TÔN ĐỨc thắng chủ tịch nước (1969-1981)



tải về 200.22 Kb.
trang1/2
Chuyển đổi dữ liệu04.01.2018
Kích200.22 Kb.
  1   2
TÔN ĐỨC THẮNG

Chủ tịch nước (1969-1981)
Truyền thống quật cường của quê hương đất nước đã sớm hun đúc lòng căm thù giặc và tinh thần yêu nước của người thanh niên Tôn Đức Thắng, cuộc sống và ý thức giai cấp công nhân đã tiếp bước rèn luyện người thanh niên ấy trở thành một chiến sĩ cách mạng kiên cường và lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam.

Bác Tôn sinh ra trên mảnh đất Long Xuyên của Nam Bộ bất khuất và đau thương bị thực dân Pháp xâm chiếm hơn 20 năm. Những năm tuổi thơ, Bác Tôn sống ở quê nhà và đi học trường trong tỉnh. Học xong bậc tiểu học, Bác tạm biệt gia đình đi lên Sài Gòn – mở đầu cuộc đời hoạt động cách mạng không mệt mỏi vì Tổ quốc, vì nhân dân của Bác.



Năm 1906, Sài Gòn đón nhận người thanh niên mười tám tuổi đầy tâm huyết Tôn Đức Thắng. Hạt giống cách mạng giờ đây được ươm giữa lòng đô thành Sài Gòn đầy bóng quân xâm lược. Bác Tôn không chọn con đường tiến thân nào khác, mà quyết định đến ngay với giai cấp công nhân.

  1. Tóm tắt cuộc đời và sự nghiệp

  2. Diễn tiến việc kéo cờ đỏ trên chiến hạm France

  3. Công hội bí mật và cuộc bãi công của 1000 công nhân Ba Son

  4. Những danh hiệu cao quý được trao tặng

  5. Trích dẫn một số câu nói dàng tặng Bác Tôn

  6. Một số giai thoại về Bác Tôn

  7. Tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng

  8. Bác Tôn – Người cộng sản mẫu mực biểu tượng của đại đoàn kết

  9. Về thăm quê Bác Tôn

  10. Xí nghiệp Ba Son

  11. Bảo tàng Tôn Đức Thắng

  12. Đường Tôn Đức Thắng

  13. Thư của Chủ tịch Tôn Đức Thắng gửi các chiến sĩ nhân ngày 30/4/1975

  14. Công Đoàn Việt Nam qua 9 kỳ Đại hội

  15. Một số sách báo tham khảo

  1. TÓM TẮT CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Bí danh: Thoại Sơn

Ngày sinh: 20/8/1888

Ngày mất: 30/3/1980

Quê quán: Xã Mỹ Hoà Hưng, TP Long Xuyên, Tỉnh An Giang

Thành phần gia đình xuất thân: Nông dân

Ngày vào Đảng: 1930



TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

  • Từ 1906-1909: Học Trường Kĩ nghệ Viễn Đông, làm công nhân Nhà máy Ba Son của Hải quân Pháp ở Sài Gòn;

  • Năm 1912: Tổ chức cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son

  • Từ 1914 đến 1918: Tham gia hoạt động cách mạng từ chiến tranh thế giới, làm công nhân quân giới ở quân cảng Toulon (miền Nam nước Pháp) và làm thợ máy trên chiến hạm France.

  • 20/4/1919: Dưới sự lãnh đạo của Công hội Pháp đã tham gia phản chiến và treo cờ đỏ trên chiến hạm để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, tham gia cuộc binh biến của binh sĩ Pháp ở mặt bể Hắc Hải, sau đó bị trục xuất khỏi nước Pháp.

  • Năm 1920: Lập Công hội bí mật ở Sài Gòn, đây là tổ chức Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam.

  • Năm 1927, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và trực tiếp lãnh đạo phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn.

  • Tháng 12/1928: Bị địch bắt ở Sài Gòn.

  • Ngày 26/7/1929: Bị kết án 20 năm khổ sai.

Đêm ngày 2 rạng sáng ngày 3/7/1930, con tàu Armand Roussean của thực dân Pháp lặng lẽ rời Sài gòn đưa Tôn Đức Thắng và một số cán bộ, quần chúng yêu nước đày ra Côn Đảo. Kể từ đó cho ngày ngày 18/8/1945, khi Côn Đảo được giải phóng, người tù mang số tù 5289-TF cùng với lời ghi chú trong phiếu quản lý “Phần tử nguy hiểm” đã chứng tỏ nghị lực phi thường, ý chí kiên cường và lòng trung thành vô hạn với CM. 15 năm ở địa ngục trần gian Côn Đảo là quãng thời gian thử thách lớn nhất trong cuộc đời hoạt động CM của Tôn Đức Thắng nhưng đó cũng là quãng đời đầy vinh quanh khi Bác thực sự biến nhà tù đế quốc thành trường học CM.

  • Năm 1930: Lập chi bộ nhà tù lãnh đạo anh em trong tù đấu tranh, được Xứ ủy Nam Kỳ thừa nhận là chi bộ đặc biệt và là đảng viên từ đó. Bằng những kinh nghiệm đã có trong tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã bàn với những người cộng sản thành lập Hội những người tù đỏ làm hạt nhân lãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù.

Nhiều Đảng viên cộng sản trong đó có Tôn Đức Thắng bị kết án khổ sai cũng bị giam chung với tù thường phạm ở Banh I, nơi chuyên giam giữ tù lưu manh, trộm cắp, đã nhiều lần mang án. Đây là thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp mượn bàn tay của những tên tù anh chị nhằm tiêu diệt những người cộng sản.

Là một người đã có kinh nghiệm trong tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã bàn và cùng với những người cộng sản thành lập Hội những người tù đỏ làm hạt nhân lãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo nên sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù.

Trong một lần liên lạc của Hội, bọn gác ngục đã phát hiện được Tôn Đức Thắng và phạt giam ở Hầm xay lúa. Hầm là địa ngục của địa ngục, một hình thức cực hình đối với tù nhân, địch gọi là “Khu trừng giời”. Với âm mưu thâm độc của địch muốn dùng tay anh chị để hành hạ và giết Tôn Đức Thắng, hiểu được ý đồ này, Tôn Đức Thắng đã tập hợp một số đồng chí cộng sản cũng bị đày ở Hầm xay lúa bàn cách nắm lấy quyền lực để cải thiện đời sống và điều kiện làm việc cho những bạn tù ở Hầm: bỏ lối cai quản người tù bằng roi vọt, sắp xếp, phân công để tất cả mọi người làm việc theo điều kiện sức khỏe, người yếu thì sàng gạo, đóng bao, người khỏe thì xay và khuân vác thóc, kíp đứng cối thì bố trí thêm người, thay nhau người làm, người nghỉ.

Năm 1934, sau khi rời khỏi Hầm xay lúa, Tôn Đức Thắng làm việc tại Sở Lưới, vừa sửa máy vừa lái canô. Sở lưới, với vai trò của Tôn Đức Thắng trở thành trung tâm giao liên quan trọng của tổ chức Đảng ở Côn Đảo và là đầu mối để tổ chức cho cán bộ, đảng viên bị tù ở Côn Đảo trốn về hoạt động trong đất liền.



Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông hơn một triêu lính tinh nhuệ của Nhật. Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật chính thức đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh không điều kiện. Đảng ta kịp thời chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân cả nước vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Sau khi nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập do một đài nước ngoài phát lại, toản đảo vui mừng không xiết. Sáng 23/9/1945, tàu Phú Quốc cùng 25 chiếc thuyền bầu đã nhổ neo đưa 1800 tù chính trị trở về đất liền. Chiếc canô vừa được sửa lại mang tên Giải phóng do chính Tôn Đức Thắng lái đưa một số đồng chí trong Ban lãnh đạo trở về. Tuy gian nan, vất vả nhưng chiều ngày 2/3/9/1945 mọi người đã cập bến Đại Ngãi, tỉnh Sóc Trăng trong sự đón tiếp nồng nhiệt của Đảng bộ và nhân dân địa phương.



  • Từ 8/1945: Ở Côn Đảo trở về Nam Bộ làm Uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ phụ trách về vấn đề lương thực và vũ khí.

  • Ngày 6/1/1946: Trúng cử là đại biểu Quốc hội khóa đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tham gia phái đoàn Quốc hội sang  Pháp.

  • Ngày 1/5/1948, Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi thi đua yêu nước, và đến ngày 11/6/1948 chính thức phát động cuộc vận động thi đua yêu nước. Đây là thời kỳ Tôn Đức Thắng có nhiều cố gắng và đạt kết quả tốt trong việc làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước trở thành động lực của cuộc kháng chiến kiến quốc.

Nhân dịp đồng chí Khu trưởng khu VIII Nam Bộ ra báo cáo với Trung ương và Bác Hồ về tình hình cuộc kháng chiến, Tôn Đức Thắng đã đến thăm Đoàn và trao đổi thân tình: “Mặc dầu tham gia vào cuộc lãnh đão chung ở ngoài này – một nhiệm vụ rất lớn, nhưng lúc nào tôi cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, lúc nào cung nghĩ tới chiến trường Nam Bộ là nơi đồng chí, đồng bào đương kháng chiến gian lao. Tôi đã nhiều lần đề nghị với Bác Hồ, với Trung ương cho trở về chiến trường để cùng với đồng chí, đồng bào Nam Bộ tham gia kháng chiến nhưng Bác Hồ chưa đồng ý (…). Đề nghị đồng chí, đề nghị đoàn về báo cáo lại với Xử ủy và với đồng báo Nam Bộ rằng, Tôn Đức Thắng là người con của nhân dân Nam Bộ, lúc nào cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, nghĩ tới xứ sở mà mình đã sinh ra và đã từng hoạt động”. Trong thời gian này, Ban Thường trực Quốc hội đã phân công các ủy viên đi các địa phương ở Liên khu III và liên khu Việt Bắc động viên nhân dân kháng chiến, Tôn Đức Thắng được giữ chức Quyền trưởng Ban.

  • Từ 1951: Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Tại Đại hội Đảng lần thứ II được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Ông là Đại biểu Quốc hội liên tục các khóa I-VI.

  • Tháng 9/1955: Được bầu làm Trưởng ban Thường vụ Quốc hội.

  • Từ 1960: Được giữ các chức vụ: Phó trưởng Ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Tổng Thanh tra toàn quốc, Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (tháng 7/1960). Tại Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

  • Ngày 23/9/1969 đến 1981: Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976) của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.

  • 30/3/1980: Qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.

Tuy không có nền tảng giáo dục hoàn hảo nhưng ông được coi là một trong những hình tượng của Cách mạng và Nhà nước Việt Nam. Tuy là Ủy viên Trung ương từ năm 1951 cho tới khi mất nhưng ông chưa bao giờ được bầu vào Bộ Chính trị.


  1. DIỄN TIẾN VIỆC ĐỒNG CHÍ TÔN ĐỨC THẮNG KÉO CỜ ĐỎ TRÊN CHIẾN HẠM FRANCE

Khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) bùng nổ, nhiều người Việt Nam phải vào phục vụ quân đội Pháp. Là người thợ máy giỏi, ngày 9/10/1916, đồng chí Tôn Đức Thắng nhận lệnh xuống phục vụ tại chiến hạm France và là người Việt Nam duy nhất trên chiến hạm đó. Đến ngày 16/4/1919, mặc dù chiến tranh thế giới đã kết thúc, chính phủ Pháp điều động một hạm đội gồm 5 chiến hạm (trong đó có chiến hạm France) vào Hắc Hải để cùng với các đế quốc khác chống lại nước Nga Xô Viết trẻ tuổi. Các chiến hạm được lệnh vượt qua eo biển Đác-đa-nen tiến vào biển Đen và bắn phá hải cảng Xê-vat-tô-pôn.

Anh em binh lính trên hạm đội bất bình vì phải tiếp tục đổ máu, dù chiến tranh đã kết thúc. Biết được âm mưu ấy, thợ máy Tôn Đức Thắng đã cùng anh em binh lính Pháp quyết định phản chiến.

8 giờ sáng ngày 20/4/1919, cuộc binh biến nổ ra trên chiến hạm France và Jean Bart. Lá cờ đỏ được kéo lên trên chiến hạm France trước cửa thành Xê-vat-tô-pôn, do đồng chí Tôn Đức Thắng thực hiện, đã được anh em binh lính, công nhân trên tàu chuẩn bị trước.

Bằng hành động đó, đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong những người Việt nam đầu tiên đã tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng tháng Mười và xây đắp tình hữu nghị Việt – Xô, đồng thời, biểu thị tình cảm của nhân dân Việt Nam lúc đó còn là thuộc địa của Pháp, chào mừng nhà nước Công nông đầu tiên trên thế giới.




  1. CÔNG HỘI BÍ MẬT VÀ CUỘC BÃI CÔNG CỦA CÔNG NHÂN BA SON

Sau một thời gian làm việc tại Pháp, đồng chí Tôn Đức Thắng trở về Sài Gòn. Chịu ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga và với những kinh nghiệm hoạt động trong phong trào Công đoàn Pháp, đồng chí Tôn Đức Thắng đã đi vào hoạt động trong tầng lớp công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn và trực tiếp vận động thành lập Công hội Đỏ đầu tiên ở Việt Nam. Sau một thời gian vận động chuẩn bị, vào đầu 1921, Công hội Đỏ đã ra đời tại Cảng Sài Gòn, trường Bá Nghệ Cao Thắng, nhà đèn Chợ Quán và xưởng Ba Son, nhà máy đèn Sài Gòn. sau dần dần phát triển đến hãng Faci và nhiều nơi khác. Hội trưởng của Công hội lúc đó là Tôn Đức Thắng – thợ máy nhà đèn Chợ Quán.

Công hội đỏ là một tổ chức bí mật, lúc này hoạt động bất hợp hợp, gồm những công nhân tiên tiến ở nhiều xí nghiệp trong thành phố. Hội hoạt động không có điều lệ viết ra thành văn bản. Ngay khi ra đời, với mục đích hành động là tương trợ và đấu tranh bênh vực quyền lợi cho công nhân, công hội đã lãnh đạo, tổ chức nhiều cuộc bãi công của công nhân tại các nhà máy.

Vào năm 1925, trước tình hình đấu tranh cách mạng của nhân dân Trung Quốc đang sôi sục ở Quảng Châu, các nước đế quốc phương Tây rắp tăm can thiệp bằng cách đưa lực lượng hải quân đến trấn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc ở những vùng tô giới. Lực lượng hải quân Pháp tham gia chiến dịch này với một hạm đội gồm 3 chiến hạm: Jules Ferny, Le Maine, Jules Michelet. Hạm đội này do chiếc tàu tuần dương thiết giáp Jules Michelet chỉ hy. Trên đường đi, tàu Michelet đã có hiện tượng hư hỏng, bọn chỉ huy quân Pháp gấp rút đưa đi sửa để kịp sang Trung Quốc. Nắm được nguồn tin quan trọng này, Tôn Đức Thắng lập tức thông báo cho các hội viên công hội và bàn biện pháp đấu tranh.

Lúc này, Ba Son là xưởng duy nhất ở Đông Dương mà công nhân được hưởng quy chế ngày làm 8 giờ, lương tháng, lương ngày đểu cao hơn các nơi khác, cho nên vận động bãi công ở đây rất nguy hiểm, lại rất khó. Nhưng ngoài cách bãi công thì không còn cách nào giam chân đội tàu chiến Pháp. Như vậy, cuộc đấu tranh về cơ bản có tính chất chính trị, nhưng khẩu hiệu chính trị không được nêu lên, chỉ nêu lên những yêu sách kinh tế, làm như vậy mới tập hợp được toàn thể công nhân viên chức tham gia.

Ban lãnh đạo đình công đưa kiến nghị lên giám đốc đòi giải quyết các yêu sách:


  • Tăng lương cho tất cả công nhân lên 20%

  • Phải gọi lại số thợ bị đuổi việc trong các cuộc đình công trước đây làm việc lại

  • Ngày lĩnh lương phải cho nghỉ trước nửa giờ như thường lệ

Mặc dù giám đốc Courthial, Thống đốc Nam Kỳ hăm dọa, rồi dụ dỗ, mua chuộc, nhưng anh em công nhân không hề nao núng vẫn tiếp tục đình công. Để ủng hộ cuộc đấu tranh, hàng vạn công nhân, viên chức Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã quyên góp gạo, tiền giúp đỡ cuộc đình công.

Một phần là cần phải sửa chữa chiến hạm cho sớm để kịp chiến dịch, một phần bị cấp trên quở trách, ban giám đốc xưởng Ba Son buộc phải nhượng bộ và điều đình với ban lãnh đạo cuộc đình công, chấp nhận tăng 10% lương cho công nhân và bỏ lệnh cắt 15 phút làm bù ngày lãnh lương.

Cuộc bãi công chấm dứt thắng lợi, anh em công nhân chuyển sang hình thức lãn công, kéo dài thời gian sửa chữa chiến hạm. Mãi đến ngày 28/11/1925, chiến hạm Michelet mới ra khỏi xưởng Ba Son sau khi bị giam ở đây ba tháng rưỡi.

Cuộc đấu tranh với mục đích chính trị rõ rệt nhưng diễn ra một cách khôn khéo dưới khẩu hiệu khác. Tiếng vang của cuộc đấu tranh này đã vượt ra ngoài phạm vi quốc qua đến với phong trào cách mạng vô sản và công nhân thế giới.




  1. NHỮNG DANH HIỆU CAO QUÝ ĐƯỢC TRAO TẶNG

  • Năm 1955, được Ủy ban Giải thưởng hòa bình quốc tế Lênin tặng giải thưởng Lênin “Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc”

  • Năm 1958, được Quốc hội và Hồ Chủ Tịch tặng thưởng Huân chương Sao Vàng

  • Năm 1967, được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huân chương Lênin về những hành động cách mạng của Bác Tôn góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền Xô viết trong thời kỳ nội chiến

  • Năm 1978, được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huân chương Cách mạng Tháng Mười để ghi nhận công lao đóng góp to lớn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng vào việc phát triển và củng cố tình hữu nghị anh em, hợp tác về mọi mắt giữa Việt Nam – Liên Xô.

  • Năm 1978, Đoàn chủ tịch Quốc hội Mông Cổ, tặng thưởng Huân chương Xu-khechương Xu-khê Ba-to, huân chương cao quý nhất của Mông Cổ, để ghi nhận công lao to lớn của Chủ tịch đã cống hiến cho sự nghiệp hòa bình, hữu nghị và chủ nghĩa xã hội của các dân tộc; trong việc củng cố tình hữu nghị anh em giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mông Cổ.




  1. MỘT SỐ CÂU NÓI ĐƯỢC TRÍCH DẪN

“Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc… Là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần kiệm liêm chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”

(Lời chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp đồng chí Tôn Đức Thắng được trao tặng Huân chương sao vàng, 20/8/1958)

“Cụ Tôn Đức Thắng và đồng chí Nguyễn Lương Bằng là hai chiến sĩ lão thành của cách mạng Việt Nam, những người bạn chiến đấu gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người con ưu tú của dân tộc Việt Nam ta. Hai đồng chí được Quốc hội nhất trí tín nhiệm giao cho trọng trách lãnh đạo Nhà nước ta là rất xứng đáng”



(Lời chúc mừng của đồng chí Trường Chinh nhân dịp đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu giữ Chủ tịch nước, 1969)

“Bác Tôn là người chiến sĩ cách mạng không bao giờ và không gì lay chuyển được, một con người hết sức nhiệt thành, trung thực, quên mình, nay đã 88 tuổi rồi mà luôn nhẹ nhàng, thanh thản”



(Lời của đồng chí Lê Duẩn, trong một dịp đi thăm Côn Đảo năm 1976)

“Đồng chí Tôn Đức Thắng là tượng trưng của những tinh hoa của phẩm chất cách mạng và phong trào cách mạng của giai cấp công nhân Việt nam, dân tộc Việt nam và những người cộng sản Việt Nam .. Chỉ thấy ở Bác đức tính, một phong cách không hề biến đổi. Đó là đức tính, phong cách công nhân, giản dị, chân thành, trong sáng. Khi đã là người lãnh đạo, đồng chí vẫn giữ những đức tính vốn có của mình. Giản dị mà cao quý biết bao!”



(Xã luận báo Nhân dân, cơ quan TW của Đảng Cộng sản Việt Nam, số ra ngày 3/4/1980)

“Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tủy, về tinh thần anh dũng, bất khuất, về đức tính khiêm tốn giản dị. Toàn thể đồng chí và đồng bào chúng ta rất tự hào về sự nghiệp và đạo đức cách mạng của đồng chí. Chúng ta quyết mãi mãi noi gương cao cả của đồng chí để khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng … Đồng chí là người tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.



(Điếu văn đọc trong lễ truy điệu đồng chí Tôn Đức Thắng)



  1. VÀI GIAI THOẠI VỀ BÁC TÔN

* Thiếu tướng Tô Ký kể chuyện Bác Tôn

Anh Ba Tô Ký tới thăm chú Hai Thắng vào một ngày chủ nhật tại Hà Nội. Bấy giờ vào khoảng ba giờ chiều. Anh Ba rất ngạc nhiên khi thấy chú Hai ở trần, chỉ mặc quần đùi, tay cầm mỏ-lết, loay hoay sửa dây sên chiếc xe đạp. Đây là xe đạp riêng của chú Hai Thắng mà sáng nào chú Hai cũng đạp một vòng hoặc ở Vườn Bách Thảo, hoặc ở Hồ Tây. Đi thăm bạn bè ở gần nhà, chú Hai Thắng cũng đạp xe. Vừa là thể dục thể thao, vừa là tiết kiệm công quỹ (không phải dùng command-car tốn xăng).

Chuyện chú Hai Thắng tự tay sửa xe hay các vật dụng trong nhà, không phiền tới anh em thợ là chuyện ai cũng biết. Anh Ba Tô Ký "sà" xuống ngồi kế bên xem chú Hai sửa xe. Bỗng anh Ba thấy trong hộp đựng dụng cụ "cờ-lê, mỏ-lết" có mấy chiếc huân chương các hạng nằm bên cạnh các kềm búa. Anh khẽ kêu lên:

- Chú Hai, sao lại có mấy cái này trong hộp đồ nghề?

Bác Tôn vẫn tiếp tục sửa cho xong sợi dây sên, chậm rãi nói:

- Có mấy cái này (chỉ kềm búa) mới có mấy cái đó (chỉ các huân chương).

Chỉ một câu vắn tắt đó, chú Hai Thắng đã giúp anh Ba Tô Ký nhận ra chân lý: "Lao động tạo ra tất cả - mà đỉnh cao là vinh quang".

Chuyện này anh Ba Tô Ký thường kể với bạn bè và kết luận: "Bác Tôn đúng là một người thợ".


Hãy nghe bác sĩ Trần Hữu Nghiệp kể về chuyện Bác Tôn sửa Pháp văn của bác sĩ Nghiệp thì mới biết cái vốn tiếng Pháp của Bác Tôn.

* Bác sĩ Nghiệp nhận Bác Tôn là thầy

Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp may mắn được làm "ngự y" (bác sĩ riêng) cho Bác Tôn trong chuyến công du sang nước Đức và Liên Xô vào cuối năm 1955 và đầu năm 1956. Đi Cộng hòa Dân chủ Đức là để dự lễ chúc thọ Chủ tịch Vin-hem-pích 80 tuổi. Đi Liên Xô là để nhận Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lénine.

Bác Tôn nhờ bác sĩ Nghiệp viết giùm bài phát biểu ngắn để Bác đọc tại lễ chúc thọ Chủ tịch nước Đức.

Bác sĩ Nghiệp tốt nghiệp Y khoa Bác sĩ tại Paris, nói và viết tiếp Pháp dễ dàng như nói và viết tiếng mẹ đẻ.

Chừng đưa bản thảo cho Bác duyệt thì lạ lùng làm sao, bác sĩ Nghiệp bị Bác Tôn sửa văn. Và sửa rất chính xác. Đó là câu "Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình" Bác sĩ Nghiệp viết "Le peuple Vietnamien aimant la paix" Bác Tôn dùng bút đỏ sửa "aimant la paix" ra "épris de paix". Cụm từ "épris de paix" hay hơn "aimant la paix" rất nhiều. Từ đó bác sĩ Nghiệp suy tôn Bác Tôn là "sư phụ".

Cũng như bác sĩ Nghiệp, ai cũng biết Bác Tôn có bằng Tiểu học (Cerrtificat d'Eựtudes Primaires Complémentaires Indochinoises - CEPCI) rồi học bốn năm Trường Máy trước khi đi làm thợ ở hãng Ba Son (Tây gọi là Arsenal tức Hải quân Công xưởng). Vậy mà trình độ Pháp văn của Bác Tôn "ăn trùm" vốn liếng tiếng Pháp của bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đã học Pháp văn từ lớp chót lên tới tú tài là 13 năm, cộng với bảy năm học Đại học Y khoa, tổng cộng là hai mươi năm trường.


Anh Ba Khiêm kể về Bác Tôn ở Côn đảo

Côn Đảo là trường mẫu giáo đồng thời là trường đại học chính trị cho anh em tù bị thực dân Pháp đày ra hòn đảo ngục tù này. Trong giới chính trị phạm có câu nói vui "Lycée Khám Lớn, đại học Côn Nôn" (Lycée tiếng Pháp có nghĩa là trung học).

Trong tù có nhiều lớp học. Lớp dạy văn hóa, đặc biệt là sử - địa, lớp dạy chính trị. Lớp dạy chính trị có thêm vài ban như ban sưu tầm (sách báo), ban sao chép (để phát cho nhiều phòng), đồng chí Phạm Văn Đồng dạy chính trị, ban sưu tầm có Bác Tôn, anh Ba Khiêm (Ung Văn Khiêm), ban sao chép có anh Sáu Tây (Nguyễn Văn Tây)�

Bác Tôn làm ở Sở Lưới, nơi có mấy chiếc chaloupe (sà lúp) và canot (ca nô). Chúa đảo Bouvier đưa Bác Tôn về đây sau khi đọc hồ sơ, thấy người tù số 5289 từng là trưởng máy tốt nghiệp Trường Máy Sài Gòn, làm thợ hãng Ba Son và có thâm niên hai năm trưởng máy trên chiến hạm France của Quân cảng Toulon. Lão phệ Bouvier muốn sử dụng tay nghề của người tù lừng danh nầy. Lão có lý phần nào vì sà-lúp hư, ca-nô hỏng, người tù 5289 đều sửa tốt và nhanh. Nhưng lão không ngờ đã tạo điều kiện cho nhà cách mạng cao tuổi phục vụ đắc lực phong trào học chính trị trong khám. Nhờ lái ca-nô, Bác Tôn thường gặp các thủy thủ Pháp trên các tàu viễn dương tuyến Marseille - Sài Gòn. Qua đó Bác xin báo Le Paria, báp L'Humanité, bí mật giao cho anh Ba Khiêm giấu trong đòn gánh chuyển về trại giam. Anh Ba Khiêm kể chuyện này và xem Bác Tôn là người tiếp tế sách báo chính trị cho anh em chính trị phạm thời ấy (những năm 1932 - 1935).

Lái Ca-nô Cứu tù vượt ngục

Vẫn theo lời kể của anh Ba Khiêm, mỗi khi có tù vượt ngục, chúa đảo cho lính lên ca-nô đuổi theo. Người lái là tên tù số 5289. Nhưng nếu bọn lính recherche (rờ sẹt) tinh ý sẽ thấy không lần nào chúng bắt được tù vượt đảo nếu ca nô do người tù số 5289 lái. Nhiều lần chúng bỏ ống dòm thấy bạn bè của tù nhấp nhô trước mắt. Bọn chúng hí hửng sắp có tiền thưởng và sẽ được lên hương với chiên công bắt được tù vượt ngục của biển khơi. Nhưng chúng đã mừng quá sớm. Ca nô đang chạy ngon trớn bỗng khẹt khẹt rồi bốc khói đen kịt. Chúng quay lại hỏi tài xế. Người tù 5289 đang hì hục tháo máy, dũa bougie hay mở bộ phận lọc dầu hút cặn. Loay hoay sửa đến mồ hôi hột. Chừng máy nổ tốt thì than ơi đêm đã xuống tối đen. Không còn thấy bóng dáng chiếc bè kia đâu! Vậy là đành dậm chân chắc lưỡi quay về tay không. Có đứa sanh nghi, nhung làm sao dám chê tài lái ca nô của người thợ máy nổi tiếng từ quân cảng Toulon tới Sài Gòn!

Chưa có ai hỏi trong mười sáu năm ở Côn Đảo và trong mấy năm làm ở Sở Lưới, Bác Tôn đã cứu bao nhiêu đồng chí đồng đội vượt trên Biển Đông.

Theo lời kể của đồng chí Nguyễn Văn Trí – người có dịp chung sống với Bác Tôn trong một thời gian khá dài tại Côn Đảo

Một cách xóa bỏ thành kiến hay nhất

Trong nhà giam, có một đồng chí vì có phạm sai lầm nên bị một số đồng chí khác thành kiến. Đồng chí này đem chuyện đó phàn nàn với Bác Tôn.

Bác giải thích:


  • Việc thành kiến như vậy, thường là do sự ấu trĩ của hai bên. Nhưng về phía người bị thành kiến nên kiểm điểm xem mình có sai lầm gì không, hoặc việc làm đúng mà thái độ không tốt khiến cho người ta có thành kiến với mình. Về phía anh em, thành kiến với đồng chí là không đúng. Muốn xóa bỏ hết thành kiến, chỉ có một cách: Anh nỗ lực hoạt động cho cách mạng với tất cả nhiệt tình của mình. Các đồng chí kia cũng hăng hái làm cách mạng. Đôi ba năm sau, chậm là năm, mười năm, hai bên đều tiến bộ cả: hai bên sẽ đoàn kết thêm hơn và câu chuyện thành kiến trở thành không đáng kể. Đó là một cách giải quyết có hiệu quả nhất.

Những phút nghiêm khắc xét mình

Trong nhà tù, thường có những lúc Bác Tôn đi đi lại lại, trầm lặng. Một hôm, có đồng chí hỏi Bác:



  • Anh suy nghĩ gì đó?

Bác trả lời:

  • Kiểm điểm lại trong đời hoạt động, tôi có gặp rất nhiều người trong giới lao động, kể cả lao động ngoại quốc. Trong số đó có rất nhiều người tốt. Vậy mà có người chưa được tôi tuyên truyền gì cả, hoặc có, nhưng không thấm vào đâu. Có người đã giác ngộ rồi mà tôi chưa tìm mọi cách để giúp đỡ họ trở thành đảng viên tốt. Tôi rất ăn năn, vì như vậy là mình thiếu tinh thần trách nhiệm đối với cách mạng. Xét cho cùng, mình hãy còn thiếu một nhiệt tình cách mạng đầy đủ.



  1   2


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương