Quy hoạch sử DỤng đẤT ĐẾn năM 2020 KẾ hoạch sử DỤng đẤT 5 NĂm kỳ ĐẦU (giai đOẠN 2011 2015) huyện gia lâM – thành phố hà NỘI



tải về 2.59 Mb.
trang1/23
Chuyển đổi dữ liệu18.07.2016
Kích2.59 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   23


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO THUYẾT MINH TỔNG HỢP


QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (GIAI ĐOẠN 2011 - 2015)


HUYỆN GIA LÂM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

GIA LÂM - 2013




CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO THUYẾT MINH TỔNG HỢP


QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (GIAI ĐOẠN 2011 - 2015)


HUYỆN GIA LÂM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI


Ngày ... tháng ... năm ...

CƠ QUAN THẨM ĐỊNH

QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT


Ngày ... tháng ... năm ...

CƠ QUAN LẬP

QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT





MỤC LỤC


1.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó 24

2.1.1. Đất nông nghiệp 32

2.1.2. Đất phi nông nghiệp 33

2.1.3. Đất chưa sử dụng 35

2.2.2. Biến động các loại đất chính 36

3.1. Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất 42

3.1.1. Đất nông nghiệp 44

1.1. Đánh giá Tiềm năng đất đai để phát triển nông nghiệp 47

Sử dụng đất phải khoa học, hợp lý, tiết kiệm do diện tích tự nhiên có hạn, không để thừa, hoang hoá hoặc lãng phí đất; phải đảm bảo duy trì và bồi bổ chất lượng đất, tránh các tác động làm giảm độ màu mỡ hay làm thoái hoá đất. Bên cạnh đó còn phải phản ánh được quan điểm khai thác cảnh quan thiên nhiên với cây xanh, mặt nước, hướng gió để tạo nên môi trường sống tốt nhất với con người. Trong việc bố trí các công trình phải chú ý đến việc cải thiện môi trường sống và tổ chức tốt môi trường sinh thái đô thị. 52



DANH MỤC BẢNG


1.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó 24

2.1.1. Đất nông nghiệp 32

2.1.2. Đất phi nông nghiệp 33

2.1.3. Đất chưa sử dụng 35

Bảng 4 . Tình hình biến động sử dụng đất huyện Gia Lâm 35

2.2.2. Biến động các loại đất chính 36

3.1. Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất 42

3.1.1. Đất nông nghiệp 44

1.1. Đánh giá Tiềm năng đất đai để phát triển nông nghiệp 47

Sử dụng đất phải khoa học, hợp lý, tiết kiệm do diện tích tự nhiên có hạn, không để thừa, hoang hoá hoặc lãng phí đất; phải đảm bảo duy trì và bồi bổ chất lượng đất, tránh các tác động làm giảm độ màu mỡ hay làm thoái hoá đất. Bên cạnh đó còn phải phản ánh được quan điểm khai thác cảnh quan thiên nhiên với cây xanh, mặt nước, hướng gió để tạo nên môi trường sống tốt nhất với con người. Trong việc bố trí các công trình phải chú ý đến việc cải thiện môi trường sống và tổ chức tốt môi trường sinh thái đô thị. 52

2.1.2. Đất phi nông nghiệp 66


ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là nguồn tài nguyên, nguồn lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định tình hình chính trị - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng và là thành quả tạo lập, bảo vệ của nhiều thế hệ người dân. Chính vì vậy, nhiều năm qua chính quyền và nhân dân trong huyện luôn tìm nhiều giải pháp nhằm khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai.

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả(Điều 18).

Nghị quyết lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá IX tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã khẳng định “Khai thác, sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả, phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực về đất; đầu tư mở rộng diện tích, nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và môi trường sinh thái theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước”.

Luật Đất đai năm 2003 quy định “Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Mục 2 (từ Điều 21 đến Điều 30) của Luật này còn quy định trách nhiệm, nội dung thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Điều 31 quy định căn cứ để giao đất, cho thuê đất phải dựa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất...

Việc sử dụng đất liên quan chặt chẽ đến mọi hoạt động của từng ngành và từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống còn của từng người dân cũng như vận mệnh của cả quốc gia. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong các nội dung quan trọng về quản lý Nhà nước về đất đai đã được Luật đất đai quy định. Thông qua kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã góp phần đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Quy hoạch sử dụng đất ở các cấp giúp nhà nước thực hiện được quyền định đoạt về đất đai, nắm chắc quỹ đất, đảm bảo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đưa công tác quản lý đất đai ở các địa phương đi vào nề nếp. Quy hoạch sử dụng đất đảm bảo cho việc chủ động dành quỹ đất hợp lý cho phát triển của các ngành, các lĩnh vực, đáp ứng nhu cầu đất đai cho xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, thương mại, dịch vụ, khu dân cư.... góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, giữ vững ổn định tình hình xã hội đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Quy hoạch sử dụng đất đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái.

Huyện Gia Lâm có tổng diện tích tự nhiên 11.472,99 km2, dân số 243.957người, mật độ dân số trung bình là 2.126 người/km2, vị trí địa lý thuận lợi để giao lưu kinh tế, văn hoá xã hội với các tỉnh khác trong cả nước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,5%/năm. Trong những năm qua, hòa chung với nhịp độ phát triển của thành phố Hà Nội, trên địa bàn huyện Gia Lâm diễn ra quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh tế ngày một gia tăng, đã tác động mạnh đến sự biến động cơ cấu đất đai của huyện. Vấn đề sử dụng và quản lý đất trên địa bàn huyện gặp nhiều khó khăn và phức tạp hơn. Ngày càng nhiều các chương trình, dự án lớn sẽ được đầu tư phát triển trên địa bàn huyện cần được bố trí đất, sự gia tăng dân số cũng gây áp lực không nhỏ đối với quỹ đất của địa phương và hầu hết các ngành kinh tế trên địa bàn đều có nhu cầu về đất để mở rộng và phát triển. Chính vì vậy, làm thế nào để phân bổ quỹ đất hợp lý đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng đất cho tất cả các ngành tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội của huyện là việc làm cần thiết.

Do tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong giai đoạn hiện nay cũng như việc chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Luật đất đai 2003 về kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm và kỳ kế hoạch sử dụng đất là 5 năm; UBND thành phố Hà Nội, UBND huyện Gia Lâm, phòng TNMT huyện Gia Lâm phối hợp với các cấp, ngành triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 – 2015).

Xuất phát từ thực tế trên, được sự chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội, UBND huyện Gia Lâm đã phối kết hợp với Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên Đất và Môi trường - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội tiến hành điều tra, khảo sát lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011 - 2015 của huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội



*. Mục đích và yêu cầu đối với quy hoạch huyện Gia Lâm

- Quy hoạch sử dụng đất mang tính chất dự báo và thể hiện những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện, các ngành, các lĩnh vực trên từng địa bàn cụ thể theo các mục đích sử dụng đất đai hợp lý và có hiệu quả. Do đó quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011 - 2015 của huyện Gia Lâm phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của tỉnh, của huyện; cụ thể hoá một bước quy hoạch sử dụng đất của tỉnh đến năm 2020. Sau khi được phê duyệt, quy hoạch sử dụng đất sẽ trở thành công cụ quản lý Nhà nước về đất đai để các cấp, các ngành quản lý, điều chỉnh việc khai thác sử dụng đất đai, phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn; xử lý các vấn đề còn bất cập và các vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai.

- Bảo đảm mối quan hệ hài hoà giữa khai thác và sử dụng đất để phát triển kinh tế - xã hội với sử dụng đất bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái.

- Quy hoạch sử dụng đất của huyện là cơ sở quan trọng để đảm bảo tính thống nhất trong quản lý Nhà nước về đất đai. Thông qua quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất Nhà nước vừa thực hiện quyền định đoạt về đất đai, vừa tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc sử dụng đất nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh.

- Quy hoạch sử dụng đất của huyện là công cụ để thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tác dụng quyết định để cân đối giữa mục tiêu an ninh lương thực và thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phân công lại lao động, khắc phục hiện tượng mất đất nông nghiệp có năng suất cao.

- Xây dựng quy hoạch sử dụng đất của huyện đã tính toán đưa ra một khung chung có tính nguyên tắc để tiến tới xây dựng chiến lược khai thác sử dụng đất toàn huyện; đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá, đồng thời làm cơ sở để các ngành, các cấp lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mình theo Luật Đất đai hiện hành.



*. Cở sở pháp lý lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) huyện Gia Lâm.

- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

- Luật đất đai năm 2003

- Nghị định số 181/2004/NĐ – CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.

- Thông tư 19/TT- BTNMT, ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai.

- Quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2020

- Công văn số 2778/BTNMT – TCQLĐĐ ngày 24 tháng 8 năm 2009 của Tổng Cục quản lý Đất đai về triển khai quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011- 2015).

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.


Nội dung quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) huyện Gia Lâm bao gồm các nội dung sau:

Phần I: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

Phần II: Tình hình quản lý sử dụng đất đai

Phần III: Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng dài hạn sử dụng đất

Phần IV: Phương án quy hoạch sử dụng đất


Phần I

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI

I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.1. Vị trí địa lý

Gia Lâm là huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Đông thành phố Hà Nội, huyện có vị trí địa lý như sau:

Phía Bắc giáp quận Long Biên, huyện Đông Anh và tỉnh Bắc Ninh.

Phía Đông giáp tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Hưng Yên.

Phía Tây giáp quận Long Biên và quận Hoàng Mai.

Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên.

Huyện Gia Lâm có vị trí địa lý thuận lợi trong phát triển kinh tế – xã hội và giao lưu thương mại. Khu vực nông thôn huyện Gia Lâm là địa bàn hấp dẫn các nhà đầu tư do có những thuận lợi về địa lý kinh tế.

1.1.2. Địa hình, địa mạo

a. §Þa h×nh


Huyện Gia Lâm thuộc vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng chung của địa hình và theo hướng dòng chảy của sông Hồng. Tuy vậy, địa hình của huyện khá đa dạng, làm nền tảng cho cảnh quan tự nhiên, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, xây dựng các công trình hạ tầng dân dụng và khu công nghiệp, đảm bảo yêu cầu cho phát triển kinh tế xã hội của huyên.

1.1.3. Khí hậu

Huyện Gia Lâm mang đặc điểm chung của khí hậu, thời tiết vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng:

- Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng ẩm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô hanh keo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Giữa 2 mùa nóng ẩm và mùa khô hanh có các thời kỳ chuyển tiếp khí hậu tạo ra một dạng khí hậu 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

- Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,50C, mùa nóng nhiệt độ trung bình tháng đạt 27,40C.

- Lượng mưa trung bình hàng năm 1400-1600mm. Mưa tập trung vào mùa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8.

- Số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.500 giờ, thấp nhất là 1.150 giờ, cao nhất là 1.970 giờ. Tổng lượng bức xạ cao, trung bình khoảng 4.272Kcal/m2/tháng.

- Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc. Gió mùa Đông Nam bắt đầu vào tháng 5, kết thúc vào tháng 10 mang theo nhiều hơi nước từ biển vào. Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường gây ra lạnh và khô. Rét đậm trong tháng 12 và tháng 1 và thường gây ra những thiệt hại cho sản xuất.

1.1.4. Thuỷ văn

Huyện Gia Lâm nằm tại Tả Ngạn sông Hồng. Tuyến sông Đuống từ phía Tây Bắc chạy qua trung tâm sang phía Đông Nam huyện và sông Bắc Hưng Hải ở phía Nam huyện. Đây là hai con sông đang làm nhiệm vụ tưới tiêu cho huyện.

Sông Đuống chia huyện thành hai vùng: Bắc Đuống và Nam Đuống. Vùng Nam Đuống được bao bọc bởi hệ thống đê ngăn lũ của sông Hồng và sông Đuống.

* Khu vực Bắc sông Đuống:

- Phần đất phía Tây Bắc đường 1A: Cao độ giảm dần từ ven sông vào phía trong đồng, từ Tây Nam sang Đông Bắc và thay đổi cao độ trung bình từ 7, 20m đến 5,5m.

- Phần đất phía Đông Nam đường 1A: Cao độ cũng giảm dần từ ven sông vào phía trong đồng, từ Tây Bắc xống Đông Nam và thay đổi cao độ trung bình từ 6, 2m đến 4,2m.

*Khu vực Nam sông Đuống:

Cao độ giảm dần từ ven sông vào trong đồng, từ Tây Bắc xuống Đông Nam và thay đổi trung bình từ 7, 2m đến 3, 2m. Tại các điểm dân cư cao độ nền thường cao hơn từ 0, 4 đến 0, 7m so với cao độ ruộng lân cận. Đê sông Hồng có - Cao độ thay đổi trong khoảng 13,5-14, 0m. Đê sông Đuống có cao độ 12,5-13,0m.

Huyện Gia Lâm chịu ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ văn của các sông:

- Sông Hồng: lưu lượng trung bình nhiều năm 2710m3/s mực nước lũ thường cao 9-12m. Mực lũ cao nhất là 12, 38m vào năm 1904; 12,60m (1915); 13,9m (1945); 12,23m (1968); 13,22m (1969); 14,13m (1971); 13,2m (1983) 13,30m (1985) 12,25m (1986) và 12,36m (1996).

- Sông Đuống: mực nước lớn nhất tại Thượng Cát trên sông Đuống là 13,68m (1971). Tỷ lệ phần nước sông Hồng vào sông Đuống khoảng 25%.

- Sông Cầu Bây: Mực nước ở cao độ 3m với tần suất 10%.



1.2. Các nguồn tài nguyên.

1.2.1. Tài nguyên đất và các vùng sinh thái

Đất đai của huyện Gia Lâm khá phì nhiêu và địa hình bằng phẳng với 4 loại đất chính:

- Đất phù sa được bồi hàng năm.

- Đất phù sa không được bồi hàng năm không glây.

- Đất phù sa không được bồi hàng năm có glây.

- Đất phù sa không được bồi hàng năm có ảnh hưởng của vỡ đê năm 1971.

Căn cứ vào điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội, đến nay huyện Gia Lâm được phân thành 4 tiểu vùng kinh tế sinh thái:

a) Tiểu vùng 1

Tiểu vùng 1 hay tiểu vùng trung tâm bao gồm 6 đơn vị hành chính: xã Đa Tốn, xã Đặng Xá, xã Kiêu Kỵ, xã Cổ Bi, xã Dương Xá và thị trấn Trâu Quỳ.

Mật độ dân cư của tiểu vùng khoảng 1904 người/km2, đất nông nghiệp bình quân 860 m2/khẩu nông nghiệp. Địa hình bằng phẳng, hơi trũng, cốt đất trung bình 3,5-4m. Đất chủ yếu là đất phù sa cũ không được bồi hàng năm có glây.

Đây là tiểu vùng kinh tế phát triển, thâm canh lúa, sản xuất giống cây ăn quả và chăn nuôi lợn. Đặc biệt khu vực thị trấn Trâu Quỳ, trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội là nơi cung cấp các giống cây ăn quả có chất lượng cao cho thành phố Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Đây cũng là vùng trung tâm huyện có tốc độ đô thị hoá cao.



b) Tiểu vùng 2

Tiểu vùng 2 hay tiểu vùng khu sông Hồng bao gồm 4 đơn vị hành chính trực thuộc: Xã Đông Dư, xã Bát Tràng, xã Kim Lan, xã Văn Đức.

Mật độ dân cư trung bình khoảng 1660 người/km2, bình quân đất nông nghiệp/khẩu nông nghiệp là 571m2. Địa hình tương đối thấp. Các loại đất bao gồm: đất phù sa cổ không được bồi hàng năm có glây, đất phù sa được bồi hàng năm và ít được bồi hàng năm của đồng bằng sông Hồng. Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là rau, hoa màu, lợn, bò. Sản phẩm tiểu thủ công nghiệp nổi tiếng gốm sứ Bát Tràng. Xã Bát Tràng đang phát triển nhanh theo xu hướng hình thành thị trấn.

c) Tiểu vùng 3

Tiểu vùng 3 hay tiểu vùng Nam Sông Đuống gồm 4 đơn vị hành chính trực thuộc: xã Dương Quang, xã Kim Sơn, xã Phú Thị, xã Lệ Chi.

Mật độ dân số trung bình khoảng 1623 người/km2, bình quân đất nông nghiệp/khẩu nông nghiệp là 662m2/khẩu, địa hình tương đối cao và thoát nước. Tiểu vùng có các loại đất chính là: đất phù sa cổ không được bồi hàng năm, đất phù sa cổ bị glây.

Hiện nay sản xuất nông nghiệp vẫn là chính, sản phẩm chủ yếu của vùng là lúa, ngô và rau màu. Vùng có tiềm năng phát triển cây ăn quả theo hướng tập trung. Sản xuất công nghiệp đang hình thành và phát triển với cụm công nghiệp Phú Thị và Hapro-Lệ Chi.



d) Tiểu vùng 4

Tiểu vùng 4 hay tiểu vùng Bắc Đuống gồm 8 đơn vị hành chính trực thuộc: xã Yên Thường, xã Yên Viên, xã Dương Hà, xã Đình Xuyên, xã Trung Màu, xã Phù Đổng, thị trấn Yên Viên, xã Ninh Hiệp.

Mật độ dân số trung bình là 2191 người/km2, là khu vực tập trung đông dân cư nhất của huyện, bình quân đất nông nghiệp/khẩu nông nghiệp là 403m2/ khẩu. Địa hình tương đối cao và dễ thoát nước, thấp dần về phía Ninh Hiệp và Trung Màu. Tiểu vùng có các loại đất chính là: đất phù sa cổ không được bồi hàng năm, đất phù sa cổ bị glây, đất phù sa khác.

Cơ cấu kinh tế của tiểu vùng khá đa dạng: trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề và dịch vụ, các sản phẩm nông nghiệp: lúa, rau, cá, bò thịt, bò sữa. Trên địa bàn có chợ Nành- chợ vải Ninh Hiệp lớn nhất về quy mô giao dịch buôn bán vải của Miền Bắc nước ta, là nguồn thu thuế lớn cho ngân sách Nhà nước.


1.2.2. Tài nguyên nước;

* Nước mặt : Gia Lâm có hai con sông lớn chảy qua là Sông Hồng và Sông Đuống. Đây là 2 con sông có trữ lượng nước khá lớn, là nguồn chính đáp ứng yêu cầu về nguồn nước ngọt phục vụ cho phát triển sản xuất và đời sống dân sinh.

* Nước ngầm: Theo báo cáo điều chỉnh quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội huyện Gia Lâm, nguồn nước ngầm của huyện Gia Lâm có 3 tầng: Tầng chứa nước không áp có chiều dày nước thay đổi từ 7,5m – 19,5m, trung bình 12,5m. Chất sắt khá cao từ 5-10mg/l, có nhiều thành phần hữu cơ. Tầng nước không áp hoặc áp yếu, đây là tầng chứa nước nằm giữa lưu vực Sông Hồng. Chiều dày chứa nước từ 2,5 – 22,5m, thường gặp ở độ sâu 15-20m. Hàm lượng sắt khá cao có nơi đến 20mg/l. Tầng chứa nước áp lực là tầng chứa nước chính hiện đang được khai thác rộng rãi phục vụ cho huyện và Hà Nội nói chung. Tầng này có chiều dày thay đổi trong phạm vi khá rộng từ 28,6m – 84,6m, trung bình 42,2m.

1.2.3. Tài nguyên nhân văn:

* Tài nguyên di tích lịch sử, cách mạng và văn hóa:

Khu vực nông thôn có 244 điểm di tích lịch sử văn hóa và di tích cách mạng, trong đó có 110 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và thành phố (8 di tích được gắn biển di tích cách mạng kháng chiến). Các di tích nổi tiếng đã được nhân dân nhiều địa phương trong nước và quốc tế biết đến như : Đền – chùa Bà Tầm (xã Dương Xá), Đình Chử Xá (xã Văn Đức), cụm di tích Phù Đổng, Chùa Keo, Đình Xuân Dục, Đình Đền Chùa Sủi….



* Lễ Hội Truyền thống:

Hàng năm, trên địa bàn huyện Gia Lâm có khoảng 84 lễ hội đình chùa được tổ chức, trong đó có những di tích nổi tiếng như đền Ỷ Lan, đền Chử Đồng Tử. Đặc biệt, hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc của Việt Nam đã chính thức được Unesco công nhận là Di sản van hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 11/2010.



* Làng nghề:

Hiện tại huyện Gia Lâm có một số làng nghề như: Làng nghề gốm sứ Bát Tràng, làng nghề Quỳ Vàng, may da ở xã Kiêu Kỵ, làng nghề bào chế thuốc Nam, thuốc Bắc ở xã Ninh Hiệp. Làng gốm Bát Tràng là làng nghề nổi tiếng trong nước và quốc tế, đã được quy hoạch thành làng nghề kết hợp với du lịch. Với hệ thống làng nghề đa dạng và phong phú đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của của huyện và tạo cơ hội việc làm cho người dân địa phương.



1.3. Thực trạng môi trường.

Trong giai đoạn vừa qua, hòa chung với công cuộc đổi mới của thành phố Hà Nội, huyện Gia Lâm đã và đang diễn ra quá trình chuyển dịch mạnh mẽ về kinh tế - xã hội. Các khu vực thị trấn và các trung tâm kinh tế xã hội, các khu làng nghề CN - TTCN đang được xây dựng và phát triển mạnh, đang đe dọa đến mức độ ô nhiễm tới môi trường đất, nước, không khí của địa phương, đặc biệt là các xã có nhiều hộ kinh doanh như: Bát Tràng, Kiêu Kỵ…..

Hiện trạng rãnh tiêu thoát nước thải khu dân cư nhiều nơi đã bị xuống cấp, chưa có nắp đậy nhưng hầu hết các xã, thị trấn, chưa có kinh phí xây dựng, tu sửa, nạo vét, đang phần nào ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân địa phương.

Tình trạng ô nhiễm môi trường đất do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đang gia tăng nhanh chóng do người dân sử dụng hóa chất trong nông nghiệp đã và đang tác động ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và môi trường trước mắt cũng như lâu dài.

Vấn đề đáng lưu ý nhất hiện nay là việc sạt lở đất vùng ven sông Hồng và ảnh hưởng của lũ sông khu vực ngoài đê làm mất đi nhiều hecta đất canh tác và nhiều hộ dân đã buộc phải chuyển nơi ở. Mặc dù hệ thống đê chính và đê bối luôn được củng cố. Vì vậy, cần lưu ý rất nhiều đến vấn đề ổn định địa bàn dân cư, đất đai sản xuất, dự kiến trước các biện pháp kịp thời ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục ôn nhiễm môi trường.

II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI

2.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Tăng tưởng kinh tế trên địa bàn huyện Gia Lâm đạt 11,3%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp từ 25,76%/năm xuống còn 20,06% năm 2010.

Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thể hiện qua bảng dưới đây:

Bảng 1. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các năm đvt: %

Ngành kinh tế

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

- Nông – Lâm – TS

22,7

22,3

22,1

22,1

19,8

- Công nghiệp – XD

54,1

54,3

54,3

52,2

54,7

- Thương mại - DV

23,2

23,4

23,6

24,6

25,5

Tổng

100

100

100

100

100

(Nguồn: Tính toán theo số liệu phòng thống kê huyện Gia Lâm)

2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế.

2.2.1. Khu vực kinh tế nông nghiệp;

Sản xuất nông nghiệp huyện Gia Lâm đang từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh như:

- Vùng chăn nuôi bò sữa và bò thịt ở các xã ven đê Sông Đuống và ven sông Hồng như: Phù Đổng, Văn Đức, Lệ Chi, Trung Mầu, Dương Hà. Đây là các khu vực xa đô thị và có diện tích bãi chăn thả rộng.

- Vùng nuôi lợn nạc được hình thành ở các xã: Đa Tốn, Dương Quang, Văn Đức, Đặng Xá, Yên Thường, Phù Đổng, Trung Mầu.

- Vùng rau an toàn được hình thành tại các xã: Văn Đức, Đông Dư, Đặng Xá, Lệ Chi.

- Vùng cây ăn quả tập trung ở các xã: Đa Tốn, Kiêu Kỵ, Đông Dư.

- Vùng lúa cao sản, chật lượng cao tập trung ở các xã: Đa Tốn, Dương Xá, Yên Thường, Phù Đổng, Trung Mầu.

- Vùng trồng hoa, cây cảnh hình thành ở một số xã: Lệ Chi, Đa Tốn, Ninh Hiệp, Phù Đổng, Trung Mầu. Tuy nhiên diện tích trồng hoa và cây cảnh còn ít, chưa tương xứng tiềm năng thị trường tiêu thụ hoa cây cảnh của thị trường Hà Nội.

- Sản lượng một số cây trồng chính năm 2010 như sau; Thóc 28,27 nghìn tấn, ngô 9452 tấn; rau 38873 tấn, trong đó rau an toàn 20523 tấn; đậu tương 1600 tấn, quả các loại 26100 tấn.

Chăn nuôi phát triển khá: tổng đàn trâu năm 2010 có 134 con, giảm 17 con so với năm 2006. Đàn bò có 9318 con, trong đó có 2500 con bò sữa. Đàn lợn có 50,72 nghìn con. Đàn gia cầm có 362,27 nghìn con, chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ được thay thế bằng chăn nuôi tập trung.

Sản phẩm chính của nghành chăn nuôi gồm: thịt lợn hơi 15,56 nghìn tấn, thịt gia cầm 718,7 tấn, trứng 16,23 triệu quả; sữa tươi 11,67 nghìn tấn.

Các hoạt động dịch vụ trong nông nghiệp từng bước phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng. Giá trị dịch vụ trong nông nghiệp năm 2006 chỉ đạt 7,454 tỷ đồng; năm 2010 cũng chỉ đạt 11,219 tỷ đồng.

Nông nghiệp ở huyện Gia Lâm trong những năm qua đã có bước phát triển đáng khích lệ song vẫn còn thể hiện một số hạn chế:

+ Sản xuất nhỏ lẻ, các mô hình trang trại còn ít.

+ Đầu tư thâm canh và ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất chưa tương xứng với tiềm năng là một địa bàn ở gần các trung tâm đào tạo, nghiên cứu lớn về nông nghiệp.

+ Các vùng sản xuất chuyên canh hoa, cây cảnh, rau an toàn, sản phẩm quả, lợn nạc, gà ta chưa phát triển mạnh.

+ Chưa khai thác tốt tiềm năng phát triển nông nghiệp du lịch sinh thái.

+ Chưa thật sự quan tâm đến vấn đề chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, các hoạt động dịch vụ tiêu thụ sản phẩm còn non yếu, chủ yếu do nông dân tự sản tự tiêu.



2.2.2. Khu vực kinh tế công nghiệp;

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Gia Lâm cũng chủ yếu phát triển theo mô hình kinh tế hộ gia đình. Toàn vùng có 6325 hộ cá thể tham gia các hoạt động công nghiệp, TTCN và xây dựng. Số doanh nghiệp tại 20 xã hiện có 200 doanh nghiệp CN – TTCN, chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ.

Kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng còn phát triển ở mức khiêm tốn. Hiện tại mới có 10 HTX, trong đó có 7 HTX sản xuất TTCN và 3 HTX dịch vụ phát triển các nghành TTCN.

Trên địa bàn Huyện có các làng nghề truyền thống như làng nghề gốm sứ Bát Tràng, làng nghề quỳ vàng, may da Kiêu Kỵ, làng nghề bào chế thuốc nam, thuốc bắc Ninh Hiệp. Các làng nghề này không những góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân trong huyện mà còn thu hút đáng kể lao động ở các tỉnh ngoài.

Khu vực nông thôn Gia Lâm đã hình thành các khu cụm công nghiệp như: Cụm công nghiệp vừa và nhỏ Phú Thị; cụm công nghiệp thực phẩm Hapro (Lệ Chi); cụm sản xuất công nghiệp Kiêu Kỵ; cụm công nghiệp Ninh Hiệp. Bên cạnh đó còn có các làng nghề truyền thống như làng nghề gốm sứ Bát Tràng, Kim Lan, làng nghề quỳ vàng và may da Kiêu Kỵ. Việc hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở khu vực nông thôn huyện Gia Lâm đã tác động tích cực đến tiến trình phát triển kinh tế nông thôn. Một lực lượng lớn lao động, chủ yếu là lao động trẻ được thu hút vào làm việc tại các khu, cụm công nghiệp và các làng nghề góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho lao động nông thôn. Các nghành nghề thủ công cũng phát triển khá đa dạng như nghề cơ khí sản xuất hàng sắt, hàng nhôm, đồ gỗ, đồ gia dụng, cơ khí sửa chữa…thu hút nhiều lao động.

Tuy nhiên, phát triển CN – TTCN ở khu vực nông thôn huyện Gia Lâm đang gặp phải một số khó khăn, trở ngại:

+ Nguy cơ nhiễm môi trường cao, đòi hỏi phải lựa chọn các nghành công nghiệp sạch hoặc các nghành công nghiệp ít nguy hại cho môi trường là vấn đề không phải dễ dàng.

+ Quy hoạch mặt bằng cho phát triển các khu, cụm công nghiệp gặp khó khăn.

+ Công tác quản lý điều hành của chính quyền các cấp còn hạn chế trong các lĩnh vực chủ yếu như quản lý đất đai, xây dựng cơ bản, quản lý trật tự xây dựng.

+ Cơ chế thủ tục phiền hà, chậm được đổi mới làm chậm tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, từ đó ảnh hưởng đến quy mô và tốc độ mở rộng các cơ sở sản xuất công nghiệp.

+ Kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất còn yếu kém.

+ Cạnh tranh thị trường ngày càng gay gắt hơn.



2.2.3. Khu vực kinh tế dịch vụ.

Thương mại - du lịch, dịch vụ những năm gần đây đã có bước phát triển đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động xã hội. Thị trường nông thôn được mở rộng, các chợ được quan tâm đầu tư nâng cấp, hàng hoá tiêu thụ hàng năm tăng khá. Thương mại - dịch vụ đang thực sự là thế mạnh của nhiều xã trong huyện.

Tăng trưởng nghành thương mại dịch vụ đạt 15,63 %, là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Các hoạt động thương mại dịch vụ ở nông thôn phát triển khá đa dạng đã taọ điều kiện thúc đẩy phát triển nghành nông nghiệp, công nghiệp – TTCN và tạo ra nhiều việc làm cho lao động nông thôn.

Các tiềm năng phát triển dịch vụ du lịch đang từng bước được đầu tư khai thác, nhất là du lịch làng nghề đã bước đầu phát triển ở Bát Tràng là tiền đề rất tốt cho việc đầu tư khai thác tiềm năng du lịch làng nghề. Mặt khác, ở khu vực nông thôn đã xuất hiện một số mô hình du lịch sinh thái kết hợp với ẩm thực mang lại hiệu quả cao, hứa hẹn một tiềm năng to lớn về phát triển du lịch nông nghiệp – sinh thái. Tuy nhiên so với tiềm năng to lớn về dịch vụ du lịch thì tiềm năng này vẫn chưa được khai thác có hiệu quả.

Mạng lưới bưu chính viễn thông phát triển khá mạnh, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt. Các loại dịch vụ đa dạng và phong phú như: dịch vụ điện thoại, gửi tiết kiệm, chuyển phát nhanh…

2.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập.

2.3.1. Dân số

Tính đến năm 2011 dân số trung bình toàn huyện Gia Lâm là 243.957 người, 61806 hộ Qua các năm, quy mô dân số của huyện ngày một gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trên địa bàn huyện năm 2011 đạt mức 1,5%.

Mật độ dân số trung bình toàn huyện là 2.126 người/km2, dân số phân bố không đều giữa các xã trên địa bàn huyện. Dân số chính trên toàn huyện thành phần dân tộc kinh là chính..

Phần lớn dân số tập trung ở khu vực nông thôn là chính với 20 xã vùng nông thôn người, chiếm 85,5% tổng dân số toàn huyện, dân số đô thị chỉ tập trung ở khu vực hai thị trấn Yên Viên và thị trấn Trâu Quỳ chiếm 14,5% tổng dân số toàn huyện.



2.3.2. Lao động

Chương trình lao động về việc làm luôn được cấp Đảng, chính quyền và các ban ngành trong huyện quan tâm. Huyện có nhiều hình thức tạo việc làm cho lao động trong các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Đã giải quyết việc làm tại chỗ cho nhiều lao động. Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ đáng kể thanh niên đến tuổi lao động, những người bị dôi dư trong quá trình chuyển dịch kinh tế nông nghiệp, TTCN và làng nghề.

Năm 2010, toàn huyện có 124.458 người trong độ tuổi lao động chiếm 51,02% tổng số dân tự nhiê toàn huyện. Trong đó, tổng số lao động ở khu vực nông thôn năm 2010 của huyện là 106.929 lao động, tốc độ tăng 2,39%/năm, lao động đang làm trong các ngành nghề kinh tế có 101.761 người.

Chất lượng nguồn lao động tương đối khá. Năm 2010 tỷ lệ lao động qua đào tạo tại các trường Cao Đẳng, Đại học nghề, trung cấp nghề, sơ cấp nghề là 17%.

Tuy nhiên, hàng năm trên địa bàn huyện có một lượng lớn người bước vào độ tuổi lao động. Do đó, huyện cũng đang nỗ lực giải quyết việc làm bằng nhiều hình thức và đòi hỏi có các giải pháp mang tính khả thi.

2.3.3. Mức sống – thu nhập

Là một huyện ngoại thành, đa phần người dân trên địa bàn huyện sinh sống bằng nghề nông nghiêp. Thu nhập của cư dân nông thôn huyện Gia Lâm ngày càng được cải thiện, theo đánh giá thực tế đạt khoảng 17,9 triệu đồng/người/năm, cao hơn thu nhập bình quân của cư dân nông thôn toàn thành phố.

Kết quả giảm nghèo đạt nhiều thành tích đáng ghi nhận. Năm 2011 theo tiêu chuẩn nghèo mới của thành phố Hà Nội, khu vực nông thôn huyện Gia Lâm, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn khoảng 3,0%. Trên địa bàn huyện đến nay vẫn còn 3 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao là Trung Mầu, Lệ Chi và Dương Quang.

2.4. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn.

2.4.1. Tình hình phát triển đô thị

Mạng lưới các điểm dân cư đô thị huyện Gia Lâm đang trong quá trình phát triển. Hiện tại huyện Gia Lâm có hai thị trấn: Thị trấn Yên Viên và Thị trấn Trâu Quỳ.

1) Thị trấn Yên Viên:

- Thị trấn Yên Viên, hiện có diện tích khoảng 98, 45 ha với quy mô dân số khoảng 1,2 vạn người, là đô thị cấp V. Theo quy hoạch tổng thể Hà Nội đã được phê duyệt, thị trấn Yên Viên là một khu đô thị thuộc thành phố trung tâm.

- Thị trấn Yên Viên là thị trấn phát triển đã lâu, được hình thành trên cơ sở đầu mối giao thông đường sắt – Ga Yên Viên và một số xí nghiệp công nghiệp, kho tàng phục vụ cho ga Yên Viên. Tại đây có 1 vấn đề đặc biệt phải giải quyết: Mở rộng, tạo lập quỹ đất mới để đáp ứng nhu cầu phát triển và việc di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nằm xen kẽ trong các khu dân cư tới các khu, cụm công nghiệp tập trung.

2) Thị trấn Trâu Quỳ:

- Thị trấn Trâu Quỳ có diện tích khoảng 719, 24 ha với quy mô dân số khoảng 18, 9 vạn người, là thị trấn huyện lỵ của huyện Gia Lâm, theo quy hoạch tổng thể Hà Nội đã được phê duyệt, thị trấn Trâu Quỳ là đô thị cấp IV.

- Thị trấn Trâu Quỳ được thành lập năm 2005 (theo Nghị định số 02/2005/NĐ-CP ngày 5/1/2005 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành lập phường thuộc các quận Ba Đình, Cầu Giấy và thành lập thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm) là một đô thị phát triển mới. Hiện tại đây đang có nhiều dự án xây dựng đô thị đang được triển khai.

Nhìn chung, hệ thống đường nội thị tại đô thị trên địa bàn huyện tương đối tốt, hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng (đặc biệt là thị trấn Trâu Quỳ) đây là những đầu tàu thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tương lai.




2.4.2. Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn

Huyện Gia Lâm có 20 xã, trung bình mỗi xã có quy mô đất đai khoảng 550ha, dân số khoảng 9,4 ngàn người. (Diện tích đất lớn nhất là xã Phù Đổng khoảng 1166 ha, nhỏ nhất là xã Bát Tràng, khoảng 164 ha).

Các điểm dân cư nông thôn trong các xã phân bố phù hợp với việc canh tác nông nghiệp. Có xã, dân cư chủ yếu tập trung tại một điểm (ví dụ như Ninh Hiệp, Phù Đổng, Bát Tràng...), có xã, các dân cư phân tán thành nhiều điểm cách xa nhau (ví dụ như Yên Thường, Lệ Chi ...).

Quá trình đô thị hoá tại các điểm dân cư nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lâm diễn ra tương đối chậm. Tại đây chưa hình thành các trung tâm cụm xã, trung tâm dịch vụ nông thôn thúc đẩy các hoạt động dịch vụ và phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá.

Hiện tại đây đang có nhiều dự án xây dựng các cụm công nghiệp (Ninh Hiệp, Kim Sơn, Lệ Chi, Kiêu Kỵ..) và các dự án phát triển đô thị khác là nhân tố thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và đô thị hoá trong khu vực.

Tuy nhiên, ở các địa bàn khu dân cư nông thôn trên địa bàn huyện các công trình công cộng như: chợ, nhà văn hóa, trạm y tế, trường học, sân thể thao, đường giao thông, rãnh thoát nước, … chưa đầy đủ, chất lượng còn thấp, thiếu đồng bộ do đó chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt cho người dân.

Môi trường sống của người dân nông thôn đang bị đe dọa bở mức độ ô nhiễm nguồn nước thải sinh hoạt, rác thải, khói bụi…. Tại các khu dân cư nông thôn nước thải hầu như được thải trực tiếp ra cống rãnh gần nhà rồi đổ ra ao, sông…, và rác thải cũng trong tình trạng tương tự, đã và đang ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân địa phương.

2.5. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng.

2.5.1. Giao thông

Huyện Gia Lâm có mạng lưới giao thông khá phát triển và phân bố đều khắp với 3 loại: giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt. Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện phân bố khá hợp lý, mật độ đường giao thông cao. Nhiều tuyến được đầu tư đã mang lại hiệu quả to lớn về kinh tế - xã hội.

Hệ thống giao thông của huyện Gia Lâm hiện nay đã cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội hiện tại nhưng với tốc độ đô thị hoá nhanh thì hệ thống giao thông nông thôn sẽ trở nên bất cập, cần tiếp tục được xây dựng và cải tạo nâng cấp.

Tại 20 xã có 911,05 km đường giao thông, trong đó: đã trải nhựa hoặc đổ bê tông 441,08 km (48,42 %), trong đó có 199,92 km còn tốt (45,32 %), 241,17 km xuống cấp (54,68 %); và 469,97 km là đường cấp phối hoặc đường đất (51,58 %). Hiện trạng hệ thống giao thông huyện cụ thể như sau:



(1) Hệ thống đường sắt:

Trong địa bàn huyện có hai tuyến đường sắt chính đi qua, rẽ nhánh từ ga Gia Lâm.

- Tuyến đi các tỉnh phía Bắc qua ga Yên Viên. Tuyến này chạy song song với đường Quốc lộ 1A.

- Tuyến đường sắt đi Hải Phòng chạy dọc theo Quốc lộ 5.

Ngoài hai tuyến đường quốc gia trên trong khu vực còn có các nhánh đường sắt rẽ vào XN sửa chữa toa xe Yên Viên. Đường sắt có hai loại khổ đường rộng 1m và 1435mm, cao độ nền đường sắt đều rất cao so với khu vực xung quanh.

Trong địa bàn huyện có hai ga: Ga Yên Viên (ga lập tàu) và ga Phú Thị (ga trung chuyển).

Hệ thống đường sắt có những đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện.

(2) Hệ thống đường thủy:

Đường thủy trong phạm vi huyện khai thác cả ở sông Hồng và sông Đuống.

- Sông Hồng có khả năng đáp ứng đi lại cho tàu đến 1000 tấn. Tuy nhiên do điều kiện địa chất thuỷ văn rất khó tổ chức các cảng sông tại bờ Bắc sông Hồng (trên địa bàn huyện).

- Trên sông Đuống hiện có hai cảng nhỏ là cảng Đông Trù và cảng của nhà máy Diêm, Gỗ Cầu Đuống nằm ngoài phạm vi huyện. Mạng lưới giao thông thuỷ hiện tại chưa được khai thác triệt để.



(3) Hệ thống đường bộ:

a. Hệ thống đường quốc lộ, đường vành đai:

- Đường quốc lộ 1A mới (đường vành đai 3) từ Cầu Thanh Trì lên phía Bắc đi Bắc Ninh, đường đang trong giai đoạn hoàn thiện, đường có mặt cắt thiết kế rộng 29, 5m và 42m, chiều dài hiện tại trong phạm vi huyện là 5355m.

- Đường quốc lộ 1A cũ chạy từ Tây Nam lên Đông Bắc từ Cầu Đuống, Yên Viên với chiều dài trong phạm vi huyện là 3895m. Tuyến đường này còn đóng vai trò là đường đô thị, đường có mặt cắt ngang 10 -12m, mặt đường bê tông thấm nhập nhựa. Hiện đang được dự kiến mở rộng với mặt cắt rộng 48m.

- Đường quốc lộ 5 đi Hải Phòng, chiều dài tuyến đường trong phạm vi huyện là 4582m, mặt cắt đường gồm hai dải xe mỗi chiều rộng 10,5m, dải phân cách trung tâm rộng 0,5m.

- Hiện tại chính phủ đang triển khai đầu tư xây dựng tuyến đường Hà Nội - Hưng Yên và đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng.

Mặc dù trên địa bàn có nhiều tuyến quốc lộ và đường vành đai đi qua, nhưng các tuyến này chưa được xây dựng đồng bộ, thiếu các đường thu gom, cầu vượt dân sinh đấu nối với tuyến đường của địa phương nên thường xuyên xảy ra tai nạn giao thông.

- Hệ thống đường giao thông trong liên huyện, liên xã, liên thôn và trong các khu vực đô thị:

Trong huyện còn có hệ thống đường liên xã, liên thôn nối từ các điểm dân cư ra đường 1A, đường 5 và đường vành đai 3. Hệ thống này có tổng chiều dài là 89911m, có mặt cắt ngang 4- 10m, kết cấu mặt đường là đá dăm, hoặc bê tông thấm nhập nhựa, chất lượng thấp.

Hiện tại trên địa bàn huyện có nhiều dự án đầu tư xây dựng một số trục giao thông chính: Đường Phú Thị - Lệ Chi (rộng 23m); Đường Yên Viên - Đình Xuyên - Phù Đổng - Trung Mầu (rộng 23m); Đường Dốc Hội - ĐHNN1 - Bát Tràng (rộng 22m)...

Tại các khu vực phát triển mới, hệ thống giao thông khu công nghiệp và khu đô thị đang được đầu tư xây dựng. Đây là các tuyến đường được thiết kế theo tiêu chuẩn đô thị (Khu đô thị Đặng Xá; KCN Dương Xá)...

Mật độ các tuyến đường từ đường liên thôn trở lên (đường có mặt cắt ngang rộng từ 4m trở lên) đạt khoảng 1km/1km2.

- Đường trục xã, liên xã có tổng chiều dài 97,76 km chiều rộng nền đường phổ biến từ 5 – 8 m, mặt đường phổ biến 3,5 – 5 m. Đã trải nhựa hoặc đỏ bê tông 87,99 km (90 %), trong đó có 53,32 km đang sử dụng tốt (60,52 %), 34,74 km xuống cấp (39,48 %) và 9,78 km là đường cấp phối (10 %). Đã đạt tiêu chí nông thôn mới.

Về cơ bản đảm bảo giao thông thông suốt giữa các địa bàn trên huyện và bên ngoài, tạo điều kiện cho mọi người dân, tổ chức và doanh nghiệp có thể dễ dàng kết nối trong và ngoài địa phương cũng như tiếp cận các hoạt động kinh tế - xã hội khác, thúc đẩy kinh tế của huyện phát triển mạnh theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong giai đoạn tương lai.

2.5.2. Thủy lợi

Hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuất đã được chú trọng đầu tư xây dựng, đến nay đã có nhiều đóng góp quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên đứng trước yêu cầu phát triển nông nghiệp hàng hoá và ứng dụng mạnh tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp thì hệ thống thuỷ lợi cần phải được đầu tư mạnh mẽ hơn trong giai đoạn tới.



(1). Trạm bơm

Số trạm bơm do xã quản lý tại 20 xã hiện có:

+ 47 trạm bơm tưới, tổng công suất 21,560 m3/h, đảm bảo tưới chủ động cho 3163,5 ha. Tuy nhiên, chỉ có 8 trạm bơm đang hoạt động tốt, 39 trạm bơm xuống cấp (trong đó có 38 trạm cần nâng cấp) và cần phải xây dựng thêm 15 trạm.

+ 3 trạm bơm tiêu, kết hợp với các công trình thuỷ lợi do xí nghiệp đầu tư phát triển thuỷ lợi đảm bảo tiêu chủ động cho 3023,2 ha gieo trồng. Trong 3 trạm bơm tiêu do xã quản lý chỉ có 1 trạm bơm còn tốt, 2 trạm xuống cấp và cần phải xây dựng thêm 11 trạm nữa mới đáp ứng các yêu cầu sản xuất.



(2). Kênh mương

Hệ thống kênh mương phục vụ sản xuất do xã quản lý có 354,93 km, đã kiên cố hoá 94,91 km (26,74 %), trong đó 82,34 km còn tốt (86,76 %), 12,57 km xuống cấp (13,24 %) và 244,31 km là mương đất (73,26 %).

Hệ thống kênh tiêu thoát nước, nhất là hệ thống kênh tiêu thoát nước tiểu vùng Nam Đuống như các tuyến kênh tiêu vào sông Cầu Bây ra cống Xuân Thuỵ; các tuyến kênh tiêu vào sông Kiên Thành ra cống Tân Quang; các tuyến kênh tiêu ra cống Hoàng Xá đã xuống cấp, không đáp ứng yêu cầu tiêu nước khi xảy ra mưa lớn.

Trong những năm vừa qua, hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện đã góp phần quan trọng cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.



2.5.3. Giáo dục đào tạo

Công tác xã hội hóa giáo dục đã được quan tâm đầy đủ, bước đầu đã huy động được toàn xã hội chăm lo, phát triển sự nghiệp giáo dục. Đội ngũ giáo viên được quan tâm phát triển và đang dần được chuẩn hóa. Cơ sở vật chất cho dạy và học ngày càng được cải thiện, nhiều loại hình trường lớp được mở rộng và phát triển đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong huyện.

Mạng lưới các trường học trên địa bàn huyện Gia Lâm khá hoàn chỉnh, được phân bổ đều khăp theo các cấp từ huyện đến các địa phương. Chất lượng phòng học được trang bị đầy đủ các trang thiết bị đáp ứng tốt cho nhu cầu học tập của người dân địa phương. Hiện trạng các trường được thể hiện chi tiết như sau:

a. Trường Mầm non:

Hiện tại, trên địa bàn huyện có 21 trường mầm non, tổng diện tích khuôn viên 100049 m2, đã có 4 trường đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất, 17 trường chưa đạt chuẩn. Tổng số phòng học là 237 phòng, trong đó 136 phòng còn tốt, 101 phòng xuống cấp. Phòng chức năng có 25 phòng, trong đó 19 phòng còn tốt, 6 phòng xuống cấp.

Để đáp ứng nhu cầu giáo dục mầm non, cần đầu tư xây dựng thêm 5 trường mầm non, cải tạo nâng cấp 15 trường gồm các hạng mục:

+ Xây dựng mới 148 phòng học, 118 phòng chức năng

+ Cải tạo nâng cấp 108 phòng học, 33 phòng chức năng

+ Nâng cấp trang thiết bị tất cả các trường.



b Trường tiểu học

Toàn huyện có 21 trường tiểu học, tổng diện tích khuôn viên 164241 m2, trong đó 19 trường đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất nhưng 7 trường xuống cấp. Số phòng học là 410 phòng, trong đó có 288 phòng còn tốt, 122 phòng xuống cấp. Phòng chức năng có 171 phòng, trong đó có 103 phòng còn tốt, 68 phòng xuống cấp.

Để đáp ứng nhu cầu giáo dục tiểu học, cần đầu tư xây dựng mới 2 trường tiểu học đạt chuẩn. Đồng thời đầu tư cải tạo nâng cấp 7 trường tiểu học gồm các hạng mục:

+ Xây dựng mới 142 phòng học, 95 phòng chức năng;

+ Cải tạo nâng cấp 107 phòng học, 48 phòng chức năng

+ Nâng cấp trang thiết bị cho các trường.



c. Trường trung học cơ sở

Hiện có 20 trường THCS, tổng diện tích khuôn viên 147298 m2, có 8 trường đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất. Có 14 trường cơ sở vật chất còn tốt, 6 trường xuống cấp. Tổng số phòng học là 316 phòng, trong đó có 288 phòng còn tốt, 88 phòng xuống cấp. Số phòng chức năng có 170 phòng, trong đó có 143 phòng còn tốt, 27 phòng xuống cấp.

Để đáp ứng nhu cầu giáo dục THCS, cần đầu tư xây dựng mới 1 trường THCS đạt chuẩn. Đồng thời đầu tư xây dựng bổ sung và cải tạo nâng cấp các phòng học, phòng chức năng, công trình bổ trợ, nâng cấp trang thiết bị cho các trường còn thiếu, cụ thể như sau:

+ Xây dựng mới 79 phòng học, 135 phòng chức năng;

+ Cải tạo nâng cấp 83 phòng học, 51 phòng chức năng.

+ Nâng cấp trang thiết bị cho tất cả các trường.

Đối chiếu với tiêu chí nông thôn mới: đạt 70 %.

Trên địa bàn huyện có 4 trường trung học phổ thông công lập và 7 trường dân lập.

Trong những năm qua, huyện đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư xây dựng và nâng cấp trường lớp, đào tạo đội ngũ giáo viên và cán bộ ngành giáo dục. Lực lượng cán bộ giáo dục thường xuyên được đào tạo nâng cao trình độ. Đóng góp quan trong trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của địa phương.

2.5.4. Cơ sở y tế

Hiện trên địa bàn huyện có 20 trạm Y tế, 16 trạm đạt chuẩn về cơ sở vật chất. Tổng diện tích khuôn viên các trạm y tế xã là 42203 m2, cần tiếp tục mở rộng thêm 5070 m2. Tổng số phòng chức năng, phòng bệnh là 278 phòng, trong đó có 194 phòng đạt chuẩn, còn 84 phòng chưa đạt chuẩn.

Để 100 % trạm y tế đạt chuẩn về cơ sở vật chất và trang thiết bị cần đầu tư nâng cấp 4 trạm y tế không đạt chuẩn; xây mới 60 phòng bệnh, phòng chức năng (bao gồm cả xây lại những phòng hiện không đạt chuẩn); nâng cấp 47 phòng bệnh, phòng chức năng, hệ thống phụ trợ và nâng cấp trang thiết bị cho các trạm y tế xã.

Nhìn chung, mạng lưới y tế huyện Gia Lâm đã đáp ứng được cơ bản nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.



2.5.5. Văn hóa

a. Nhà văn hoá, khu thể thao xã

Cả 20 xã đều chưa có nhà văn hoá xã. Các khu thể thao xã đều chưa đạt chuẩn. Để đảm bảo 100 % số xã có nhà văn hoá, khu thể thao xã, cần đầu tư làm mới 20 nhà văn hoá, 20 khu thể thao xã.



b. Nhà văn hoá, khu thể thao thôn

Tại 20 xã có 159 thôn, xóm, cụm dân cư độc lập. Đến năm 2010 có 118 thôn, xóm, cụm dân cư độc lập có nhà văn hoá. Để đảm bảo 100 % số xã có nhà văn hoá, khu thể thao xã, 100 % số thôn có nhà văn hoá, khu thể thao thôn cần đầu tư làm mới 20 nhà văn hoá xã, 46 nhà văn hoá thôn và nâng cấp 56 nhà văn hoá thôn xuống cấp.



c. Đài truyền thanh xã

Hệ thống đài truyền thanh có một số công trình xuống cấp, chưa đáp ứng tốt các yêu cầu thông tin truyền thông. Toàn bộ hệ thống đài truyền thanh tại các xã cần được tiếp tục nâng cấp trang thiết bị.



d. Di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh

Hiện tại trên địa bàn huyện có 244 điểm di tích lịch sử văn hoá và cách mạng, trong đó có 110 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và thành phố (8 di tích gắn biển với cách mạng kháng chiến). Trong đó có các di tích nổi tiếng như: Đền – Chùa Bà Tấm (xã Dương Xá), Đình Chử Xá (xã Văn Đức), cụm di tích Phù Đổng, Chùa Keo, Đình Xuân Dục, Đình Đền Chùa Sủi…Đặc biệt năm 2010 Hội gióng Làng Phù Đổng đã được UNESSCO công nhận là di tích văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Sự kiện này đã quảng bá hội Gióng đến toàn thế giới và là tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế du lịch thu hút khách quốc tế và du khách trong nước.

Trong nhiều năm qua, các di tích lịch sử văn hoá, đình chùa tưng bước được đầu tư trùng tu, tôn tạo bằng nguồn vốn ngân sách kết hợp với nguồn vốn xã hội hoá.Tuy nhiên, việc trùng tu tôn tạo, bảo tồn các khu di tích yêu cầu lượng vốn đầu tư rất lớn, nên đến nay kết quả trùng tu tôn tạo các khu di tích

2.5.6. Thể dục thể thao

Trong những năm qua, các cấp các ngành đã quan tâm, chỉ đạo và đầu tư xây dựng sân bãi tập luyện, mua sắm trang thiết bị, dụng cụ cho tập luyện và thi đấu thể dục – thể thao;

Phong trào văn hóa, thể thao ở các xã ngày càng phát triển. Các quy ước làng xóm đang được xây dựng. Các tổ chức chính trị xã hội hoạt động rất tích cực trong công tác vận động nhân dân tham gia xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa. Đến năm 2010 có 23 thôn và 7 cụm dân cư độc lập được công nhận đạt danh hiệu làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa.

Phong trào toàn dân tham gia luyện tập thể dục thể thao, rèn luyện sức khỏe được phát động sâu rộng trong thôn xóm. Hàng năm, tại các xã đều tổ chức các cuộc thi đấu thể thao. Năm 2010, tại 20 xã nông thôn đã tổ chức được trên 550 cuộc thi đấu thể thao với các môn: bóng đá, cờ tướng.

Các di tích lịch sử, văn hóa từng bước được trùng tu, tôn tạo từ nhiều nguồn vốn. Các lễ hội truyền thống hàng năm đều được tổ chức đã thu hút nhiều du khách đến tham quan, đặc biệt là Hội Gióng ở Phù Đổng, Hội đền Bà Tấm ở Dương Xá.



2.5.7. Bưu chính viễn thông

Ngành bưu chính viễn thông của huyện vẫn tiếp tục duy trì tốc độ phát triển cao với các dịch vụ đa dạng, phong phú và chất lượng cao. Mạng bưu chính công viễn thông được duy trì và phát triển rộng khắp, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân địa phương.

Hệ thống thông tin và truyền thông phát triển mạnh đã góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế và cải thiện đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân. Đến nay 100% số xã có bưu điện văn hóa xã hoặc bưu điện khu vực, trong đó có 9 điểm bưu điện văn hóa cần được nâng cấp trang thiết bị.

Đến nay có 123 thôn đã được kết nối mạng internet (44%), trong đó 12 thôn chưa đảm bảo chất lượng đường truyền. Để đạt mục tiêu 100% số thôn có mạng internet cần đầu tư kết nối mạng internet đến 89 thôn và nâng cấp đường truyền internet đến 12 thôn.



III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG

3.1. Thuận lợi, và cơ hội phát triển

Huyện Gia Lâm có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, việc xây dựng và phát triển nhanh, toàn diện huyện có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với toàn thành phố Hà Nội mà còn đối với toàn vùng. Trong những năm tiếp theo huyện sẽ có sự phát triển mạnh mẽ, sự phát triển đó dựa vào những thuận lợi sau:



- Thứ nhất: Gia Lâm có vị trí đại lý hết sức thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội và giao lưu thương mại và hấp dẫn các nhà đầu tư do có những lợi thế về địa lý kinh tế.

-Thứ hai: Tiềm năng về thị trường hàng hoá và dịch vụ của huyện Gia Lâm rất lớn. Là địa bàn cận kề nội thành và các khu công nghiệp, nông thôn Gia Lâm có lợi thế về tiêu thụ nông sản, đặc biệt là các nông sản thực phẩm sạch, nông sản thực phẩm cao cấp, hoa và cây cảnh.

- Thứ ba: Nhu cầu về du lịch nghỉ dưỡng, du lịch giải trí, du lịch sinh thái của người dân địa phương cũng như người dân nội thành ngày càng cao. Đây là lợi thế rất lớn đối với khu vực nông thôn huyện Gia Lâm trong việc phát triển các mô hình nông nghiệp trang trại sinh thái kết hợp du lịch.

- Thứ tư: Huyện Gia lâm có các làng nghề truyền thống nổi tiếng như: làng nghề gốm sứ Bát Tràng, làng nghề quỳ vàng Kiêu Kỵ, may da Kiêu Kỵ, làng nghề bào chế thuốc nam, thuốc bắc Ninh Hiệp…Đây là tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động.

- Thứ năm: Bằng nhiều nguồn vốn đầu tư, đến nay huyện Gia Lâm đã xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối tốt so với nhiều huyện khác ở ngoại thành Hà Nội. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội huyện Gia Lâm với tốc độ cao và ổn định.

- Thứ sáu: Nguồn lao động dồi dào, chất lượng lao động khá so với nhiều địa phương khác là lợi thế cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện.

- Thứ bảy: Trên địa bàn huyện có các cơ sở nghiên cứu, đào tạo lớn về khoa học kỹ thuật nông nghiệp như: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Viện nghiên cứu rau quả nên có lợi thế rất lớn trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào phát triển nông nghiệp hàng hoá chất lượng cao như: Trồng hoa cao cấp, trồng hoa trên giá thể, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật giống lúa, giống rau, các tiến bộ kỹ thuật về bảo quản, chế biến nông sản…

3.2. Hạn chế - thách thức

Bên cạnh những thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội, huyện Gia Lâm cũng có những khó khăn nhất định trong tiến trình phát triển, những khó khăn và thách thức đó là:



- Thứ nhất: Với quy mô dân số lớn, mức độ gia tăng dân số và mật độ dân số cao, trong khi diện tích đất nông nghiệp có hạn sẽ gây nhiều áp lực trong việc bố trí đất ở cho người dân trong tương lai. Áp lực về việc làm và các vấn đề xã hội khác cũng là những thách thức không nhỏ đối với huyện, phần lớn dân số tập trung ở nông thôn, đa phần chưa được đào tạo về chuyên môn nên cũng sẽ gây nhiều khó khăn trong việc bố trí việc làm, ổn định xã hội.

- Thứ hai: Đất nông nghiệp đang có xu hướng giảm nhanh do tác động của quá trình đô thị hoá kết hợp với gia tăng dân số cơ học cao đã và đang gây lên áp lực việc làm và thu nhập cho 1 bộ phận lao động nông nghiệp, nông thôn.

- Thứ ba: Lao động trong nghành nông nghiệp chủ yếu là lao động nữ và lao động cao tuổi, trình độ kỹ thuật hạn chế nên việc ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới gặp khó khăn.

- Thứ tư: Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tuy đang từng bước được xây dựng, hoàn thiện song chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới trong bối cảnh kinh tế thị trường, lộ trình hội nhập quốc tế và yêu cầu xây dựng thủ đô Hà Nội thành một trong những Thủ đô văn minh, tiên tiến.

- Thứ 5: Trên địa bàn huyện có nhiều làng nghề truyền thống và hầu hết các khu làng nghề đều chưa được xây dựng khu xử lý chất thải một cách hệ thống, chủ yếu chất thải được thải trực tiếp ra môi trường bên ngoài. Vấn đề này đã gây ảnh hưởng lớn cho môi trường sản xuất, sinh hoạt và sức khỏe của người dân địa phương.

Phần II

TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI

I. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Trong những năm qua, công tác quản lý Nhà nước về đất đai, tài nguyên và môi trường có bước chuyển biến tích cực; từng bước đi vào nề nếp, hạn chế được các tiêu cực phát sinh trong công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện, cơ bản hoàn thành được những nhiệm vụ, kế hoạch lớn của ngành.





  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   23


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương