CỤc bổ trợ TƯ pháp cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 79.26 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu10.08.2016
Kích79.26 Kb.


BỘ TƯ PHÁP

CỤC BỔ TRỢ TƯ PHÁP




CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc





BÁO CÁO

Định hướng xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 10 năm 2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009

Ngày 14/01/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 107/2015/QH13. Theo đó, Bộ Tư pháp được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 10 năm 2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 ( sau đây gọi tắt là dự thảo Nghị định).

Cục Bổ trợ tư pháp xin báo cáo những định hướng về nội dung của dự thảo Nghị định như sau:

1. Sự cần thiết ban hành dự thảo Nghị định

1.1 Kết quả tổng kết thí điểm chế định thừa phát lại đã khẳng định việc thực hiện chế định này có ý nghĩa quan trọng, góp phần thực hiện tốt chủ trương về xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp đã được đề ra tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Trên cơ sở đó, tạo tiền đề giảm tải công việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Tòa án, Cơ quan quan thi hành án dân sự, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Mặt khác, với chức năng lập vi bằng của Thừa phát lại, việc thực hiện chế định này đã bổ sung nguồn chứng cứ, tạo thêm công cụ pháp lý để người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế và trong giải quyết tranh chấp; đồng thời, người dân cũng có thêm sự lựa chọn phù hợp trong việc yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

1.2 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là Nghị định số 61/2009/NĐ-CP) và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 10 năm 2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 135/2013/NĐ-CP) được Chính phủ ban hành nhằm thực hiện Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội về thi hành Luật Thi hành án dân sự và Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại. Đây là những văn bản pháp luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại trong thời gian thực hiện thí điểm tại 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Qua triển khai thực hiện, các Nghị định đã phát huy được hiệu quả, góp phần quan trọng cho việc thí điểm thành công.

Cuối năm 2015, Chính phủ đã tiến hành tổng kết việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại. Trên cơ sở Báo cáo, kiến nghị của Chính phủ, ngày 26/11/2015, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 107/2015/QH13 về việc thực hiện chế định Thừa phát lại. Nghị quyết đã ghi nhận kết quả đạt được trong việc thực hiện thí điểm; chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chính thức chế định này trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.



1.3 Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội đã giao Chính phủ căn cứ tình hình thực tế ở địa phương, tổ chức thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi hành nghề theo quy định hiện hành, có sự sửa đổi, bổ sung cần thiết để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong hoạt động Thừa phát lại.

Đến nay, cơ bản nội dung của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP còn phù hợp. Tuy nhiên, để đảm bảo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện chính thức trên phạm vi cả nước theo Nghị quyết số 107/2015/QH13; đồng thời, khắc phục phần nào những tồn tại, hạn chế trong thời gian thí điểm, ngày 14/01/2016, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 101/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13, trong đó xác định nhiệm vụ sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại là rất quan trọng.

Từ những lý do trên, việc ban hành dự thảo Nghị định là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết trong việc triển khai Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội.

2. Mục đích, yêu cầu xây dựng dự thảo Nghị định

a) Đảm bảo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện chính thức trên phạm vi cả nước theo Nghị quyết số 107/2015/QH13;

b) Khắc phục phần nào những tồn tại, hạn chế trong thời gian thí điểm vừa qua; tiếp tục phát huy những tác động tích cực của chế định thừa phát lại đối với đời sống kinh tế - xã hội, tạo thêm công cụ pháp lý để người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế và trong giải quyết các tranh chấp; góp phần thực hiện tốt chủ trương về xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp đã được đề ra tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

3. Quan điểm chỉ đạo xây dựng dự thảo Nghị định

a) Tiếp tục bám sát và thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, cải cách hành chính và xã hội hoá một số hoạt động trong lĩnh vực tư pháp đã được đề ra tại Nghị quyết số 49-NQ/TW. Trên cơ sở đó, tạo tiền đề giảm tải công việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Tòa án, Cơ quan quan thi hành án dân sự, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị.

b) Bảo đảm sự phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các Bộ luật, luật có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tố tụng hành chính...

c) Kế thừa các quy định còn phù hợp của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP; chỉ sửa đổi, bổ sung các quy định mà quá trình áp dụng trong thời gian thí điểm đã bộc lộ rõ ràng những tồn tại, hạn chế, chưa được quy định. Đối với những vấn đề phức tạp, còn có nhiều quan điểm khác nhau thì sẽ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền.

d) Mặc dù đã trải qua gần 5 năm thí điểm và đã thành công nhưng thừa phát lại là chế định mới ở Việt Nam và vừa kết thúc giai đoạn thực hiện thí điểm; do vậy, dự thảo Nghị định vẫn cần có những quy định mang tính đặc thù để tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại.

đ) Việc xây dựng Nghị định phải đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhưng đồng thời cũng phải khẩn trương ban hành để kịp thời phục vụ cho việc triển khai thực hiện chính thức chế định Thừa phát lại trên phạm vi cả nước.



4. Những định hướng lớn xin ý kiến của các đại biểu về dự thảo Nghị định

4.1 Về tên gọi của Nghị định

Dự thảo Nghị định được ban hành để triển khai thực hiện chính thức chế định thừa phát lại theo Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội, thay thế Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP. Nghị định sẽ thu hút các quy định hiện hành về thừa phát lại, bao gồm 02 Nghị định nói trên và các Thông tư (Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 28/2/2014 hướng dẫn thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13, Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN ngày 17/01/2014 hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại tại các tổ chức tín dụng). Do đó, tên gọi của Nghị định được đề xuất là “Nghị định quy định tổ chức và hoạt động thừa phát lại”.



4.2 Phạm vi điều chỉnh

Nghị định quy định tương đối toàn diện các vấn đề tổ chức và hoạt động thừa phát lại, gồm: thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại; phạm vi, thủ tục thực hiện công việc của thừa phát lại; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra, thanh tra và kiểm sát đối với hoạt động của thừa phát lại. Theo đó, phạm vi điều chỉnh đã được bổ sung thêm nội dung về “kiểm tra, thanh tra và kiểm sát đối với hoạt động của thừa phát lại” so với quy định trước đây; đồng thời, sử dụng cụm từ “Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thực hiện chế định thừa phát lại” thay cho cụm từ “Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thí điểm chế định Thừa phát lại” để phù hợp với Nghị quyết số 107/2015/QH15.



4.3 Thừa phát lại

a) Tiêu chuẩn bổ nhiệm thừa phát lại

Trên cơ sở rà soát lại tiêu chuẩn bổ nhiệm thừa phát lại theo quy định hiện hành, Nghị định có sửa đổi, bổ sung theo hướng nâng cao tiêu chuẩn của thừa phát lại nhằm tăng cường chất lượng, xây dựng đội ngũ thừa phát lại có năng lực, chuyên môn, kinh nghiệm, hiểu biết pháp luật; có đạo đức và kỹ năng hành nghề. Theo đó, người muốn được bổ nhiệm thừa phát lại phải “có bằng cử nhân luật; đã công tác thực tế trong ngành pháp luật trên 05 năm, kể từ ngày có bằng cử nhân luật hoặc đã từng là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư; Chấp hành viên, Công chứng viên, Điều tra viên từ Trung cấp trở lên; có chứng chỉ tốt nghiệp đào tạo nghề thừa phát lại; có thời gian tập sự hành nghề tại các cơ quan thi hành án dân sự và Văn phòng Thừa phát lại; Không kiêm nhiệm hành nghề công chứng, luật sư, đấu giá viên, quản tài viên và những công việc thường xuyên khác”.

Để phù hợp với quy định về tiêu chuẩn có chứng chỉ tốt nghiệp đào tạo nghề thừa phát lại nêu trên, đồng thời, thực hiện nhiệm vụ do Quốc hội giao tại Nghị quyết số 107/2015/QH13, dự thảo Nghị định bổ sung quy định về đào tạo nghề thừa phát lại thay vì chỉ tập huấn trong 2 tuần như trước đây, cụ thể như sau: 1. Người có Bng cử nhân luật được tham dự khóa đào tạo nghề thừa phát lại tại cơ sở đào tạo nghề thừa phát lại. 2. Thời gian đào tạo nghề thừa phát lại06 (sáu) tháng. Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề thừa phát lại được cơ sđào tạo nghề thừa phát lại cấp Chứng chỉ tốt nghiệp đào tạo nghề thừa phát lại. 3. Bộ trưng Bộ Tư pháp quy định chương trình khung đào tạo nghề thừa phát lại, việc công nhận đào tạo nghề thừa phát lại ở nước ngoài, nếu có”.

b) Về thẩm quyền, thủ tục bổ nhiệm thừa phát lại

Nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian và tránh phát sinh nhiều tầng nấc, dự thảo Nghị định dự kiến sửa đổi quy định hiện hành về vấn đề này, theo đó: Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm thừa phát lại trên cơ sở hồ sơ đề nghị của người muốn được bổ nhiệm thừa phát lại gửi về Bộ Tư pháp (không gửi hồ sơ qua Sở Tư pháp). Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp yêu cầu Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi người đề nghị bổ nhiệm dự kiến hành nghề xác minh các thông tin, điều kiện làm căn cứ cho việc xem xét, quyết định bổ nhiệm.

Bên cạnh đó, do yêu cầu từ thực tế phát sinh, dự thảo Nghị định bổ sung quy định về các trường hợp bổ nhiệm lại thừa phát lại và thủ tục bổ nhiệm lạ, bao gồm: Người đã được miễn nhiệm thừa phát lại theo nguyện vọng; người chuyển nơi hành nghề thừa phát lại sang tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác; Người bị miễn nhiệm thừa phát lại theo quy định khi lý do miễn nhiệm không còn.

4.4 Tổ chức hành nghề thừa phát lại

a) Văn phòng Thừa phát lại

Giữ nguyên quy định tại 02 Nghị định hiện hành; đồng thời có sửa đổi, bổ sung nhằm làm rõ hơn địa vị pháp lý, trách nhiệm của Văn phòng Thừa phát lại. Theo đó, “Văn phòng Thừa phát lại là tổ chức hành nghề của thừa phát lại, được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp, thực hiện các dịch vụ công, không vì mục đích lợi nhuận. Văn phòng Thừa phát lại do một thừa phát lại thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng Thừa phát lại do từ hai thừa phát lại trở lên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh”.

b) Chế độ thông tin, báo cáo của Văn phòng Thừa phát lại

Theo quy định hiện hành, chế độ thông tin, báo cáo của Văn phòng Thừa phát lại được quy định tại một khoản trong điều về Văn phòng Thừa phát lại. Xác định tầm quan trọng của nội dung này, dự thảo Nghị định dành một điều riêng trong dự thảo Nghị định; đồng thời, sửa đổi đơn vị tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động thừa phát lại từ Tổng cục Thi hành án dân sự thành Cục Bổ trợ tư pháp theo Quyết định số 202/QĐ-BTP ngày 26/2/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

c) Đăng ký hoạt động Văn phòng Thừa phát lại

Nhằm tạo điều  kiện cho các Văn phòng Thừa phát lại thành lập, phát triển và đảm bảo tương đồng với các chức danh bổ trợ khác như: luật sư, công chứng viên, dự thảo Nghị định bỏ điều kiện Văn phòng Thừa phát lại phải ký quỹ 100 triệu đồng cho mỗi Thừa phát lại; đồng thời, sửa đổi quy định “hoặc có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp” thành “Phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho các thừa phát lại của Văn phòng theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm”.

Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định cũng bổ sung quy định đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại do xuất phát từ nhu cầu thực tiễn.

d) Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại

Nhằm chuẩn hóa Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại, tránh tình trạng mỗi địa phương có một mẫu Giấy chứng nhận và nội dung khác nhau như trong thời gian thí điểm, dự thảo Nghị định dành một điều riêng quy định về nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại.

đ) Công bố nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại

Trên cơ sở rà soát quy định liên quan của Luật doanh nghiệp 2014 và thực tiễn áp dụng quy định này thời gian qua, dự thảo Nghị định bỏ thủ tục đăng báo Trung ương hoặc báo địa phương nơi đăng ký hoạt động trong ba số liên tiếp về nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại; thay thế thủ tục đăng báo bằng thủ tục công bố việc đăng ký hoạt động trên trang tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Văn phòng đặt trụ sở. Quy định mới này sẽ thiết thực, dễ kiểm soát hơn.



e) Giải thể, chấm dứt hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại

Dự thảo Nghị định thiết kế một điều luật riêng về nội dung này trên cơ sở quy định hiện hành và có sửa đổi, bổ sung nhằm làm rõ trách nhiệm, hậu quả pháp lý của việc giải thể, chấm dứt hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại. Theo đó “1. Việc giải thể, chấm dứt hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và Nghị định này. 2. Việc xử lý trách nhiệm vật chất thực hiện theo quy định của pháp luật doanh nghiệp. 3. Hồ sơ thi hành án dân sự được chuyển cho Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại bảo quản theo chế độ lưu trữ hồ sơ thi hành án dân sự. Vi bằng và các tài liệu liên quan được chuyển cho Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thực hiện chế định thừa phát lại.

g) Về chính sách ưu đãi đối với cá nhân, tổ chức hành nghề Thừa phát lại

Dự thảo Nghị định bỏ quy định tại Điều 9 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP: “Nhà nước khuyến khích cá nhân tham gia hành nghề Thừa phát lại. Văn phòng Thừa phát lại được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian thực hiện thí điểm”. Thay vào đó, nhằm hỗ trợ phần nào cho các Văn phòng Thừa phát lại mới thành lập và ở những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, dự thảo Nghị định bổ sung quy định sau: “1. Văn phòng Thừa phát lại thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách ưu đãi sau đây: a) Được hưởng các ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp; b) Được thuê trụ sở với giá ưu đãi, được cho mượn trụ sở, hỗ trợ về trang thiết bị, phương tiện làm việc trong 03 (ba) năm đầu hoạt động. 2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cụ thể các biện pháp hỗ trợ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này và các biện pháp hỗ trợ khác đối với Văn phòng Thừa phát lại thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn”.



4.5 Về hoạt động của thừa phát lại

a) Về những công việc thừa phát lại được làm

Dự thảo Nghị định cơ bản giữ nguyên quy định hiện hành về các loại công việc thừa phát lại được thực hiện, bao gồm: Thực hiện việc tống đạt văn bản; Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự; Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.

b) Thủ tục thực hiện các công việc cụ thể của thừa phát lại

(i) Tống đạt văn bản

- Thẩm quyền, phạm vi tống đạt: Ngoài việc giữ nguyên quy định hiện hành về thẩm quyền, phạm vi tống đạt, dự thảo Nghị định dự kiến mở rộng phạm vi tống đạt của thừa phát lại theo hướng: Thừa phát lại được tống đạt văn bản liên quan đến việc giải quyết các vụ án dân sự do đương sự trong các vụ án đó yêu cầu để phục vụ việc thu thập chứng cứ, thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngoài ra, trong quá trình triển khai chế định này thời gian qua, đã có ý kiến đề nghị mở rộng việc thừa phát lại được tống đạt văn bản cho các đối tượng khác do xuất phát từ thực tế hiện nay xuất hiện thêm nhu cầu từ phía người dân, doanh nghiệp và thậm chí từ các cơ quan hành chính trong việc tống đạt các văn bản, thông báo mang tính chất dân sự (thông báo đòi tiền, thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng…) hoặc mang tính chất hành chính (thông báo của cơ quan nhà nước trong việc thu hồi đất, đền bù giải tỏa…). Các tổ chức Trọng tài thương mại cũng có nhu cầu nhờ Thừa phát lại tống đạt các thông báo, quyết định của mình. Tuy nhiên, về phía Bộ Tư pháp còn băn khoăn nếu mở rộng đối tượng yêu cầu tống đạt như trên thì trình thự, thủ tục sẽ được quy định như thế nào (vì hiện nay trình tự, thủ tục tống đạt giấy tờ của cơ quan thi hành án dân sự và tòa án đã có pháp luật về thi hành án dân sự và pháp luật tố tụng quy định).



- Về cơ chế để Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự chuyển giao văn bản cho thừa phát lại tống đạt liên quan đến chi phí tống đạt: Theo quy định hiện hành, ngân sách nhà nước chi trả chi phí tống đạt đối với trường hợp tống đạt các văn bản của Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự, trừ trường hợp pháp luật về tố tụng và pháp luật về thi hành án dân sự quy định đương sự phải chịu chi phí tống đạt, chi phí thông báo. Trong thời gian thí điểm, ngân sách nhà nước cấp kinh phí đối với những khoản ngân sách chịu để Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự thuê Văn phòng Thừa phát lại tống đạt văn bản; đối với những khoản chi phí do đương sự chịu, vì chưa thu được của đương sự nên ngân sách nhà nước đã cấp tạm ứng. Tuy nhiên, từ đầu năm 2016, khi Nghị quyết số 107/2015/QH13 được Quốc hội thông qua, ngân sách nhà nước không cấp khoản kinh phí này nên Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự dừng chuyển giao văn bản cho thừa phát lại tống đạt. Do vậy, các Văn phòng đang gặp khó khăn về nguồn thu từ hoạt động tống đạt. Bộ Tư pháp cho rằng, về lâu dài cần quy định cụ thể nội dung này theo hướng: ngân sách nhà nước cấp riêng kinh phí cho Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự thuê thừa phát lại tống đạt văn bản, giảm tải kinh phí cấp chi thường xuyên cho các cơ quan này do đã được giảm tải về công việc. Đối với những khoản đương sự chịu thì cũng cần có cơ chế để thu hồi được khoản tiền này nhanh nhất, không để tình trạng nợ đọng kéo dài.

Đây là vấn đề lớn, có liên quan đến pháp luật về thi hành án, pháp luật về tố tụng và chi phí trong hoạt động tố tụng nên hiện trong dự thảo Nghị định vẫn giữ nguyên như quy định trước đây. Nhân dịp tọa đàm này, đề nghị các đại biểu trao đổi, thảo luận về cơ chế giải quyết vấn đề này.

(ii) Lập vi bằng

- Thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng: Về cơ bản, giữ nguyên quy định tại 2 Nghị định hiện hành. Bên cạnh đó, thời gian qua, có nhiều kiến nghị mở rộng thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng của thừa phát lại nên dự thảo Nghị định dự liến quy định cụ thể như sau:

+ Giữ nguyên quy định sau: Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ các trường hợp quy định tại Điều 7 của Nghị định; các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng; vi phạm bí mật đời tư theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật dân sự, trái đạo đức xã hội; các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp;

+ Bổ sung quy định sau: Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức đang thi hành công vụ, trừ trường hợp sự kiện, hành vi đó rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người yêu cầu lập vi bằng và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”. Như vậy, dự thảo đã bổ sung quy định thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức đang thi hành công vụ, trừ trường hợp sự kiện, hành vi đó rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người yêu cầu lập vi bằng;

+ Dự kiến mở rộng phạm vi lập vi bằng của thừa phát lại ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại.



- Về thủ tục lập và đăng ký vi bằng, dự thảo Nghị định giữ nguyên quy định hiện hành, theo đó: 1. Việc lập vi bằng phải do chính thừa phát lại thực hiện. Thư ký nghiệp vụ thừa phát lại có thể giúp thừa phát lại thực hiện việc lập vi bằng, nhưng thừa phát lại phải chịu trách nhiệm về vi bằng do mình thực hiện. 2. Vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; việc ghi nhận phải khách quan, trung thực. 3. Trong trường hợp cần thiết thừa phát lại có quyền mời người làm chứng chứng kiến việc lập vi bằng”. Đồng thời, có sửa đổi, bổ sung quy định nhằm tạo thuận lợi cho đương sự khi cần sử dụng vi bằng để gửi cho Tòa án cũng như thực hiện các giao dịch khác, cụ thể là: Vi bằng lập thành 05 bản chính: 01 bản giao người yêu cầu; 03 bản gửi Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thực hiện chế định thừa phát lại để đăng ký trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập vi bằng; 01 bản lưu trữ tại Văn phòng Thừa phát lại theo quy định của pháp luật về chế độ lưu trữ đối với văn bản công chứng

Khi nhận được vi bằng do Văn phòng Thừa phát lại gửi đến, Sở Tư pháp căn cứ vào quy định tại Điều 30, Điều 31, Điều 32 Nghị định này để kiểm tra về thẩm quyền, phạm vi và thời hạn gửi đăng ký vi bằng. Việc đăng ký vi bằng được coi là hoàn thành và vi bằng được coi là hợp lệ sau khi vào sổ đăng ký. Sở Tư pháp đóng dấu xác nhận “đã đăng ký” lên vi bằng được đăng ký. Sở Tư pháp có trách nhiệm gửi 02 bản vi bằng đã được đăng ký cho Văn phòng Thừa phát lại, một bản được gửi cho người đã yêu cầu lập vi bằng và 01 bản lưu tại Văn phòng Thừa phát lại”.

- Sửa chữa lỗi kỹ thuật vi bằng: Dự thảo Nghị định bổ sung điều luật quy định về việc sửa chữa lỗi kỹ thuật của vi bằng do yêu cầu của thực tế, cụ thể: “1. Trong trường hợp có sai sót về kỹ thuật trong khi ghi chép, đánh máy, in ấn vi bằng mà việc sửa chữa không làm ảnh hưởng đến tính xác thực của vi bằng thì thừa phát lại có trách nhiệm sửa lỗi đó. Việc sửa chữa lỗi kỹ thuật của vi bằng phải được thực hiện bằng văn bản, do thừa phát lại lập, ký và đóng dấu của Văn phòng Thừa phát lại. 2. Trong trường hợp vi bằng đã được giao cho người yêu cầu và đăng ký tại Sở Tư pháp thì thừa phát lại phải thông báo bằng văn bản việc sửa chữa lỗi kỹ thuật cho người yêu cầu và Sở Tư pháp biết. Sở Tư pháp phải có văn bản thông báo việc chấp nhận hoặc không chấp nhận việc sửa đổi, bổ sung cho thừa phát lại và người yêu cầu biết”.

- Về mẫu vi bằng: Hiện nay, nội dung chủ yếu của vi bằng được quy định tại Điều 27 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP. Để thực hiện thống nhất quy định trên, tránh trường hợp vi bằng được lập không đúng thẩm quyền, phạm vi, chồng lấn sang các hoạt động khác như công chứng, chứng thực, dự thảo Nghị định dự kiến bổ sung quy định về mẫu vi bằng và giao Bộ Tư pháp quy định mẫu vi bằng.

(iii) Xác minh điều kiện thi hành án

- Những nội dung về thỏa thuận xác minh điều kiện thi hành án; thủ tục xác minh điều kiện thi hành án; trách nhiệm sử dụng và bảo mật thông tin; sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án...: Cơ bản giữ nguyên quy định tại 02 Nghị định hiện hành và có sửa đổi, bổ sung một số nội dung nhằm quy định rõ hơn trình tự, thủ tục xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại.

- Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án: Nhằm hỗ trợ thừa phát lại, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong hoạt động này ở thời gian thí điểm, dự thảo Nghị định bổ sung một điều luật riêng về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại, cụ thể:

+ Cơ quan, tổ chức, công chức tư pháp - hộ tịch, địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường, cán bộ, công chức cấp xã khác và cá nhân có liên quan thực hiện yêu cầu của thừa phát lại và phải chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp;

+ Cơ quan bảo hiểm xã hội, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án…

- Từ chối cung cấp thông tin: Dự thảo Nghị định bổ sung quy định này nhằm điều chỉnh những vấn đề liên quan đến việc từ chối xác minh điều kiện thi hành án của cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu cung cấp thông tin.

- Về cơ chế thúc đẩy hoạt động xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại: Trong thời gian thí điểm, mặc dù Nghị định của Chính phủ đã có quy định, nhưng trên thực tế áp dụng, Thừa phát lại gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc khi tiếp cận các nguồn thông tin để xác minh điều kiện thi hành án; thiếu sự hợp tác của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan. Bên cạnh đó, việc hiểu biết, tiếp cận của người dân còn hạn chế, còn e ngại, chưa đủ tin tưởng để sử dụng dịch vụ này của Thừa phát lại, nên số lượng việc xác minh điều kiện thi hành án không nhiều. Hiện nay, theo quy định tại Điều 44 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, thì nghĩa vụ xác minh điều kiện thi hành án thuộc về Chấp hành viên. Từ đó, có thể dự báo rằng, sẽ giảm một lượng đáng kể người dân tìm đến thừa phát lại để ký hợp đồng dịch vụ xác minh. Do đó, về lâu dài, để thừa phát lại duy trì, phát triển được hoạt động này, cần nghiên cứu cơ chế hiệu quả, thiết thực. Nhân dịp này, đề nghị các đại biểu trao đổi thêm về cơ chế để đẩy mạnh hoạt động xác minh điều kiện thi hành án.

(iv) Tổ chức thi hành án

Các quy định về thẩm quyền, thủ tục thi hành án của thừa phát lại được quy định giữ nguyên 02 Nghị định hiện hành. Riêng quy định về chấm dứt việc thi hành án được bổ sung 2 trường hợp chấm dứt thi hành án, cụ thể là: Trường hợp người yêu cầu đề nghị Văn phòng Thừa phát lại không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp chấm dứt việc thi hành án làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba và trường hợp thừa phát lại tổ chức thi hành án mà phát sinh điều kiện thi hành án nằm ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại.

Ngoài ra, hoạt động thi hành án của thừa phát lại trong giai đoạn thí điểm cũng như trong thời gian tới đã tồn tại và dự báo nhiều khó khăn, thách thức, nhất là liên quan đến vấn đề cưỡng chế có huy động lực lượng. Vì vậy, đề nghị các quý vị đại biểu nghiên cứu, trao đổi về các giải pháp nhằm khắc phục vấn đề này, hỗ trợ tích cực cho hoạt động thi hành án của thừa phát lại.



Trên đây là Báo cáo định hướng xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 10 năm 2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009, xin báo cáo các quý vị đại biểu tham dự tọa đàm./.

Ghi chú: Nhiều nội dung trong báo cáo định hướng đã được sửa đổi trong Dự thảo; tuy nhiên, còn có một số vấn đề lớn cần xin ý kiến của các đại biểu nên chưa được quy định trong Dự thảo. Trên cơ sở ý kiến của các đại biểu tọa đàm hôm nay, Bộ Tư pháp (Cục Bổ trợ tư pháp) sẽ nghiên cứu, tiếp thu chỉnh lý để báo cáo lại Ban soạn thảo Nghị định.






Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương