Gây mê lưu lượng thấp Definition of low-flow Định nghĩa The suggestion of Simionescu as



tải về 90.05 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích90.05 Kb.
Gây mê lưu lượng thấp
Definition of low-flow

Định nghĩa



The suggestion of Simionescu as:
Metabolic flow = 250ml/min ( Lưu lượng chuyển hóa )
Minimal flow = 250-500 ml/min ( Lưu lượng tối thiểu )
Low flow = 500-1000 ml/min ( Lưu lượng thấp )
Medium flow = 1-2 L/min ( Lưu lượng trung bình )
High flow = 2-4 L/min ( Lưu lượng cao )
Super-high flow ≥ 4 L/min ( Lưu lượng siêu cao )

Low-flow anesthesia can be defined as a technique which, using a rebreathing system, results in at least 50% of the exhaled air being returned to the lungs after CO2 absorption.

Gây mê lưu lượng thấp được định nghĩa là một kĩ thuật, sử dụng một hệ thống thở lại, kết quả ít nhất 50% khí thở ra được trả lại cho phổi sau khi hấp thụ CO2.


<Low-flow anaesthesia, Anaesthesia, 1995, Volume 50 (supplement), pages 37-44>
Via the observation that anaesthetic vapours are excreted unchanged with the expired air and serial experiments, John Snow concluded In 1850 that: “ It follows as a necessary consequence of this mode of excretion of a vapour that, if its exhalation by the breath could in any way be stopped, its narcotic effects ought to be much prolonged.

Thông qua việc quan sát khí gây mê được bài tiết không đổi trong khí thở ra John Snow kết luận: Kết quả tất yếu của quá trình này nếu khí thở ra ko bị mất mát thì tác dụng gây mê được kéo dài.



The recognition of the functional residual capacity as deadspace or extension of the circuit.

The recognition of the alveolar membrane as a barrier of anesthetic uptake.

Anesthesia machine breathing circuit






Fick’s principle of alveolar membrane penetration:

Nguyên tắc khuếch tán qua màng phế nang Fick
(DAk/x) (CI-CB)
D= diffusion constant ( Hằng số khuếch tán )
A= area of membrane (area is proportional to pulmonary capillary flow or cardiac output)

Diện tích màng tế bào ( tỉ lệ thuận với lưu lượng mao mạch phổi và cung lượng tim )


k= solubility coefficient ( Hệ số hòa tan )
x= thickness of membrane ( Độ dày màng )
CI= inspired anaesthetic concentration at alveoli ( Nồng độ khí mê ở phế nang )
CB= mixed venous anaesthetic concentration ( Nồng độ khí mê ở tĩnh mạch )

The uptake can be simplified as: Sự hấp thu có thể đơn giản hóa


Inspired concentration(%) × Fraction of uptake (1-FA/FI) × Alveolar ventilation (ml/min)

Nồng độ khí thở vào x Phân suất khí thở vào x Thể tích thông khí




Thus, the uptake of an inhalation anaesthetic is concentration-dependent. Respiration or alveolar ventilation per se does not directly participate in the process of uptake or play an indirect or supporting role in uptake.

Is the concept of “MAC” wrong?

Như vậy, sự hấp thu gây mê hô hấp là phụ thuộc nồng độ. Hô hấp và thông khí ở phổi không trực tiếp tham gia vào quá trình hấp thu hoặc đóng một vai trò gián tiếp hoặc hỗ trợ sự hấp thu.


Khái niệm "MAC" là sai?

The time required for the brain to equilibrate with the alveolar concentration (including wash in, uptake through alveolar membrane and uptake of brain) requires more than 15 minutes.

Thời gian cần thiết cho não để cân bằng với nồng độ phế nang (bao gồm làm đầy phế nang, hấp thu qua màng phế nang và hấp thu của bộ não) đòi hỏi nhiều hơn 15 phút.



For example, under 1.5-2% isoflurane in 2 L/min oxygen, it took about 25 mins for mask ventilation to achieve a stability of haemodynamics suitable for tracheal intubation.

Ví dụ, trong 1,5-2% isoflurane trong 2 lít / phút oxy, phải mất khoảng 25 phút thông khí qua mặt nạ để đạt được một sự ổn định thích hợp cho việc đặt ống nội khí quản.


Acta Anaesthesiol Sin 41:165-172, 2003. >
In the very beginning, using MAC as a standard measure of potency of anaesthetics and of the depth of anaesthesia is one kind of misjudgment because we use the partial pressure of an anaesthetic in the alveoli instead of the partial pressure in the brain as a measure.

Trong khi bắt đầu, sử dụng MAC như một biện pháp tiêu chuẩn của hiệu lực của thuốc mê và độ sâu của gây mê là một loại sai lầm bởi vì chúng ta sử dụng áp suất riêng phần của một chất gây mê trong các phế nang thay vì áp suất riêng phần trong bộ não



alveolar concentration of an anaesthetic at 1 atm which prevents a response to a painful stimulus in 50% of subjects.>
During induction of anaesthesia with inhalation anaesthetics, unstable haemodynamic changes are often encountered because of misunderstandings about uptake.

Trong quá trình gây mê với thuốc mê hô hấp, huyết động không ổn định thường gặp phải vì những hiểu lầm về sự hấp thu.
After intubation, keep high flow (about 2-3L/min) for three time constants to complete the wash in of FRC with anesthetics. Then turn to low flow with increased dial settings to keep constant anesthetic concentration for anesthesia maintenance.

Sau khi đặt nội khí quản, giữ cho lưu lượng cao (khoảng 2-3L/min) khoảng 3 phút để đuổi sạch khí cặn chức năng với khí mê. Sau đó chuyển sang lưu lượng thấp với cài đặt số ở bình bốc hơi tăng để giữ cho nồng độ thuốc mê liên tục để duy trì gây mê.



( Những máy gây mê thế hệ mới có đo nồng độ khí mê thì có thể theo dõi và điều chỉnh nồng độ khí mê dễ dàng. Bệnh nhân duy trì các chỉ số huyết động tốt với MAC 0.8 – 1.2 ( C­e Isoflurane : 0.8 1.2 , Sevoflurane: 1.6 – 2.4 )
For example, if 6% of desflurane inspired concentration is desired, 0.15×6/100×3000=27ml desflurane vapor/min would be uptaked. When the flow was reduced to 300ml/min, a vaporizer setting should become 27÷300=9%.

Ví dụ muốn đạt nồng độ 6% Desflurane thì 27ml/phút sẽ được hấp thu. Khi lưu lượng giảm xuống 300ml thì nồng độ mới là 9%


Despite the continuous uptake of inhalation anesthetic and the increased anesthetic concentration in the patient’s body, the haemodynamic status usually is well maintained throughout the course of closed-circuit anesthesia. A high concentration of inhalation anesthetics in the blood provides good muscle relaxation without too much muscle relaxants.

Mặc dù có sự hấp thu liên tục và gia tăng nồng độ thuốc gây mê trong cơ thể bệnh nhân, tình trạng huyết động thường được duy trì tốt trong suốt quá trình gây mê mạch kín. Nồng độ cao của thuốc mê hô hấp trong máu giúp giãn cơ tốt mà không cần giãn cơ quá nhiều.


As a result, nearing the end of surgery, when the inhalation anesthetic’s concentration is highest, we can reverse the muscle relaxant about 10-20 minutes before the end of surgery. At this time, we can also shut off the vaporizer and reduce the rate of ventilation in order to raise the CO2 level in the blood. After the surgery ends, it only requires 5~10 minutes of high-flow oxygen to wake up the patient.

Kết quả là, gần cuối của phẫu thuật, khi nồng độ các thuốc gây mê đường hô hấp là cao nhất, chúng ta có thể đảo ngược sự giãn cơ khoảng 10-20 phút trước khi kết thúc phẫu thuật. Tại thời điểm này, chúng ta cũng có thể tắt thuốc mê và giảm thông khí để nâng cao CO2 trong máu. Sau khi phẫu thuật kết thúc, nó chỉ đòi hỏi 5 - 10 phút oxy lưu lượng cao để đánh thức bệnh nhân.




Relatively stable haemodynamic conditions during the process of surgery.
With inhalation anesthetics, our response to a patient’s haemodynamic change is far from prompt because of the existence of the large circuit volume and FRC. The benefit of closed-circuit anesthesia is that, once a certain anesthetic concentration is reached in the brain, then, without surgical stimulation, the patient will be able to maintain reasonable haemodynamic stability. With surgical stimulation, the patients is able instantly to increase the anesthetic uptake with the increase in cardiac output.

Điều kiện huyết động tương đối ổn định trong suốt quá trình phẫu thuật.


Với thuốc mê hô hấp, tác động của chúng ta để thay đổi huyết động của bệnh nhân là nhanh chóng vì sự tồn tại của thể tích vòng kín và Dung tích cặn chức năng. Lợi ích của việc gây mê mạch kín là, một khi một nồng độ thuốc mê nhất định đạt được trong não, sau đó, không có kích thích phẫu thuật, bệnh nhân sẽ có thể duy trì ổn định huyết động. Với sự kích thích phẫu thuật, bệnh nhân có thể ngay lập tức để tăng sự hấp thu thuốc gây mê với sự gia tăng cung lượng tim.
The beauty of closed circuit anesthesia is: with fixed amounts of anesthetic supply and a large circuit volume, the inspired concentration does not change much, but after surgical stimulation, self-feed-back control by the patient will take hold to a certain extent, providing a prompt and effective defense mechanism.

Ưu điểm của gây mê mạch kín là: với lượng thuốc gây mê cố định và một thể tích lớn, nồng độ khí hít vào không thay đổi nhiều, nhưng sau khi kích thích phẫu thuật, điều khiển tự phản hồi của bệnh nhân sẽ được tổ chức đến một mức độ nhất định, cung cấp một cơ chế bảo vệ kịp thời và hiệu quả.


Reduced consumption of anaesthetic gases and vapours

Giảm tiêu thụ các khí và thuốc gây mê hơi



Cost savings

Tiết kiệm chi phí





Reduced environmental pollution

Giảm ô nhiễm môi trường



Improved “climate” of anesthetic gases

Cải thiện độ ẩm trong khí gây mê




The humidity of anesthetic gases is significantly higher in low-flow than in high-flow anesthesia, and although the specific heat of gas is low, significant reductions in heat loss by the patient can be achieved by delivering humidified gas. appropriate humidification and warming of anesthetic gases have a significant influence on the function and the morphological integrity of the ciliated epithelium of the respiratory tract.

Độ ẩm của khí gây mê trong gm lưu lượng thấp cao hơn đáng kể so với gây mê lưu lượng cao, và mặc dù nhiệt dung riêng của khí thấp, giảm đáng kể sự mất nhiệt của bệnh nhân có thể đạt được bằng cách cung cấp khí ẩm. Độ ẩm của khí gây mê thích hợp có ảnh hưởng đáng kể đến chức năng và sự toàn vẹn hình thái học của biểu mô đường hô hấp.


Possible problems

Vấn đề có thể gặp



Accumulation of CO2

Tích tụ CO2


CO production comes from the contact of anesthetics with dry soda lime and gradual accumulation is due to difficult elimination under low-flow

Sản xuất CO xuất phát từ sự tiếp xúc của thuốc gây mê với Soda và tích lũy dần dần là do loại bỏ khí khó khăn theo lưu lượng thấp




However, even in long-tem closed system anesthesia, generally, the increase in CO

concentration remains negligibly low and is of no risk to the patient.

Tuy nhiên, ngay cả khi sử dụng hệ thống vòng kín kéo dài, nói chung sự gia tăng nồng độ CO vẫn không đáng kể và không có nguy cơ cho bệnh nhân.



<Anaesthesist 1991; 40: 324-7>
Accumulation of compound A

Tích lũy của hợp chất A


Compound A is derived from the contact of sevoflurane with soda lime. However, the highest value lies within the range determined to cause histological renal tubular damage in rats.

  Một hợp chất có nguồn gốc từ sự tiếp xúc của Sevoflurane với Vôi Soda. Tuy nhiên, sự tổn thương mô ống thận chỉ gây ra ở chuột



Anesthesiology 1994; 80:566-75>

Difficulty in changing the inspired anesthetic concentration rapidly due to the limited dial settings.

Khó khăn trong sự thay đổi nồng độ khí gây mê trong khí thở vào do hạn chế cài đặt quay số ở bình bốc hơi



  • CLOSED-CIRCUIT ANESTHESIA, Chung-Yuan Lin, M.D.May, 2000

  • Uptake of Anaesthetic Gases and Vapours, C. Y. LIN, Anaesth Intens Care 1994; 22:363-373

  • Low-flow anaesthesia, J.A. BAUM and A. R. AITKENHEAD, Anaesthesia, 1995, volume 50 (Supplement), pages 37-44

Nguyễn Sỹ Linh


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương