng dạy liên quan đến việc nâng cao

khả năng tự học của sinh viên
Ngô Đăng Nghĩa- Viện Trưởng Viện CNSH & MT

  1. Đặc điểm não bộ

Bộ não chứa trên 100 tỷ neuron thần kinh. Mỗi tế bào lại có quan hệ với hàng chục nghìn neuron lân cận. Do đó số liên hệ giữa toàn bộ neuron trong não là một con số khổng lồ làm nền tảng cho bộ nhớ, tư duy và óc sáng tạo của con người.

Bộ não làm việc khác căn bản với máy tính. Máy tính làm việc theo kiểu tuyến tính trong khi não bộ làm việc theo kiểu kết hợp: so sánh, tích hợp và tổng hợp. Sự kết hợp đóng vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động của não bộ. Mỗi từ ngữ, ý tưởng, khái niệm đều gắn liền với các ý tưởng hay khái niệm khác.

Phương pháp sơ đồ tư duy, Mind Map, được phát triển bởi Tony Buzan, là một phương pháp rất hiệu quả để làm các ghi chú và rất ích lợi để phát sinh các ý tưởng bằng cách kết hợp.

Để xây dựng sơ đồ này, người ta tạo một hình sao ở trung tâm với ý tưởng chính, từ đó phát triển các liên hệ theo mọi hướng nối với các từ kháo và các hình ảnh then chốt. Từ đó phát triển thành một cấu trúc có tổ chức phức tạp


  1. Sơ đồ tư duy

- Phương pháp sơ đồ tư duy, Mind Map, được phát triển bởi Tony Buzan, là một phương pháp rất hiệu quả để làm các ghi chú và rất ích lợi để phát sinh các ý tưởng bằng cách kết hợp.

  • -Tony Buzan sinh năm 1942, Anh, chuyên gia hàng đầu thế giới về nghiên cứu hoạt động của bộ não và là cha đẻ của Mind Map. Phương pháp tư duy của ông được dạy và sử dụng ở khoảng 500 tập đoàn, công ty hàng đầu thế giới; hơn 250 triệu người sử dụng phương pháp Mind Map của Tony Buzan; khoảng hơn 3 tỷ người đã từng xem và nghe chương trình của ông (ông đã từng sang Việt Nam năm 2007 để nói chuyện về lĩnh vực nghiên cứu của mình).



  • Để xây dựng sơ đồ này, người ta tạo một hình sao ở trung tâm với ý tưởng chính, từ đó phát triển các liên hệ theo mọi hướng nối với các từ khoá và các hình ảnh then chốt và phát triển thành một cấu trúc có tổ chức phức tạp.

  • Các đặc điểm chính của sơ đồ tư duy là:

Có tính tổ chức

Chứa các từ khóa

Thể hiện sự kết hợp giữa các ý tưởng hay công việc

Phân nhóm rõ rệt

Tạo dựng trí nhớ hình ảnh

Tính nổi bật do có một trung tâm duy nhất



  • Sơ đồ tư duy có tổ chức tương tự như trí nhớ của não bộ và nó giúp cho việc tổ chức thông tin rất tốt.

  • Số lượng kết hợp rất lớn dẫn đến sự sáng tạo và phát sinh những ý tưởng mới. Mỗi mục trong sơ đồ này có thể là trung tâm cho một sơ đồ tư duy mới.

  • Sự tiện lợi của phươngpháp sơ đồ tư duy thể hiện rõ nhất trong giai đoạn ban đầu của tiến trình suy nghĩ về một vấn đề: brainstorm. Tất cả những ý tưởng sẽ được tổ chức và thể hiện mối liên hệ rất rõ nét.


http://www.thinkbuzan.com

  1. Ứng dụng trong việc lên kế hoạch học tập, kế hoạch nghiên cứu, sáng tạo, giải quyết vấn đề

Trong việc chuyển đổi sang đào tạo tín chỉ, sự khác biệt lớn nhất là nâng cao tính chủ động của người học trong cả quá trình học trên lớp, thực hành thí nghiệm và tự học. Để hỗ trợ cho điều này, phương pháp sơ đồ tư duy rất có hiệu quả.

-Khi xây dựng kế hoạch học tập cho bản thân

-Khi chuẩn bị bài trước khi lên lớp

-Khi lập chương trình nghiên cứu

-Khi giải quyết các vấn đề, bài tập

-Khi phải đối mặt với các tình huống phức tạp cần giải quyết...



Trong dạy học

Việc sử dụng sơ đồ tư duy huy động tối đa tiềm năng của bộ não, giúp học sinh học tập tích cực, hỗ trợ hiệu quả các phương pháp dạy học.

Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học giúp người học ghi chép hay tổng kết một vấn đề, một chủ đề với cách tiếp cận theo dạng sơ đồ tư duy.

Giảng viên đầu tiên đưa ra một chủ đề chính, đặt chủ đề này ở vị trí trung tâm bảng (hoặc giữa trang giấy) trong một hình sao để nhấn mạnh, sau đó gợi ý để sinh viên vẽ tiếp các nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3...

Sơ đồ này giúp học sinh dễ ôn tập, dễ xem lại kiến thức khi cần.

TÀI LIỆU THAM KHẢO


http://www.thinkbuzan.com
  1   2


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương