Hoïc vieän coâng ngheä böu chính vieãn thoâng Taøi Lieäu Söu Taàm



tải về 0.88 Mb.
trang5/15
Chuyển đổi dữ liệu13.08.2016
Kích0.88 Mb.
#17888
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   15




Hướng dẫn cách gắn các ổ đĩa cho máy tính

GẮN Ổ ĐĨA CỨNG

Hiện nay các ổ đĩa cứng (HDD) và ổ đĩa quang (như CDROM, CD-RW...) dành cho máy tính để bàn phổ thông có hai giao diện IDE và SerialATA (SATA). Các hệ thống từ Pentium 4 Socket 775 trở đi đã chính thức hỗ trợ giao diện SATA. Giá các ổ đĩa SATA cũng đã giảm mạnh, chênh lệch không là bao so với giao diện IDE.

Bạn còn nhớ chứ, khi xài ổ đĩa IDE, bạn bắt buộc phải biết cách gắn jumper để cấu hình nó hoạt động ở vị trí Master hay Slave. Nếu ổ đĩa bị cấu hình sai, hệ thống sẽ xảy ra xung đột giữa Master và Slave. Còn với công nghệ SerialATA, ổ đĩa chẳng có jumper nào và bạn cũng không còn phải bận tâm về chuyện Master hay Slave nữa. Cáp dữ liệu SATA nhỏ dẹp giúp bên trong thùng máy đỡ rối rắm và sẽ thông thoáng hơn so với khi dùng cáp dẹt IDE bản bự (40 hay 80 chân). Nhưng điều gây ấn tượng nhất là băng thông của giao diện SATA hơn hẳn IDE và đang được phát triển cao hơn nữa. Hiện nay, với phiên bản đầu tiên, SATA có băng thông dữ liệu 150MB/s, trong khi của IDE tối đa cũng chỉ 133MB/s.

 

Vì thế, ở đây chúng ta sẽ cùng nhau gắn ổ đĩa SATA. Cách gắn các ổ đĩa cứng và ổ đĩa quang đều giống nhau về cơ bản.

 

GIAO DIỆN SATA CÓ CÁP DỮ LIỆU VÀ CÁP ĐIỆN KHÁC HẲN IDE. CHÚNG “MINHON” HƠN, DẸP HƠN. CÁP SATA CÓ HAI ĐẦU GIỐNG HỆT NHAU. BẠN NHỚ GỠ BỎ NẮP ĐẬY TRƯỚC KHI GẮN CÁP VÀO MAINBOARD VÀ Ổ ĐĨA.


CÁP DỮ LIÊU SATA (BÊN PHẢI) VÀ CÁP IDE.

BẠN HÃY QUAN SÁT HAI ĐẦU CÁP VÀ HAI CHÂN CẮM CỦA CÁP DỮ LIÊU (NHỎ HƠN, BÊN TRÁI TRONG HÌNH) VÀ CÁP ĐIỆN.

 

KHI CẦM Ổ ĐĨA CỨNG, BẠN NHỚ CHỈ ĐƯỢC CẦM Ở CÁC CẠNH CỦA NÓ. KHÔNG CHẠM TAY LÊN MẶT KIM LOẠI VÌ CÓ THỂ DẪN TỚI HIỆN TƯỢNG SỐC TĨNH ĐIỆN. ĐẶC BIÊT, CHỈ CẦN BẠN CHẠM LÊN ĐÓ LÀ DẤU TAY CỦA BẠN SẼ IN HẰN LÊN BỀ MẶT KIM LOẠI. NẾU TAY BẠN THUỘC LOẠI NHIỀU MỒ HÔI THÌ DẤU VÂN TAY SẼ KHÔNG THỂ CHÙI SẠCH ĐƯỢC ĐÂU. MỒ HÔI TRÊN DẤU VÂN TAY LÂU NGÀY SẼ GÂY NHỮNG PHẢN ỨNG HÓA HỌC BẤT LỢI VỚI LỚP KIM LOẠI MẶT Ổ ĐĨA.

 

BẠN PHẢI GẮN Ổ ĐĨA CỨNG VÀO KHOANG 3.5-INCH TRONG THÙNG MÁY TRƯỚC KHI GẮN BẤT CỨ CÁP NÀO. KHI ĐƯA Ổ ĐĨA VÀO THÙNG MÁY, BẠN PHẢI LỰA THẾ VÀ CẨN THẬN ĐỂ KHÔNG GÂY ĐỤNG CHẠM, LÀM TỔN THƯƠNG CÁC CHIP VÀ LINH KIÊN KHÁC TRÊN MAINBOARD. SAU KHI BẮT ỐC CỐ ĐỊNH Ổ ĐĨA, BẠN MỚI TIẾN HÀNH GẮN CÁC CÁP DỮ LIÊU VÀ CÁP ĐIÊN VÀO CHÂN CẮM TƯƠNG ỨNG TRÊN Ổ ĐĨA VÀ TRÊN MAINBOARD.

 

BẠN HÃY KIỂM TRA KỸ LƯỠNG ĐỂ CÁC ĐẦU CÁP DỮ LIỆU VÀ CÁP ĐIỆN ĐƯỢC GẮN THẬT CHẶT VÀ THẬT KHÍT HOÀN TOÀN VỚI CÁC CHÂN CẮM. TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐƯỢC ĐỂ BẤT CỨ KHE HỞ NÀO GIỮA ĐẦU CẮM VÀ CHÂN CẮM.



CÁP ĐIỆN CỦA SATA HIỆN NAY ĐƯỢC THIẾT KẾ ĐỂ SỬ DỤNG VỚI CÁC BỘ NGUỒN ĐANG THÔNG DỤNG. NÓ GỒM MỘT ĐẦU ĐÚNG CHUẨN SATA (MÀU ĐEN) ĐỂ GẮN VÀO CHÂN CẮM NGUỒN TRÊN Ổ ĐĨA, VÀ MỘT ĐẦU NỐI 4 CHÂN (MÀU TRẮNG) ĐỂ BẠN NỐI VỚI MỘT ĐẦU CÁP ĐIỆN IDE 4 CHÂN CỦA BỘ NGUỒN.



TRÊN MAINBOARD CÓ THIẾT KẾ CÁC CHÂN CẮM SATA (CÓ GHI KÝ HIỆU VÀ THỨ TỰ CỤ THỂ). ĐỜI TRƯỚC CHỈ CÓ 2 CHÂN CẮM, NHƯNG TỪ HỆ THỐNG CHIPSET INTEL 915 VÀ 925 TRỞ ĐI, MAINBOARD CÓ TỚI 4 HAY 8 CHÂN CẮM SATA. TẤT CẢ CÁC CHÂN CẮM SATA NÀY ĐƯỢC CẤP ĐIÊN TỪ CHÍP CẦU NAM INTEL ICH6R SOUTHBRIDGE.

 

VIỆC GẮN CÁP DỮ LIỆU RẤT ĐƠN GIẢN. BẠN CHỈ VIỆC GẮN ĐẦU CÒN LẠI CỦA SỢI CÁP SATA VÀO MỘT CHÂN CẮM SATA TRÊN MAINBOARD. NẾU CHỈ CÓ MỘT Ổ ĐĨA SATA, BẠN GẮN VÀO CHÂN CẮM SỐ 1 (SATA 1). CHỈ CẦN BẠN CHÚ Ý XOAY CHIỀU ĐẦU CÁP CHO KHỚP VỚI CHÂN CẮM. THẬT RA CŨNG DỄ THÔI VÌ CHÂN CẮM VÀ ĐẦU CẮM ĐỀU ĐƯỢC THIẾT KẾ CÓ KHỚP ĐỊNH VỊ ĐỂ GIÚP BẠN KHÔNG THỂ GẮN LỘN CHIỀU. BẠN PHẢI GẮN ĐẦU CÁP SATA THẬT KHÍT HOÀN TOÀN VỚI CHÂN CẮM.

 

NẾU CÓ BAO NHIÊU Ổ ĐĨA SATA, BẠN GẮN BẤY NHIÊU ĐẦU CÁP VÀO CÁC CHÂN CẮM TRÊN MAINBOARD THEO THỨ TỰ TỪ SATA ĐẦU TIÊN.

 

GẮN Ổ ĐĨA QUANG OPTICAL DRIVE

Trong quy trình lắp ráp máy tính mới, sau khi ổ đĩa cứng đã được bạn cho “yên bề gia thất”, bạn tiến hành việc gắn ổ đĩa quang (nếu có). Ở đây, chúng ta vẫn còn xài ổ đĩa quang có giao diện IDE.

CÔNG VIỆC ĐẦU TIÊN BẠN PHẢI LÀM TRƯỚC KHI GẮN Ổ ĐĨA VÀO KHOANG LÀ KIỂM TRA VÀ NẾU CẦN THÌ CẤU HÌNH LẠI JUMPER XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ HOẠT ĐỘNG CỦA Ổ LÀ MASTER HAY SLAVE. CÁC Ổ ĐĨA QUANG TỐC ĐỘ CAO HIỆN NAY ĐỀU ĐƯỢC NHÀ SẢN XUẤT GẮN SẴN JUMPER Ở VỊ TRÍ MASTER. DO CHÚNG TA GẮN Ổ ĐĨA QUANG Ở MỘT CÁP TÍN HIÊU RIÊNG BIỆT VỚI Ổ ĐĨA CỨNG (HDD Ở CÁP PRIMARY IDE, CÒN Ổ ĐĨA QUANG SẼ Ở CÁP SECONDARY IDE), NÊN NẾU CHỈ CÓ MỘT Ổ ĐĨA QUANG, BẠN CỨ VIỆC ĐỂ JUMPER DEFAULT Ở MASTER. TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ 2 Ổ ĐĨA QUANG (NHƯ Ổ DVDROM VÀ CD-RW), BẠN PHẢI CẤU HÌNH MỘT Ổ Ở MASTER VÀ Ổ KIA Ở SLAVE. TRÊN CÁC Ổ ĐĨA QUANG CÓ GHI SẴN KÝ HIỆU VỊ TRÍ CỦA CHÂN CẮM JUMPER, PHỔ BIẾN LÀ MA (MASTER) VÀ SL (SLAVE). THƯỜNG THÌ MASTER NẰM NGAY SÁT CHÂN GẮN CÁP TÍN HIỆU. BÂY GIỜ, BẠN BẮT ĐẦU GẮN Ổ ĐĨA QUANG VÀO MỘT KHOANG 5,25- INCH CỦA THÙNG MÁY. BẠN MỞ NẮP NHỰA CHE MỘT KHOANG 5,25-INCH. THƯỜNG LÀ PHẢI BẺ LUÔN CẢ MIẾNG CHE BẰNG KIM LOẠI PHÍA TRONG KHOANG. KHÁC VỚI Ổ ĐĨA CỨNG PHẢI GẮN TỪ BÊN TRONG THÙNG MÁY VÀ TỪ SAU ĐẨY RA TRƯỚC, Ổ ĐĨA QUANG ĐƯỢC GẮN TỪ PHÍA TRƯỚC KHOANG ĐẨY VÀO TRONG.

 

BẮT CÁC ỐC VÍT (THƯỜNG LÀ LOẠI NHỎ, KÈM THEO Ổ) ĐỂ CỐ ĐỊNH Ổ VÀO THÂN THÙNG MÁY. KHÔNG DÙNG LOẠI ỐC LỚN CÓ THỂ LÀM TUÔN RĂNG CỦA LỖ BẮT ỐC TRÊN THÂN Ổ ĐĨA.

 

CỐ ĐỊNH XONG Ổ ĐĨA, BẠN BẮT ĐẦU GẮN CÁC CÁP CHO NÓ. ĐẦU TIÊN LÀ CÁP ÂM THANH. BẠN CẮM ĐẦU CÁP THEO ĐÚNG CHIỀU (CÓ NGÀM SẴN) VÀO CHÂN CẮM AUDIO OUTPUT Ở PHÍA SAU Ổ ĐĨA. CHÂN CẮM TÍN HIỆU ANALOG THƯỜNG NẰM SÁT VỊ TRÍ CÁC JUMPER.

 


RỒI GẮN ĐẦU BÊN KIA CỦA CÁP TÍN HIỆU ÂM THANH VÀO CHÂN CẮM CD-IN TRÊN MAINBOARD (NẾU DÙNG ÂM THANH TÍCH HỢP ON-BOARD) HAY VÀO CHÂN CẮM CD-IN CỦA SOUND CARD.

 

GẮN MỘT ĐẦU CÁP DỮ LIỆU (ĐẦU Ở PHẦN CÁP DÀI NHẤT) VÀO CHÂN CẮM IDE (NẾU CÓ MỘT Ổ HDD IDE, BẠN CHỌN CHÂN CẮM SECONDARY IDE CHO Ổ ĐĨA QUANG) CẨN THẬN GẮN CHO ĐÚNG CHIỀU ĐẦU CẮM CÁP. NHÀ SẢN XUẤT ĐÃ THIẾT KẾ SẴN MẤU ĐỊNH VỊ TRÊN MỘT CẠNH ĐẦU CÁP KHỚP VỚI KHE CẮT ĐỊNH VỊ TRÊN CHÂN CẮM. KIỂM TRA LẠI XEM CÁP DỮ LIỆU ĐÃ ĐƯỢC GẮN CHÍNH XÁC KHÔNG (LỌT HOÀN TOÀN VÀO CHÂN CẮM).

 

GẮN ĐẦU KIA CỦA CÁP DỮ LIÊU VÀO Ổ ĐĨA QUANG.

 

CHÚ Ý CHIỀU CÁP. CẠNH CÁP CÓ ĐÁNH DẤU (SỌC ĐEN HAY ĐỎ HAY TRẮNG) PHẢI GẮN VÀO CHÂN SỐ 1 (PIN 1) CỦA Ổ CHÂN CẮM CÁP DỮ LIỆU TRÊN Ổ ĐĨA QUANG (NẰM SÁT BÊN Ổ CHÂN CẮM ĐIỆN IDE 4 CHÂN).GẮN MỘT ĐẦU CÁP CẤP ĐIỆN IDE 4 CHÂN CỦA BỘ NGUỒN VÀO Ổ CHÂN CẮM ĐIỆN CỦA Ổ ĐĨA QUANG. CHÚ Ý GẮN ĐÚNG CHIỀU (HAI CẠNH ĐƯỢC VẠT GÓC CỦA ĐẦU CẮM KHỚP VỚI HAI GÓC XÉO CỦA Ổ CHÂN CẮM). MẸO NHỎ: HAI DÂY CÁP ĐIỆN MÀU VÀNG CỦA ĐẦU CÁP LUÔN NẰM Ở PHÍA NGOÀI, SÁT CẠNH CỦA Ổ ĐĨA QUANG.

 

KHI CẦN PHẢI GỠ CÁP DỮ LIỆU RA KHỎI Ổ ĐĨA QUANG, BẠN TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐƯỢC NẮM SỢI CÁP GIẬT MẠNH RA MÀ PHẢI CẦM Ở ĐẦU CÁP BẰNG NHỰA LẮC NHẸ SANG HAI BÊN ĐỂ GỠ CÁP RA. (MỘT SỐ HÃNG MAINBOARD NHƯ GIGABYTE CẨN THẬN ĐÃ GẮN THÊM MỘT MẨU GIẤY NHỰA ĐỂ GIÚP GỠ CÁP DỄ DÀNG HƠN). SỞ DĨ PHẢI CẨN THẬN VÌ VIÊC GIẬT MẠNH TRỰC TIẾP SỢI CÁP CÓ THỂ LÀM TỔN THƯƠNG HAY ĐỨT CÁC SỢI CÁP PHÍA BÊN TRONG, TUY Ổ ĐĨA VẪN HOẠT ĐỘNG ĐƯỢC, NHƯNG DỄ XẢY RA CÁC SỰ CỐ TRUYỀN DỮ LIỆU (ĐẶC BIỆT NGUY HIỂM ĐỐI VỚI Ổ GHI ĐĨA).

 

Việc gắn các ổ đĩa cứng giao diện IDE cũng tương tự như vậy. Chỉ khác là không có cáp âm thanh mà thôi. Bạn chú ý là khi đưa ổ HDD vào khoang, cần phải thật cẩn thận để không làm tổn thương các chíp, chân cắm,... trên mainboard.

GẮN Ổ ĐĨA MỀM

Ổ đĩa mềm (Floppy Disk Drive, FDD) bây giờ không còn thông dụng nữa rồi. Để boot máy, người ta đã chuyển sang đĩa CD (híc, giờ còn rẻ hơn đĩa mềm). Còn để chép dữ liệu thì đã có các ổ FlashDrive. Nhưng nói vậy chứ không phải ta đã có thể “cắt đứt dây chuông” tuyệt đối với FDD. Chẳng hạn khi sử dụng chức năng RAID như một đĩa boot, bạn vẫn cần phải có một ổ FDD trong hệ thống. Nói đâu xa, trong quá trình cài đặt Windows, nếu mainboard có hỗ trợ RAID hay thậm chí với một số mainboard xài chíp điều khiển SerialATA riêng (nhất là khi không dùng chipset Intel có hỗ trợ sẵn SATA), bạn phải bổ sung thêm driver của RAID hay SATA từ nguồn duy nhất là đĩa mềm kèm theo mainboard.

 

Hiện nay, hầu như các thùng máy (case) đều thiết kế sẵn khe nạp đĩa mềm cố định ở panel phía trước (bạn không còn phải mất công gỡ miếng che nhựa phía trước thùng máy ra). Để gắn FDD, bạn đưa ổ đĩa từ phía trong thùng máy đẩy ra phía trước khoang 3,5-inch.

Do FDD nằm lọt tuốt phía trong khoang, bạn cần phải gắn các cáp cho nó trước khi bắt vít.

Cả ổ chân cắm dữ liệu lẫn cáp dữ liệu của FDD đều khác hẳn IDE. Cáp dữ liệu FDD có 34 chân.

 

Cắm một đầu cáp dữ liệu FDD vào ổ chân cắm trên FDD. Nếu sợi cáp có một đầu chẻ ra và xoắn chéo thì bạn nhớ gắn phần đầu cáp đó vào ổ FDD.

Chú ý cho đúng chiều: cạnh sọc màu (thường là màu đỏ) trên sợi cáp phải khớp với chân số 1 (chân dưới bên trái). Nếu gắn không đúng chiều, FDD sẽ không đọc được dữ liệu (chỉ việc tắt máy và đảo chiều cáp là xong).

Gắn cáp điện là việc khó khăn và nguy hiểm. Vì nếu gắn không chính xác, chệch chân, có thể gây chạm điện làm cháy không chỉ ổ FDD mà cả mainboard nữa. Cũng may là hầu hết các nhà sản xuất FDD sau này đã rút kinh nghiệm thiết kế thêm ngàm định vị ở vị trí các chân cắm điện. Bạn cắm đầu cáp điện FDD (4 chân) của bộ nguồn vào các chân cắm điện trên FDD. Chú ý các ngàm định vị và dây màu đỏ nằm ở mép ngoài, sát của ổ FDD.

Bắt tạm hai ốc vít cố định ổ FDD vào thùng máy. Kiểm tra xem việc nạp đĩa có tốt không bằng cách đẩy ổ FDD sát ra phía trước và dùng một đĩa mềm 1.44MB nạp vào rồi nhấn phím đẩy (eject) xem chiếc đĩa có được ổ “tống” ra không. Nếu hoàn hảo, bạn siết chặt các ốc vít.

Bây giờ mới tới lúc gắn đầu cáp dữ liệu vào ổ chân cắm FDD trên mainboard. Nếu cáp có một đầu xoắn thì bạn phải gắn đầu không bị xoắn vào mainboard. Cũng chú ý để cạnh có sọc đánh dấu của cáp khớp với chân số 1 của ổ chân cắm. Tuy vậy, bạn yên tâm vì nhà sản xuất ngày nay đã thiết kế sẵn các chấu và khe định vị giúp người dùng gắn cáp chính xác. Điều này đặc biệt cần thiết khi dùng cáp thế hệ mới là cáp tròn (rounded cable) thay cho cáp dẹt (flat cable).

 

Vậy là bạn đã hoàn tất việc gắn ổ FDD.

Gắn bộ nhớ cho máy tính

Sau khi gắn xong CPU và quạt, bạn bắt đầu việc gắn các thanh bộ nhớ hệ thống vào các slot DIMM trên mainboard. Trên mainboard của Gigabyte và một số hãng khác, các khe DIMM được phân biệt bằng màu sắc khác nhau giúp bạn dễ dàng cấu hình Dual Channel (bộ nhớ kênh đôi) hơn. Cần nhớ là tùy mỗi hãng mà có mã màu khác nhau. Thí dụ, có mainboard dùng một màu cho mỗi kênh. Có mainboard dùng màu để đánh dấu các khe DIMM tương ứng trong hai kênh để cấu hình Dual. Mainboard Gigabyte thuộc loại thứ hai này đó. Vì thế, để cấu hình Dual, bạn chỉ việc gắn hai thanh DDR vào hai slot DIMM có cùng màu với nhau.

Cũng giống như hầu hết mainboard khác dựa trên hai bộ chipset Intel 915G Express và Intel 915P Express, Gigabyte GA-8GPNXP Duo hỗ trợ cả hai loại bộ nhớ DDR (2,5V) và DDR2 (1,8V). Tuy nhiên, bạn chỉ được phép dùng một trong hai loại, hổng được “chung chạ” à nghen. Cụ thể là bạn có thể tận dụng DDR400 đang có hay tậu mới DDR2-533. Mainboard có tới 6 slot DIMM, trong đó có hai slot màu vàng nhạt dành cho DDR2.



Để bảo đảm được tính tương thích và sự ổn định tốt nhất cho bộ nhớ, bạn cần tuân thủ nguyên tắc sau đây: Các cặp DDR phải cùng một hãng sản xuất; cùng một dung lượng (như thanh 256MB, 512MB,..); cùng tốc độ (như DDR333, DDR400,...); cùng số lượng con chip bộ nhớ trên thanh RAM và cùng số mặt (như loại một mặt singlesided, hay hai mặt double-sided).

- Lý tưởng nhất là mua hai thanh DDR, chạy cặp này cùng một lúc với nhau để bảo đảm chúng cùng được gắn các con chíp nhớ có cùng một lô sản xuất. Nếu mua được hai thanh DDR trong bộ kit Dual do hãng sản xuất bộ nhớ cung cấp sẵn, tính tương thích và ổn định là tối ưu.


BỘ KIT 2 THANH DDR2-533 CỦA MUSHKIN.

Tóm lại, lý tưởng nhất là khi muốn gắn thêm một cặp DDR nữa vào mainboard, bạn nên tìm mua loại cùng nhãn hiệu, tốc độ và số mặt (DDR một mặt hay hai mặt) như cặp DDR đang có sẵn.

MAINBOARD GIGABYTE GA- 8GPNXP DUO CÓ TỚI 6 SLOT DIMM. HAI CẶP CHO DDR400 2,5V (MÀU CAM VÀ MÀU TÍM) VÀ MỘT CẶP CHO DDR2-533 1,8V (MÀU VÀNG NHẠT).



HÃY CHÚ Ý CÁC VỊ TRÍ KHÁC NHAU CỦA CÁC KHẤC ĐÁNH DẤU (NOTCH) CHO CÁC LOẠI DDR VÀ DDR2. TRONG ẢNH, KHE DIMM MÀU VÀNG NHẠT LÀ DÀNH CHO DDR2. HAI SLOT DIMM MÀU CAM VÀ TÍM LÀ CHO DDR.



TRONG BÀI NÀY, CHÚNG TÔI SỬ DỤNG HAI THANH DDR2- 533 VALUERAM (KVR533D2N4/ 512) 512MB CỦA HÃNG KINGSTON.



TRƯỚC TIÊN, BẠN BẬT HAI NGÀM KHÓA (MÀU TRẮNG) Ở HAI ĐẦU SLOT DIMM RA PHÍA NGOÀI. TƯƠNG TỰ NHƯ KHI GẮN HẦU HẾT CÁC LOẠI RAM KHÁC, BẠN PHẢI GIỮ THANH DDR BẰNG CẢ HAI TAY VÀ ẤN THEO CHIỀU THẲNG ĐỨNG NÓ VÀO KHE DIMM.



BẠN PHẢI LUÔN LUÔN CHẮC CHẮN RẰNG KHE CẮT LÕM TRÊN CẠNH CHÂN THANH DDR NẰM CHÍNH XÁC VỚI VỊ TRÍ KHẤC ĐÁNH DẤU TRÊN KHE CẮM. KHẤC NÀY ĐƯỢC THIẾT KẾ ĐỂ BẢO ĐẢM BẠN CHỈ CÓ THỂ ẤN THANH DDR VÀO THEO MỘT HƯỚNG. NÓ CŨNG GIÚP PHÒNG TRÁNH VIÊC GẮN NHẦM THANH DDR2 VÀO BẤT CỨ KHE DDR NÀO.



ĐỂ GẮN DDR, BẠN ẤN THẲNG ĐỨNG THANH DDR XUỐNG KHE CHO TỚI KHI NÀO HAI NGÀM KHÓA (MÀU TRẮNG) Ở HAI ĐẦU SLOT BẬT VÀO KHỚP VỚI CÁC KHE CẮT Ở HAI ĐẦU THANH DDR.



THƯỜNG LÀ BẠN SẼ NGHE CÓ MỘT TIẾNG “CLICK” NHỎ BÁO NGÀM ĐÃ KHÓA ĐƯỢC THANH DDR. ĐỂ TRÁNH SỰ CỐ ĐÁNG TIẾC LÀ THANH DDR KHÔNG ĐƯỢC GẮN HOÀN TOÀN VÀO KHE (CÓ THỂ GÂY CHẠM ĐIÊN VÀ CHÁY), BẠN CẦN KIỂM TRA CHẮC CHẮN CÁC NGÀM KHÓA ĐÃ TRỞ VỀ VỊ TRÍ THẲNG ĐỨNG VỚI THANH DDR.

TỚI KHI MUỐN GỠ THANH RAM RA, BẠN BẬT HAI NGÀM MÀU TRẮNG Ở HAI ĐẦU KHE DIMM RA PHÍA NGOÀI ĐỂ BẨY THANH RAM LÊN. CŨNG NHẤC THANH RAM LÊN THEO PHƯƠNG THẲNG ĐỨNG





Khắc phục những sự cố thông thường của ổ đĩa quang



Dấu hiệu

Lý do có thể

Chẩn đoán và khắc phục

Không thể bật nguồn cho máy tính

Mất nguồn

- Kiểm tra dây cấp điện nguồn của ổ đĩa có nối với cáp điện bộ nguồn PSU chưa?

- Tất cả cáp cấp điện đều bảo đảm đấu nối tốt?



- Kiểm tra PSU có hoạt động không, quạt nguồn có quay không?

Các thiết bị IDE xung đột

Kiểm tra lại cáp IDE xem có cắm chính xác không? và set jumper chính xác.

Ổ đĩa không có dấu hiệu hoạt động

Không thể đọc được đĩa

Thử nghe xem có tiếng đĩa quay không? Nếu đĩa quay mà vẫn không đọc được, thử với đĩa khác tốt hơn. Nếu vẫn không đọc được, có thể mắt đọc hoặc motor có vấn đề.

FlashROM bị hư do cập nhật firmware không đúng

Đèn LED phía trước sáng liên tục trong quá trình boot, vẫn có thể Flash lại firmware mới. Tải đúng phiên bản từ Website chính thức của nhà sản xuất và cẩn thận làm chính xác theo hướng dẫn.

Không thể đóng khay đĩa hoặc khay đĩa không đẩy ra được

Mất nguồn

Kiểm tra nguồn cấp điện đằng sau ổ đĩa.

Nút Eject bị trục trặc hoặc dây curoa giãn

Kiểm tra lại nút Eject còn nhạy không? thay dây curoa nếu cần.

FlashROM bị hư

Tải firmware mới về để flash lại.

Khay đĩa không ngay ngắn

Bị tác động của ngoại lực trong quá trình đóng/mở khay. Thông thường sẽ không được bảo hành trong trường hợp như vậy

Đĩa bị bể, vỡ

Đĩa bị vỡ trong khi đang quay, các mảnh vụn gây kẹt. Dùng cây kim  chọt vào lỗ nhỏ ở mặt trước đĩa để đẩy khay đĩa ra. Dọn sạch mảnh vỡ trước khi đóng vào.

Ổ đĩa gây tiếng ồn

Tiếng ồn khi đóng/mở khay đĩa

Do các bánh răng truyền động giữa motor và khay đĩa, các ổ đĩa dùng dây curoa sẽ êm hơn.

Tiếng ồn phát ra từ phần nào đó ở bên trong của ổ đĩa khi hoạt động

Hệ thống cân bằng tự động cho motor khi quay, để giảm sự rung và tiếng ồn khi hoạt động ở tốc độ cao. Cơ chế chính nằm ở vòng tròn chứa các viên bi  kim loại có thể di chuyển tự do và lực ly tâm sẽ khiến đĩa trở nên cân bằng hơn. Khi không quay, những viên bi này lăn tự do sẽ tạo nên một số tiếng ồn nhỏ trong ổ đĩa.

Tiếng hú khi bắt đầu cho đĩa vào

Tiếng ồn là do các viên bi di chuyển giữa các vị trí để tái tạo sự cân bằng.

Tiếng hú trong quá trình đọc đĩa

Vì nhiều lý do, tốc độ quay của motor trong khi đọc thường xuyên được thay đổi. Trong suốt quá trình này, các viên bi sẽ được sắp xếp lại để đảm bảo sự cân bằng.

Tiếng ồn không đều

Khi đĩa bắt đầu quay, trước khi motor chuyển sang trạng thái quay cân bằng bình thường có thể có tiếng ồn không đều là do đĩa không thật sự đồng đều về độ phẳng, có thể hơi bị cong, đây là điều bình thường.

Tiếng ồn dị thường

Bất cứ tiếng kêu phát ra do va chạm đều không bình thường. Hãy mang đến dịch vụ bảo hành để kiểm tra.

Máy tính không thể nhận diện được ổ đĩa

BIOS không thể nhận ra ổ đĩa

- Kiểm tra lại cáp IDE ở mặt sau xem có gắn chính xác hay không?

- Kiểm tra jumper xem có bị trùng lặp? Lưu ý chỉ có một Master và một Slaver trên cùng một kênh IDE



Không thấy ổ đĩa trong môi trường DOS

Tải driver dùng trong môi trường DOS về và nhớ nạp nó lúc khởi động.

Không thấy ổ đĩa trong môi trường Windows

Kiểm tra lại “IDE BUS controller” trong BIOS mainboard để chắc chắn rằng cả hai kênh IDE đều đã được bật lên (enable).

Không thể đọc đĩa

Bề mặt đĩa có thể bị dơ

Lau lại bề mặt đĩa bằng loại vật liệu mềm như dạ để tránh làm trầy xước. Lau từ trong ra ngoài, không lau theo vòng tròn.

Đĩa bị hỏng, trầy xước

Ổ đĩa không thể đọc được đĩa bị hỏng do ghi không đúng hoặc bị trầy xước quá nhiều. Hãy giữ gìn đĩa của bạn cẩn thận.

Không đúng định dạng

Hãy chắc chắn rằng ổ đĩa của bạn cũng hỗ trợ định dạng được ghi trên CD.

Chơi nhạc không bình thường

Kết nối trên kênh IDE có vấn đề

Kiểm tra lại cáp kết nối với kênh IDE.

Cáp Audio

Kiểm tra cáp audio có cắm đúng vị trí ở trên ổ đĩa và trên sound card.

Card âm thanh hoặc loa

Kiểm tra card âm thanh, speaker có được thiết lập đúng và các chức năng hoạt động bình thường hay không.

Tốc độ truyền thấp hơn thiết kế

Đĩa ghi không đầy

Ổ đĩa dùng công nghệ CAV để đọc đĩa, do vậy tốc độ truyền dữ liệu chỉ đạt maximum ở vị trí ngoài cùng (từ vị trí phút 70 trở đi).

Kiểm tra trong môi trường không thích hợp

Tốc độ truyền tối đa chỉ đạt ở những track ngoài cùng của đĩa.

Tiện ích kiểm tra phải test cả track ngoài cùng, và đĩa phải được ghi đúng chuẩn test.



Thiết lập trong Windows chưa tối ưu

Chế độ DMA/UDMA có bật hay không? Nếu không, hãy bật nó lên (vào Control panel).

Chất lượng đĩa không tốt (do nhà sản xuất hay do bảo quản)

Cất giữ đĩa cẩn thận, tránh làm dơ, trầy xước hoặc gần nguồn nhiệt, ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp.

Không thể cập nhật firmware mới

Firmware mới không phù hợp với model hiện đang dùng

Kiểm tra lại model ổ đĩa đang dùng và phiên bản firmware đã tải về. Hãy download từ Website chính thức của nhà sản xuất.

Sự cố sau khi cập nhật firmware

Bị gián đoạn trong khi Flash Firmware

Quá trình Flash Firmware có thể bị gián đoạn bởi điện yếu hoặc hệ thống shutdown bất ngờ. Hãy thực hiện lại. Nếu không được, gửi đến dịch vụ bảo hành.

Cập nhật không đúng

Đọc lại và làm theo hướng dẫn Flash Firmware của chính nhà sản xuất loại ổ đĩa bạn dùng.

(Theo tài liệu của hãng LiteOn – sản xuất thiết bị Optical Drive dạng OEM cho Compaq, Sony, Gigabyte, TDK, v.v...).

Vận chuyển ổ đĩa cứng cho an toàn



Cách cầm nắm một ổ đĩa cứng

Board mạch của ổ đĩa cứng (HDD) do các linh kiện rất nhỏ tạo thành. Các linh kiện này rất mỏng manh. Khi cầm HDD không đúng cách, ta có thể làm chúng bể hoặc nứt, cũng như trầy sướt các chân mà mắt thường khó phát hiện được, gây ra hiện tượng HDD không còn được máy tính “nhìn thấy” (không detect được).

Cách cầm nắm một HDD đúng cách là cầm vào hai bên cạnh của ổ đĩa, không được chạm tay vào board mạch, cũng như hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp với ổ đĩa.



Bảo vệ chống hiện tượng tĩnh điện

Cơ thể chúng ta có thể sản xuất ra tĩnh điện bất cứ lúc nào, cho nên khi tiếp xúc với HDD, ta cần phải có dụng cụ bảo vệ hiện tượng tĩnh điện như : bao tay và thiết bị chống tĩnh điện. Nếu không có dụng cụ bảo vệ thì nên chạm tay vào thùng máy (để khử tĩnh điện) trước khi tiếp xúc với HDD. Nếu hiện tượng tĩnh điện xảy ra, dễ gây ra hiện tượng nổ chíp và hư đầu đọc.

Bảo vệ chống hiện tượng phóng điện

Vì board mạch được thu gọn lại rất nhỏ, khi tiếp xúc với board mạch, chúng ta có thể vô tình làm các hoa chất và mồ hôi dính lên board khiến cho hiện tượng dẫn điện xảy ra gây chạm mạch (nổ chip). Cáp nguồn lỏng lẻo sẽ gây nẹt tia lửa điện và cũng gây ra hiện tượng nổ chíp.



Sử dụng, bảo quản và vận chuyển đúng cách

Khi sử dụng phải nhẹ nhàng, gắn ổ cứng vào máy tính một cách cố định. Khi gắn cáp tín hiệu và cáp nguồn phải gắn nhẹ nhàng, ngay thẳng để khỏi bể miếng nhựa và gãy chân trên board mạch.

Đừng bao giờ dựng đứng một ổ cứng vì dễ bị ngã và phải hạn chế tiếp xúc nhiều với nó. Khi vận chuyển một ổ cứng phải bỏ vào bao chống tĩnh điện do nhà sản xuất cung cấp khi mua.

Khi vận chuyển nhiều ổ cứng, chúng ta nên đặt chúng vào thùng có mốp bảo vệ, để tránh sự va chạm có thể xảy ra. Khi lấy ra chỉ được cầm vào cạnh của ổ cứng. Tuyệt đối không nên bỏ ổ cứng trong giỏ xe hay kẹp vào gác-ba-ga của xe.

Không được rung, lắc hay lấy ổ cứng ra khỏi máy khi nó đang hoạt động. Chỉ sau khi HDD dừng hoạt động khoảng mười giây mới được tiếp xúc và phải có dụng cụ bảo vệ khử tĩnh điện. Sau khi tắt máy, ta phải đợi chừng 30 giây sau mới khởi động lại.

11 biện pháp giữ an toàn cho HDD

Khi mang ổ cứng đi bảo hành, ta nên xem như mình đang cầm trên tay một ổ cứng mới. Nên tuân thủ đúng cách cầm nắm cũng như vận chuyển và đóng gói. Nếu làm sai, nơi bán và nhà sản xuất có thể từ chối bảo hành.

1. Hạn chế số lần cầm nắm, tháo ráp, cũng như vận chuyển càng ít càng tốt.

2. Đừng bao giờ vận chuyển ổ cứng mà không đặt chúng trong bao chống tĩnh điện.

3. Hãy nghĩ rằng ổ cứng của chúng ta rất mỏng manh, hãy sử dụng cẩn thận.

4. Phải bảo vệ HDD khỏi hiện tượng sốc tĩnh điện và phóng điện.

5. Không chồng các ổ cứng lên nhau.

6. Sau khi máy tính ngưng hoạt động ít nhất mười giây, chúng ta mới tháo ổ cứng ra.

7. Hạn chế sự va chạm mạnh đối với ổ cứng.

8. Đừng bao giờ sờ vào mặt ngang ổ cứng mà chưa có sự bảo vệ tĩnh điện.

9. Đừng dựng đứng ổ cứng, mà nên đặt nằm.

10. Không bao giờ lấy ổ cứng ra khi nó đang hoạt động.

11. Khi gắn ổ cứng vào máy tính, bạn nên đặt nó vào nhẹ nhàng, cắm cáp tín hiệu và cáp nguồn ngay thẳng, nếu không sẽ gây ra hiện tượng gãy chân nguồn và bể miếng nhựa.

(Theo tài liệu hướng dẫn về ổ cứng Maxtor của Công ty AceCom Indochine)




Phân biệt RAM

SINGLE-SIDED VÀ DOUBLE-SIDED:

RAM (chủ yếu là SDRAM và DDR) được đóng gói với hai hình thức chỉ gắn các chíp bộ nhớ lên một mặt thanh bo mạch (gọi là RAM một mặt, Single-sided) hay gắn trên cả hai mặt bo mạch (RAM hai mặt, Double-sided). Nhưng không phải nhà sản xuất muốn gắn một hay hai mặt tùy ý, mà phải tùy theo cấu trúc của module RAM.

LONG DIMM VÀ SODIMM:

Các thanh RAM dành cho máy tính để bàn có nguyên khổ nên gọi là LONG DIMM. Còn loại xài cho máy tính xách tay có kích thước ngắn hơn gọi là SODIMM (Small Outline DIMM, DIMM có viền ngoài nhỏ). SDRAM SODIMM có 144 chân, trong khi DDR SODIMM và DDR2 SODIMM có 200 chân.

BGA VÀ TSOP:

Đây là cách gắn các con chíp bộ nhớ lên thanh bo mạch. BGA (Ball Grip Array) là công nghệ dán chíp lên bo mạch, được giới thiệu là ưu việt hơn, tản nhiệt tốt hơn, nhiệt độ thấp hơn và có khả năng đạt tốc độ cao hơn, cũng như với kích thước nhỏ hơn. Còn TSOP (Thin Small Outline Packages) là công nghệ cũ hàn các con chíp lên bo mạch ( t r ô n g giống như những con bọ với vô số chân tua tủa các bên mép).

SDRAM:

SDRAM (Synchronous DRAM) là bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động đồng bộ). Đây là thế hệ bộ nhớ chủ yếu của Pentium III trở về trước. Gia đình chipset Pentium 4 đầu tiên của Intel là i845 cũng hỗ trợ bộ nhớ này, nhưng phải là SDRAM 133MHz hay còn gọi là PC133 – đây cũng chính là tốc độ cao nhất của SDRAM được chính thức hỗ trợ.

RAMBUS:

Chính xác phải gọi là RDRAM (Rambus Dynamic Random Access Memory, bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động Rambus) hay DRDRAM (Ditrect RamBus). Như tên gọi của mình, Rambus là một dạng bộ nhớ khác hẳn các loại RAM bình thường. Nói cho chính xác, đây là một hệ thống phụ về bộ nhớ (memory subsystem). Nó bao gồm bộ nhớ RAM, bộ điều khiển RAM, và bus nối RAM với CPU và các thiết bị trong máy tính sử dụng Rambus. Tuy chạy nhanh, khỏe, nhưng quá mắc (do hãng Rambus thu tiền bản quyền sáng chế), nên Rambus “chết yểu”. Tốc độ cao nhất được bán trên thị trường là 800MHz (PC800). Intel chỉ đưa ra hai chipset máy để bàn hỗ trợ Rambus là i820 và i850. Vì thế, RDRAM PC1066 là tốc độ cuối cùng của Rambus, nhưng chỉ có vài hãng sản xuất và “ngậm” luôn làm ... kỷ niệm.

Vì tốc độ quá nhanh nên nhiệt độ rất cao, Rambus phải được trang bị thêm một miếng nhôm tản nhiệt. Rambus có hai loại RDRAM (16-bit, gồm PC-600, PC- 800, PC-1066) có 184 chân và RIMM (32-bit, gồm RIMM 3200, RIMM 4200) có 232 chân.



DDR SDRAM:

Double Data Rate SDRAM hay DDRAM (bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động đồng bộ tốc độ dữ liệu gấp đôi) là thế hệ bộ nhớ mới đang thịnh hành và là bộ nhớ chính của các hệ thống Pentium 4.

DDR hay DDR SDRAM thế hệ đầu có tốc độ tối đa là 400MHz/ PC-3200 (200MHz/PC-1600, 266MHz/PC-2100, 333MHz/PC- 2700) và thanh DDR có 184 chân.

DDR2 hay DDR SDRAM thế hệ thứ hai hiện có hai tốc độ chính 400MHz (DDR2-400/PC2-3200) và 533MHz (DDR2-533/PC2- 4300). Một số hãng cũng đã đưa ra loại 667MHz (DDR2-667/PC2- 5300). Thanh DDR2 có 240 chân.



DIMM, Module và CHIP, RAM, ROM, DRAM, SRAM, SDRAM

DIMM:

Viết tắt từ thuật ngữ tiếng Anh Dual-In-line Memory Modules (đơn vị bộ nhớ trực tuyến đôi), DIMM thường dùng trong tên gọi của những khe cắm (slot) bộ nhớ trên bo mạch chủ. Đó là hai thanh nhựa chạy song song kẹp phía giữa là hai hàng tiếp điểm bằng kim loại dạng lò xo để tiếp xúc với chân cắm thanh RAM. Số tiếp điểm tương ứng với số chân trên thanh RAM.



Bạn thử tham khảo cách người ta mô tả việc gắn bộ nhớ như sau: gắn DDR Module vào DIMM Slot (gắn thanh DDR vào khe cắm DIMM).

SODIMM (Small Outline DIMM, DIMM có viền ngoài nhỏ) là dạng DIMM ngắn dùng trong máy tính xách tay.

MODULE VÀ CHIP:

Khi nói về bộ nhớ RAM, người ta phân biệt rõ module (thanh nhựa, hay gọi là bo mạch, có gắn các con chip) và chip (miếng silicon chứa mạch điện tử siêu nhỏ gắn trên thanh nhựa). Như vậy, DDR Module là thanh bộ nhớ DDR hoàn chỉnh, còn DDR chip là con chip bộ nhớ DDR. Việc xử lý dữ liệu nằm ở các con chip, còn các bo mạch (board) chỉ đơn thuần là giao diện kết nối và tiếp xúc.

RAM:

Random Access Memory (bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên) là nơi máy tính sử dụng để lưu trữ tạm thời dữ liệu cho các chương trình đang chạy, hay các file đang mở để giúp CPU xử lý tốt nhất. RAM dùng để chỉ bộ nhớ chính của hệ thống. Thuật ngữ RAM còn được hiểu là Read-And-write Memory (bộ nhớ có thể đọc và ghi). Nghĩa là bạn có thể ghi dữ liệu vào RAM và đọc dữ liệu từ RAM. RAM phải được nuôi bằng nguồn điện. Khi máy tính tắt, các dữ liệu trong RAM cũng tiêu đời nhà ma. Nó trái ngược với bộ nhớ ROM.

ROM:

Đúng như tên cúng cơm của mình, Read Only Memory, ROM là dạng bộ nhớ chỉ có thể đọc dữ liệu chứa sẵn trong nó. Để nạp dữ liệu vào ROM, người ta cần phải dùng thiết bị chuyên dùng, gọi nôm na là “nạp ROM”. Nhờ vậy mà dữ liệu chứa trong ROM không bị mất đi dù cho máy tính ngưng hoạt động. Đây chính là dạng bộ nhớ dùng cho BIOS của bo mạch chủ. Các máy tính luôn có một lượng nhỏ ROM lưu giữ các lệnh cho việc khởi động hệ thống.

DRAM:

DRAM (đọc là đi-ram) viết tắt từ Dynamic Random Access Memory (bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên động). Đây là dạng RAM phải được phục hồi (hay còn gọi là làm tươi, refresh) thường xuyên theo các định kỳ.

SRAM:

Khác với DRAM, SRAM (Static Random Access Memory, đọc là éts-ram, bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên tĩnh) là một dạng bộ nhớ nhanh hơn và có độ tin cậy cao hơn DRAM nói chung. Thuật ngữ “tĩnh” là để chỉ việc bộ nhớ SRAM không cần phải được làm tươi (refresh) như DRAM. Vì sao nhanh hơn? Trong khi DRAM hỗ trợ thời gian truy cập khoảng 60 nanoseconds (ns), SRAM có thể cho phép truy cập với thời gian thấp chỉ 10ns. Thời gian chu kỳ (cycle time) của SRAM cũng ngắn hơn rất nhiều so với DRAM vì nó không cần phải “xả hơi” (pause) giữa các lần truy cập. Ngặt một nỗi là chi phí sản xuất SRAM đắt hơn DRAM rất nhiều nên nó chỉ được dùng làm bộ nhớ đệm (cache).

SDRAM:

Viết tắt từ Synchronous DRAM, SDRAM là bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động đồng bộ. Đây là một dạng DRAM có thể chạy với các tốc độ xung nhịp (clock speed) cao hơn nhiều so với bộ nhớ thường. Chẳng hạn, SDRAM 133MHz có tốc độ nhanh hơn 3 lần FPM RAM cơ bản, hơn 2 lần so với EDO RAM và BEDO RAM.

Gọi là đồng bộ vì SDRAM thật sự đồng bộ chính nó với bus của CPU.




Một số kinh nghiệm cài đặt phần cứng



Phần cứng (hardware) nói chung là những thiết bị được gắn vào máy ví dụ như card màn hình, card âm thanh, modem, máy in, máy scan, webcam... Để phần cứng hoạt động được chính xác, bạn cần phải cài đặt trình điều khiển thiết bị (driver) cho nó. Có những phần cứng không cần driver như ổ đĩa cứng (HDD), ổ đĩa mềm (HDD), ổ đĩa CD, Ram... do BIOS của mainboard có thể tự nhận biết được.

Để gắn thiết bị vào máy tính, chỉ cần trình độ trung bình là có thể gắn được. Có những thiết bị được gắn vào máy tính phía bên ngoài mà không cần mở thùng máy, tùy theo đầu cắm của thiết bị mà ta chọn cổng cắm thích hợp, là COM, LPT hoặc USB, không sợ nhầm vì các cổng này kích thước khác nhau. Có những thiết bị phải mở thùng máy mới gắn được, nhưng cũng không phức tạp lắm, chỉ cần chọn khe thích hợp với card phần cứng đó, và bạn cũng không sợ cắm lộn vì kích cỡ các khe này cũng khác nhau. Thông dụng có 3 loại khe cắm là ISA – màu đen, PCI – màu trắng và AGP – màu nâu (AGP chỉ dùng cho card màn hình, bạn phải xem tài liệu của mainboard để biết nó hỗ trợ 2X hoặc 4X, 8X). Khi gắn thiết bị vào hệ thống máy, bạn phải tắt máy, tắt nguồn điện và yêu cầu cắm chặt, cắm sát, bắt vít lại để cố định nó.

Muốn xem các thiết bị phần cứng nào đã được cài đặt vào trong hệ thống thì bấm phím phải chuột vào My Computer trên Desktop, chọn lệnh Properties để mở cửa sổ System Properties, chọn thẻ Device Manager.

Để các thiết bị phần cứng hoạt động chính xác, bạn cần cài đặt driver cho nó bằng một trong các cách sau:

- Thông dụng nhất là đưa đĩa driver của phần cứng đó vào ổ CD, màn hình cài đặt sẽ tự động hiện lên.

- Vào Start\ Settings\ Control Panel\ Add New Hardware, theo các bước hướng dẫn để cài đặt.

- Trong hộp thoại System Properties, chọn thẻ Device Manager, chọn đối tượng phần cứng không thích hợp (là các đối tượng có dấu hiệu màu đỏ hoặc vàng phía trước, hoặc các đối tượng đã bị gỡ bỏ nhưng vẫn còn sót lại driver – đa phần là modem hay card màn hình), chọn lệnh Remove, rồi bấm lệnh Refresh, sẽ xuất hiện các bước hướng dẫn để bạn cài đặt.

Bạn sẽ thấy cửa sổ cài đặt sau:



Điều chính yếu là bạn phải chọn đúng nhãn hiệu, đời của thiết bị phần cứng và chọn đúng driver cho bản Windows đang cài trên máy bạn. Ví dụ HP hay Epson? Nếu là HP thì HP nào, Laser hay Deskjet? 5L, 6L, 1100 hay 1200...? Bạn đang dùng Windows nào? Win 95, 98, NT, Me, 2000 hay XP?

Nguyên tắc chung như đã trình bày ở trên, nhưng đối với card màn hình và máy in thì có các bước cài đặt dễ dàng hơn.

Với card màn hình, bạn bấm phím phải chuột vào Desktop, chọn lệnh Properties. Cửa sổ Display Properties xuất hiện, chọn thẻ Settings, bấm chọn Advanced..., chọn thẻ Adapter, bấm Change, bạn sẽ thấy các cửa sổ cài đặt quen thuộc hiện ra.

Với máy in, bạn vào Start\ Settings\ Printers, bấm đúp chuột vào Add Printer, bấm chọn Have Disk, chọn ổ đĩa chứa Driver của máy in đó.


KHẮC PHỤC SỰ CỐ CỦA MÀN HÌNH VÀ CARD MÀN HÌNH
VÕ VĂN THÀNH


Khi bật máy lên màn hình không chịu làm việc (màn hình trống với một màu đen thui, không có con trỏ) hoặc có hoạt động nhưng màu sắc bị sai lệch, có nhiều thứ bạn cần phải kiểm tra như:

- Kiểm tra xem đầu cắm nguồn có bị lỏng lẻo không (cả đầu cắm với nguồn điện nhà hay với bộ nguồn của máy tính và đầu cắm vào màn hình).

- Kiểm tra xem ổ điện nhà có tốt không (cắm đèn vào ổ xem có sáng lên không).





- Kiểm tra đầu cắm cáp dữ liệu của màn hình xem có chân nào bị cong hay bị đẩy thụt vào bên trong không. Có thể có một số chân bị bỏ trống, điều đó cũng bình thường chứ không phải đầu cáp bị hư. Màn hình không sử dụng hết tất cả các chân trong một đầu cắm DB15. Nếu có chân nào bị cong, bạn có thể sử dụng một cây nhíp nhỏ để uốn thẳng lại. Phải thật thận trọng, chúng rất dễ bị gãy.

- Kiểm tra cáp màn hình để đảm bảo nó được gắn chặt và đảm bảo nó được siết ốc đủ chặt. Lắc lắc cả hai đầu mút của sợi cáp để kiểm tra xem cáp có bị “gãy ngầm” ở bên trong không.

- Bạn cũng có thể dùng tay vỗ lên màn hình (nhưng đừng mạnh tay quá) để xem có bộ phận nào ở bên trong bị lỏng hay bị hở mạch không. Nên thận trọng vì nếu bạn vỗ mạnh có thể làm “tiêu” bóng đèn hình đó!

- Một vấn đề thường gặp đối với màn hình là sự cố của chức năng tiết kiệm năng lượng mà nó thường được điều khiển bằng một rờ le (bạn có thể nghe được tiếng đóng mở khi nó hay mạch điện tử hỗ trợ của nó bị hư). Hầu hết các màn hình tiết kiệm năng lượng đều có một đèn LED, đèn sẽ chuyển sang màu xanh khi chúng nhận được tín hiệu từ máy tính và màu cam hay một màu khác khi chúng không nhận được tín hiệu từ máy tính. Một số sẽ hiển thị dòng chữ “No Signal” (không có tín hiệu) hay cái gì đó tương tự khi chúng được bật lên nhưng lại không phát hiện được tín hiệu từ máy tính. Thông thường, bạn có thể làm cho màn hình kết nối lại tín hiệu với máy tính bằng cách bật tắt công tắc nguồn của màn hình (nằm ở phía trước màn hình) lặp đi lặp lại vài lần hay nhấn và giữ nó một lát rồi thả ra và nhấn lại.

- Vấn đề cũng có thể là do máy tính. Thử với một màn hình khác để xác định liệu vấn đề là do máy tính hay do chính màn hình. Hoặc thử màn hình của bạn với một máy tính khác.

- Bạn cũng nên thử tháo vỏ máy ra và cắm lại card màn hình. Nếu bạn có một card màn hình AGP, bạn hãy dời bất kỳ card mở rộng nào khác (card âm thanh, card mạng, card modem...) trong khe cắm PCI bên cạnh khe cắm AGP sang một khe cắm PCI khác. Khe cắm đó thường dùng chung một đường ngắt (interrupt) với khe cắm AGP.

- Thử một card màn hình khác.

- Thông thường nếu card màn hình hay màn hình bị hư thì bạn sẽ nghe các mã hiệu báo lỗi bằng các tiếng bíp. Nếu màn hình không có tín hiệu từ máy tính và bạn cũng không nghe được tiếng bíp, bạn nên kiểm tra và cắm lại các thanh RAM.

- Thử khởi động máy với cấu hình tối thiểu: bo mạch chủ (có nối với loa máy để có thể nghe được tiếng bíp nếu có lỗi ở card màn hình hay màn hình), CPU, bộ nhớ RAM và card màn hình.

- Tham khảo các Website của hãng sản xuất card màn hình, bo mạch chủ, và màn hình để biết các vấn đề có liên quan và cách giải quyết.

- Cuối cùng, nếu đã cố tới mức này mà không giải quyết được vấn đề, bạn nên nhờ đến các chuyên viên có tay nghề kiểm tra và sửa chữa giùm bạn.




Tạo thêm một phân vùng mới trên ổ đĩa hiện có mà không làm mất dữ liệu

Trong bài viết này, tôi giới thiệu với các bạn cách tạo phân vùng mới trên ổ đĩa mà không ảnh hưởng gì tới dữ liệu hiện có của bạn bằng Paragon Partition Manager 5.5 nằm trên đĩa Hiren Boot CD 5.0 (để an toàn, bạn nên sao lưu dữ liệu trước khi thực hành).

Nguyên lý làm việc: Giảm bớt size (dung lượng) của phân vùng được chọn và lấy phần thừa ra để tạo một phân vùng mới.

Bước 1: Cho đĩa Hiren Boot vào ổ và khởi động bằng đĩa CD-ROM này. Ở menu chính, chọn Disk Partition Tools -> Paragon Partition Manager rồi đợi một lúc cho chương trình nạp vào bộ nhớ.

- Chọn ổ đĩa vật lý bạn muốn chia trong khung Hard Disk (được đánh số thứ tự từ 0), ở đây tôi chọn ổ DISK 0 có dung lượng 9.766MB.



- Chọn phân vùng trong bảng bên dưới. Chương trình sẽ liệt kê tất cả các phân vùng có trên ổ cứng bạn chọn với các thông tin: tên, định dạng, kích thước, dung lượng còn trống, dung lượng đã sử dụng, chế độ ẩn hiện và nhãn đĩa. Tôi chọn ổ D.

Bước 2: Nhấp nút Ressize, trong bảng Ressize Partition chọn kích thước của ổ đĩa cần tạo thêm bằng cách kéo thanh trượt về phía trái. Phần phía bên phải chính là phần thừa ra để chuẩn bị tạo một phân vùng mới.



Lưu ý: bạn chỉ giảm kích thước phân vùng xuống ngang bằng với dung lượng dữ liệu đang có. Sau khi chọn xong, nhấn OK và đợi chương trình hoàn tất công việc.

Bước 3: Chọn phần thừa ra ở bước 2. Nhấn nút Create tạo phân vùng mới, nhấn Format để định dạng phân vùng. Điền đầy đủ các thông tin mà chương trình yêu cầu sau đó OK.

Каталог: data -> dqducspkt -> file
data -> Qcvn 81: 2014/bgtvt
data -> Trung taâm tin hoïC Ñhsp ñEÀ thi hoïc phaàn access
data -> PHỤ LỤC 2 TỔng hợp danh mục tài liệu tham khảO
data -> Công ty cổ phần Xây dựng Điện vneco3
data -> Nghiên cứu một số đặc điểm
data -> NHỮng đÓng góp mới của luậN Án tiến sĩ CẤP ĐẠi học huế Họ và tên ncs : Nguyễn Văn Tuấn
data -> Mẫu 01/hc-sn-dn (Ban hành kèm theo Thông tư số 83/2007/tt-btc ngày 16/7/2007 của Bộ Tài chính) TỜ khai hiện trạng sử DỤng nhà, ĐẤt thuộc sở HỮu nhà NƯỚc và ĐỀ xuất phưƠng án xử LÝ
file -> Muoán Laáy Maät Ñöøng Phaù Toå Ong
file -> Hoïc vieän coâng ngheä böu chính vieãn thoâng Taøi Lieäu Söu Taàm

tải về 0.88 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   15




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2024
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương