Tỉnh Hà Giang Sè 29 + 30 Ngµy 12 th¸ng 9 n¨m 2012 MỤc lụC



tải về 1.05 Mb.
trang2/8
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.05 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8

* Vùng nguyên liệu chè

- Sản phẩm chè của Hà Giang đã tạo nên thương hiệu trên thị trường trong nước và ngoài nước như chè San Tuyết ở Hoàng Su Phì vv...

- Sản lượng chè mấy năm gần đây luôn tăng, năm sau cao hơn năm trước. Sản xuất chè là một thế mạnh của các tỉnh miền núi và trung du, là thế mạnh của tỉnh Hà Giang. Thị trường tiêu thụ chè của Việt Nam đang mở rộng, chè có chất lượng tốt. Cây chè là cây công nghiệp mũi nhọn của Hà Giang từ nhiều năm nay. Về diện tích và thu nhập, cây chè chỉ đứng sau cây lúa và ngô, nhưng lại đứng đầu trong số các loại cây tạo sản phẩm xuất khẩu của tỉnh.

- Diện tích chè toàn tỉnh đến năm 2010 là 18.944,8 ha, trong đó diện tích chè cho thu hoạch 14.695,5 ha. Diện tích chè chủ yếu ở 5 huyện: Vị Xuyên, Hoàng Su Phì, Xín Mần, Bắc Quang, Quang Bình (Bắc Quang 4.372 ha, Quang Bình 2.151,2 ha, Vị Xuyên 3.906,8 ha, Hoàng Su Phì 3.792,9 ha và Xín Mần 2.300,9 ha chiếm 87,2% diện tích toàn tỉnh) các huyện còn lại diện tích chè khoảng từ 200 đến 400 ha. Hiện đang quy hoạch cho diện tích trồng chè vào các năm tiếp theo.

Cơ cấu giống chè: Cơ cấu giống chè trồng trên địa bàn tỉnh hiện nay chủ yếu là 02 nhóm chè chính: Chè Shan tuyết và chè Trung Du, trong đó giống chè Shan tuyết chiếm tới 90% diện tích gồm 02 giống chè Shan tuyết lá to và Shan tuyết lá nhỏ.

Chè Shan tuyết lá nhỏ có diện tích ít khoảng 250 ha tập trung tại huyện Đồng Văn đây là giống chè mang hương vị đặc trưng riêng của vùng chè Hà Giang đang được ưu chuộng trên thị trường.

Các giống chè khác như chè Trung Du, chè Shan tuyết búp đỏ và một số giống khác với số lượng khoảng 10% diện tích chè toàn tỉnh.

- Sản lượng chè: Sản lượng chè tăng đều trong những năm qua nhưng chủ yếu tăng là do diện tích chè cho thu hoạch sản phẩm hàng năm tăng. Sản lượng chè búp tươi tăng qua các năm như sau:

Năm 2005 là 33.878 tấn, năm 2006 là 39.778 tấn, năm 2007 là 43 680,2 tấn, năm 2008 là 46.642 tấn, năm 2009 là 48.280,6 tấn, năm 2010 là 43.034,4 tấn.

* Vùng nguyên liệu cây ăn quả

- Hà Giang là tỉnh có thế mạnh về trồng cây ăn quả. Đất đai gò đồi bìa rừng rất phù hợp cho việc trồng cây ăn quả. Vì vậy, một trong những mục tiêu lớn của nông nghiệp Hà Giang là đẩy mạnh phát triển trồng cây ăn quả phù hợp với từng vùng sinh thái, tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn trên thị trường các tỉnh phía Bắc.

- Tiềm năng đất đai để mở rộng trồng cây ăn quả còn nhiều, nhân dân ngày càng nhận thức được việc trồng cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao và nếu có cơ sở chế biến tiêu thụ hết sản phẩm trái cây của nhân dân làm ra thì diện tích cây ăn quả sẽ phát triển mạnh hơn. Vùng trồng cam quýt lớn ở các huyện Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên. Đã hình thành vùng trồng cam tập trung chạy từ Bắc Quang lên thành phố Hà Giang. Các huyện khác trồng cam quýt và các cây ăn quả khác theo khả năng đất đai.

* Vùng nguyên liệu cây đậu tương

- Từ năm 2006 đến năm 2010, diện tích đậu tương toàn tỉnh hàng năm tăng đều và vượt chỉ tiêu kế hoạch giao, qua 5 năm tăng khoảng 5.000 ha. Năm 2006 diện tích 15.893,6 ha, năm 2010 diện tích đạt 20.810,3 ha.

- Đặc biệt tại 7 huyện vùng sản xuất đậu tương truyền thống (Hoàng Su Phì, Xín Mần, Yên Minh, Đồng Văn, Quản Bạ, Bắc Mê), diện tích năm 2006 mới chỉ đạt 14.932 ha, đến năm 2010 đã đạt 20.007 ha, tăng trên 5.000 ha.

* Vùng nguyên liệu cây ngô

- Từ năm 2006 đến năm 2010, diện tích trồng sản lượng ngô hàng năm đều tăng. Năm 2006 diện tích 43.269,8 ha, sản lượng 90.689,6 tấn; năm 2010 diện tích đạt 47.559,4 ha, sản lượng 136.341,8 tấn

- Đặc biệt tại 5 huyện vùng sản xuất ngô có diện tích lớn (Xín Mần, Mèo Vạc, Yên Minh, Đồng Văn, Quản Bạ).

* Vùng nguyên liệu cây sắn

- Năm 2006 diện tích 2.479,9 ha, sản lượng 19.352,9 tấn; năm 2010 diện tích đạt 4.193,2 ha, sản lượng 34.161,4 tấn.

- Đặc biệt tại 5 huyện vùng sản xuất sắn có diện tích lớn (Bắc Mê, Xín Mần, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Bắc Quang).

3.1.1. Hiện trạng các cơ sở chế biến nông lâm sản, thực phẩm trên địa bàn tỉnh

* Cơ sở chế biến giấy và bột giấy:

- Các nhà máy đang hoạt động: Nhà máy giấy Hải Hà, cụm công nghiệp Nam Quang, công suất 12.000 tấn SP/năm; nhà máy giấy Long Giang, Yên Định - Bắc Mê, công suất 2.500 tấn SP/năm (các nhà máy hiện nay đang sử dụng nguyên liệu sợi dài).

- Các nhà máy đang đầu tư: Nhà máy khăn giấy vệ sinh cụm công nghiệp Nam Quang, công suất 10.000 tấn SP/năm.

* Cơ sở chế biến chè:

- Đến hết năm 2010, trên địa bàn tỉnh có khoảng 116 sơ sở và hộ gia đình, với công suất 15.240 tấn/năm. Trong đó Mèo Vạc 01, Bắc Mê 01, Đồng Văn 01, Hoàng Su Phì 20, Xín Mần 04, Vị Xuyên 05, Quang Bình 04, Bắc Quang 77 (64 hộ gia đình), thành phố Hà Giang 02, Yên Minh 01.

- Các nhà máy chế biến lớn, có quy mô công nghiệp:

+ Công ty TNHH Hùng Cường có 06 nhà máy chế biến chè trên địa bàn tỉnh Hà Giang, trong đó có các máy chè quy mô lớn như: Nhà máy chè CTC Hùng Vượng - Việt Lâm, đi vào sản xuất năm 2010, công suất 25 tấn chè tươi/ngày. Nhà máy chè Cao Bồ - Vị Xuyên, đang đầu tư xây dựng, công suất 22 tấn chè tươi/năm.

+ Nhà máy chè Long Trà - Hùng An, quy mô công suất của nhà máy chế biến chè xanh 70 tấn chè tươi/ngày và dây chuyên chè đen CTC 40 tấn chè tươi/ngày.

+ Nhà máy chè Hùng An - xã Hùng An, đầu tư nâng cấp mở rộng năm 2009; 02 dây chuyền sản xuất chè: Chè xanh 30 tấn/ngày, chè đen 40 tấn/ngày.

- Sản lượng trong chè khô năm 2010 đạt: 43.034,4 tấn, giá trị bình quân đạt 2 ÷2,5 USD/kg sản phẩm chè khô.

* Các cơ sở chế biến nông sản, thực phẩm:

Đến hết năm 2010, trên địa bàn tỉnh có: 13 cơ sở sản xuất rượu, 02 cơ sở sản xuất miến dong, 02 cơ sở sản xuất thức ăn gia súc...

* 01 Nhà máy chế biến gỗ MDF + ghép thanh, Khu công nghiệp Bình Vàng, công suất 100.000 m3SP/năm, đang đầu tư xây dựng.



3.1.2. Những hạn chế yếu kém của ngành công nghiệp chế biến lâm sản

- Các đơn vị chế biến nông lâm sản, thực phẩm có quy mô nhỏ, sản xuất không tập trung, trình độ quản lý sản xuất, quản lý kinh tế, tay nghề của lực lượng lao động thấp dẫn đến chất lượng sản phẩm, mẫu mã hàng hoá không đa dạng, sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu ít. Làm cho sản phẩm kém khả năng cạnh tranh trên thị trường, giá bán thấp, bị các thương lái ép giá, tiêu thụ sản phẩm khó khăn.

- Chưa huy động được nhiều các nhà đầu tư có năng lực chuyên môn, vốn lớn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến lâm sản, thực phẩm các nhà đầu tư mới chỉ tập trung vào vào các lĩnh vực: Thủy điện, khoáng sản... chưa quan tâm đến lĩnh vực chế biến nông lâm sản.

- Việc khai thác tài nguyên về nông lâm sản trên địa bàn tỉnh, sử dụng lao động chưa ngang tầm với tiềm năng hiện có. Khả năng thu hút vốn đầu tư của các dự án trong lĩnh vực chế biến nông lâm sản, kế hoạch chậm so với quy hoạch đề ra.

- Bộ máy quản lý về công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm ở cấp tỉnh, huyện còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực quản lý kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ làm giảm khả năng huy động nguồn lực cho phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm trên địa bàn tỉnh.

- Trong quá trình triển khai thực hiện dự án nông lâm sản chủ đầu tư chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa thường xuyên, đầy đủ các nội dung trong Báo cáo tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chưa vận hành hệ thống xử lý môi trường thường xuyên, chưa trang bị đầy đủ các phương tiện bảo hộ lao động cho công nhân; chưa trang bị, lắp đặt đầy đủ đúng vị trí các phương tiện phòng cháy chữa cháy tại cơ sở sản xuất.

- Sự phối hợp giữa các ngành chức năng, UBND huyện, thành phố khi lập, thẩm định dự án, cấp phép đăng ký kinh doanh, cấp phép xây dựng ... chưa chú ý đến Quy hoạch của ngành công nghiệp, quy hoạch vùng nguyên liệu... dẫn đến tình trạng bất cập trong quá trình triển khai thực hiện dự án dẫn đến việc buông lỏng trong quản lý. Nhiều cơ sở chế biến chè, sản xuất giấy và bột giấy đã không thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng; đầu tư tràn lan không theo quy hoạch, không có hồ sơ dự án gửi các cơ quan chức năng, không có giấy phép xây dựng, không báo cáo định kỳ hoạt động sản xuất... Đặc biệt là các cơ sở chế biến chè, ván bóc mọc lên khắp nơi, nhiều đơn vị không có giấy phép đăng ký kinh doanh, tranh mua tranh bán, chất lượng sản phẩm kém, gây ô nhiễm môi trường, làm lũng loạn thị trường nông lâm sản Hà Giang các năm vừa qua.

4. Hiện trạng về phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề

4.1. Những kết quả đạt được

- Các ngành nghề thủ công nghiệp trong 5 năm qua được quan tâm phát triển, ngành đã đẩy mạnh thực hiện Nghị định 134/2004/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển công nghiệp nông thôn, Sở Công Thương đã tham mưu cho tỉnh thành lập Trung tâm khuyến công - xúc tiến công thương, qua 5 năm hoạt động, trung tâm đã phát huy tốt là đầu mối tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, nhiều ngành nghề mới được hỗ trợ phát triển trên các lĩnh vực: có 10 đơn vị chế biến rượu các loại, 3 đơn vị thêu ren, 4 HTX may mặc trang phục dân tộc, 04 cơ sở mây tre đan xuất khẩu, các doanh nghiệp gia công cơ khí, chế biến gỗ mỹ nghệ, gỗ dân dụng, cơ sở sản xuất chè các loại, giá trị SXCN ngành thủ công nghiệp ngày càng chiếm vị trí đáng kể trong tổng giá trị SXCN toàn ngành.

- Năm 2010 tỉnh Hà Giang đã công nhận được 04 làng nghề

+ Làng nghề truyền thống: Nấu rượu thóc Nàng Đôn, địa chỉ: xã Nàng Đôn - huyện Hoàng Su Phì - tỉnh Hà Giang, số hộ tham gia: 20 hộ.

+ Làng nghề truyền thống: Dệt thổ cẩm dân tộc Tày, địa chỉ: Thôn Trung - xã Xuân Giang - huyện Quang Bình - tỉnh Hà Giang, số hộ tham gia: 30 hộ.

+ Làng nghề truyền thống: Dệt thổ cẩm dân tộc Pà Thẻn, địa chỉ: Thôn My Bắc - xã Tân Bắc - huyện Quang Bình - tỉnh Hà Giang, số hộ tham gia: 40 hộ.

+ Làng nghề thôn Lùng Tao, địa chỉ: thôn Lùng Tao - xã Cao Bồ - huyện Vị Xuyên - tỉnh Hà Giang, số hộ tham gia: 106 hộ.

- Các HTX, các cơ sở sản xuất thủ công nghiệp, các hộ gia đình trên địa bàn các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên, thành phố Hà Giang phát triển mạnh sản xuất thủ công nghiệp, các ngành nghề truyền thống, các sản phẩm mới được hỗ trợ máy móc thiết bị và đào tạo nghề từ các chương trình khuyến công và các chương trình của Liên minh HTX tỉnh....đào đạo được nhiều lao động, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp. Bước đầu hình thành tại các thôn, bản, xã có nghề thủ công nghiệp. Tạo cơ hội cấy nghề TCN mới, khôi phục phát huy được một số nghề thủ công truyền thống.

- Các nghề thủ công nghiệp như rèn, đúc, mộc, dệt may, sửa chữa ô tô, xe máy, điện dân dụng được khuyến khích phát triển. Đặc biệt từ năm 2005, nhiều cơ sở sản xuất hàng mây, tre đan được mở ra với nhiều hình thức liên doanh, liên kết, dạy nghề, cấy nghề giữa các doanh nghiệp tỉnh bạn với các HTX, tổ hợp tác và các hộ gia đình ở các địa phương trong tỉnh như thành phố Hà Giang, các huyện Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình... đã mở ra hướng phát triển mới tạo đà cho phát triển thủ công nghiệp trong nông thôn, thu hút các nhà đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại tỉnh, góp phần giải quyết việc làm, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy nhanh công cuộc CNH nông nghiệp, nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.

4.2. Những hạn chế, yếu kém

- Hà Giang chưa có quy hoạch phát triển thủ công nghiệp, làng nghề nên các địa phương trong tỉnh còn lúng túng trong lựa chọn phát triển ngành nghề gắn với lợi thế của địa phương mình.

- Hoạt động của các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp vẫn còn mang tính tự phát, chưa áp dụng khoa học công nghệ, vốn, thị trường, năng lực tổ chức quản lý, chưa được quan tâm đầu tư đúng mức để công nghiệp nông thôn miền núi phát triển tương xứng với tiềm năng.

- Hoạt động của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp chưa phát huy được nét độc đáo của từng vùng, chưa góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo trên địa bàn nông thôn.

- Nhìn chung cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp quy mô còn nhỏ lẻ và sản xuất manh mún, các ngành nghề chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực bề nổi chưa thực sự đi vào khai thác chiều sâu để tận dụng hết tiềm năng thế mạnh hiện có: Nông lâm sản, vật liệu xây dựng, gia công cơ khí...

- Hầu hết các cơ sở sản xuất đều đóng trên địa bàn các huyện vùng sâu, vùng xa, thông tin liên lạc, đường giao thông đi lại còn nhiều khó khăn.

- Các làng nghề công nhận chưa được hỗ trợ kinh phí đầu tư theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn.

- Phần lớn đội ngũ cán bộ chưa qua đào tạo nên việc nhận thức và năng lực quản lý điều hành còn yếu, sản xuất kinh doanh thiếu linh hoạt, lúng túng trong hoạch định chiến lược phát triển trước áp lực kinh tế thị trường như hiện nay.



5. Công nghiệp khai thác vật liệu xây dựng (VLXD)

5.1. Tiềm năng về khoáng sản làm VLXD

Theo kết quả điều tra đánh giá về địa chất về khoáng sản thì Hà Giang có tiềm năng về khoáng sản làm VLXD trong đó có nguyên liệu phục vụ cho sản xuất xi măng, đá ốp lát phát hiện được 4 điểm đá vôi ốp lát phân bố chủ yếu tại huyện Vị Xuyên quy mô các điểm đá vôi rất lớn, chất lượng tốt, đạt các chỉ tiêu kỹ thuật với tổng TNDB khoảng 67,5 triệu m3, sét gạch ngói phát hiện được 7 mỏ và điểm mỏ với tổng trữ lượng và TNDB: C1+C2+P1= 20,24 triệu m3, cao lanh và felspat phân bố tập chung tại huyện Bắc Quang và Vị Xuyên với tổng trữ lượng và TNDB C2+P1+P2=306.277 tấn quặng (C2=90.230 tấn quặng), đá vôi trợ dung luyện kim...



5.2. Những kết quả đã đạt được

Ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh trong những năm qua đã đóng góp tích cực vào tỷ trọng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đáp ứng ngày càng cao về nhu cầu vật liệu xây dựng trên địa bàn. Trong đó việc hình thành các nhà máy xí nghiệp hoạt động trong lĩnh vực VLXD ngày một tăng về số lượng và quy mô sản xuất.

Trên địa bàn tỉnh hiện nay đã hình thành cơ sở sản xuất đá ốp lát đá xẻ do Công ty cổ phần Việt Long làm chủ đầu tư sản phẩm của doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu sang thị trường nước ngoài, cơ sở sản xuất bột cao lanh tại huyện Bắc Quang do Công ty TNHH Phả Lại làm chủ đầu tư sản phẩm được tiêu thụ trong nước.

Các cơ sở khai thác đá làm VLXD thông thường hàng năm cung cấp cho thị trường trong tỉnh hàng trăm ngàn m3 đá các loại để phục vụ thi công các công trình cơ sở hạ tầng.

Ngành công nghiệp sản xuất gạch ngói hình thành trên địa bàn tỉnh Hà Giang đó là nhà máy xản xuất gạch nung theo công nghệ lò tuynel công suất 20 triệu viên/năm, 01 cơ sở sản xuất nung theo công nghệ lò đứng liên tục có công suất 5 triệu viên/năm. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh đã hình thành các cơ sở sản xuất gạch không nung sử dụng cốt liệu và xi măng với nhiều thành phần kinh tế tham gia.

Ngành công nghiệp xi măng trong những năm qua sản xuất chỉ đáp ứng cho một phần thị trường xây dựng dân dụng trong tỉnh, chưa có khả năng cung cấp nguồn nguyên liệu xi măng để phục vụ cho công tác xây dựng các công trình mang tính bền vững như thủy điện. Các dự án sản xuất nâng cấp mở rộng, đầu tư mới không đảm bảo theo Nghị quyết đã đề ra.



5.3. Những hạn chế khó khăn của ngành công nghiệp sản xuất VLXD

Là một tỉnh có tiềm năng về nguồn tài nguyên trong lĩnh vực sản xuất VLXD, ngành công nghiệp sản xuất VLXD chưa phát huy tối đa được tiềm năng thế mạnh của tỉnh, chưa đạt được mục tiên theo Nghị quyết đã đề ra.

- Các cơ sở sản xuất VLXD có quy mô nhỏ, điều kiện làm việc không an toàn, chưa áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chưa định hướng được phát triển ngành công nghiệp sản xuất VLXD ổn định và bền vững.

- Các dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất VLXD gặp nhiều khó khăn về tài chính cùng với sự suy thoái của nền kinh tế trong nước. Do vậy các nhà máy đã định hướng được đầu tư không thể triển khai trong giai đoạn qua.

- Một số nhà máy phải dừng hoạt động kéo dài do nguyên vật liệu đầu vào, giá thành sản xuất cao, công nghệ sản xuất lạc hậu gây ô nhễm môi trường, chất lượng sản phẩm chưa đạt yêu cầu không có khả năng cạnh tranh.

- Quy hoạch vùng nguyên liệu chưa gắn liền với việc đầu tư xây dựng với các nhà máy, chưa thực hiện đổi mới nâng cấp các dây truyền công nghệ lạc hậu, để nâng cao chất lượng sản phẩm.

- Việc đánh giá vùng nguyên liệu với định hướng thị trường chưa thực sự sâu sát với tình hình thực tế của tỉnh (như xây dựng các nhà máy xi măng).

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP HÀ GIANG

1. Những mặt được

- Thực hiện chủ trương Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành liên quan, UBND các huyện, thành phố triển khai thực hiện tốt các quy hoạch đã được phê duyệt; các dự án đầu tư sản xuất công nghiệp trong những năm gần đây có nhiều khởi sắc. Việc đầu tư phát triển công nghiệp thuỷ điện, khoáng sản, nông lâm sản là phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước.

- Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của biến động kinh tế trong nước và ngoài nước, song nhìn chung tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua tương đối ổn định. Các ngành công nghiệp chế biến, khai thác mỏ, thuỷ điện có mức tăng trưởng khá.

- Công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã dần đi vào nề nếp, phân định trách nhiệm cụ thể giữa các ngành, các cấp tạo điều kiện thuận lợi từng bước phát triển nghành công nghiệp. Các cấp, các ngành đã có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng trong việc giải quyết các thủ tục hành chính cho nhà đầu tư khi đến với tỉnh Hà Giang, các thủ tục hành chính được cải cách theo hướng nhanh, gọn, ít đầu mối, rút ngắn về thời gian.

- Việc khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên ngày càng được chú ý hơn; đã có một số dự án chế biến sâu, gắn kết giữa khai thác với chế biến; công nghệ khai thác và chế biến một số loại khoáng sản, nông lâm sản đã có bước tiến bộ đạt mức trung bình và tiên tiến. Việc bảo vệ tài nguyên chưa khai thác đã được quan tâm.

- Bên cạnh những khó khăn vướng mắc mà các doanh nghiệp đã gặp phải, nhiều Chủ đầu tư đã nỗ lực chủ động về nguồn vốn, dự trữ vật tư, vật liệu thực hiện đẩy nhanh tiến độ đảm bảo hoàn thành công trình đưa vào sử dụng theo đúng kế hoạch.



2. Hạn chế của công nghiệp Hà Giang

- Quy mô, trình độ, điểm xuất phát của sản xuất công nghiệp Hà Giang ở vị trí thấp so với mặt bằng khu vực. Các doanh nghiệp công nghiệp quy mô nhỏ bé, sản xuất không tập trung, công nghệ trang thiết bị sản xuất lạc hậu, không đồng bộ. Trình độ quản lý sản xuất, quản lý kinh tế, năng lực tay nghề của lực lượng lao động công nghiệp thấp dẫn đến chất lượng sản phẩm, mẫu mã hàng hoá không đa dạng. Làm cho sản phẩm kém khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước.

- Các dự án thuỷ điện, khai thác, chế biến còn chậm tiến độ dẫn đến giá trị sản xuất công nghiệp mặc dù tăng song chưa đạt hiệu quả như mong muốn; chưa có các sản phẩm công nghiệp có giá trị cao, chưa đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

- Chưa có các cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút, kêu gọi các nhà đầu tư có tiềm năng về vốn, năng lực đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm trên địa bàn.

- Tình trạng gây ô nhiễm môi trường, mất an toàn lao động trong hoạt động sản xuất công nghiệp; đặc biệt là công nghiệp khai thác khoáng sản, chế biến nông lâm sản đã và đang xảy ra ở nhiều nơi. Phần lớn các doanh nghiệp thăm dò, khai thác khoáng sản, chế biến nông lâm sản có quy mô nhỏ, trung bình, chưa đủ sức chế biến sâu.

3. Nguyên nhân

- Công nghiệp Hà Giang đang hình thành và phát triển, các doanh nghiệp hầu hết là quy mô nhỏ, chủng loại sản phẩm đơn lẻ, công nghệ sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, khi có biến động về giá cả và sức mua sẽ tác động trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến giá trị sản xuất công nghiệp.

- Do yếu tố bất lợi về vị trí địa lý, nên việc thu hút đầu tư vào địa bàn tỉnh gặp rất nhiều khó khăn thách thức; đồng thời ảnh hưởng của lạm phát và suy thoái của nền kinh tế thế giới đã làm ảnh hưởng xấu đến tiến độ thực hiện đầu tư xây dựng của các dự án thủy điện, khoáng sản, nông lâm sản...

- Do ảnh hưởng của lạm phát và sự suy giảm nền kinh tế thế giới và Việt Nam nói chung, tỉnh Hà Giang nói riêng, tình hình biến động giá cả của vật tư vật liệu xây dựng đã làm ảnh hưởng hầu hết đến tiến độ thực hiện đầu tư xây dựng của các dự án.

- Tiến độ triển khai quy hoạch chi tiết và xây dựng các cụm công nghiệp trên địa bàn chậm. Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng nhiều dự án chưa đáp ứng được tiến độ cho nhà đầu tư.

- Sợ phối hợp giữa các cơ quan quản lý cấp tỉnh, cấp huyện và các ngành liên quan với các doanh nghiệp có lúc chưa chặt chẽ, đồng bộ, dẫn đến việc triển khai các chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách bị hạn chế, chậm được triển khai trong thực tiễn, làm chậm quá trình đầu tư các dự án.

- Bộ máy quản lý về công nghiệp cả cấp tỉnh, huyện còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực quản lý kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ. Lực lượng lao động quản lý doanh nghiệp, quản lý kỹ thuật, quản lý kinh tế, lao động có kỹ thuật chưa được chú trọng đào tạo cơ bản làm giảm khả năng huy động nguồn lực cho phát triển công nghiệp.
Phần thứ hai

NỘI DUNG ĐỀ ÁN
I. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU

1. Quan điểm

- Việc phát công nghiệp có tiềm năng thế mạnh của tỉnh tập trung 04 lĩnh vực chủ yếu sau:



+ Công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản;

+ Công nghiệp thủy điện;

+ Công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm;

+ Công nghiệp khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng ( VLXD).

- Đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp có thế mạnh và hiệu quả có các ngành nghề và quy mô phù hợp với tính chất và khả năng cung ứng của vùng nguyên liệu; ứng dụng công nghệ tiên tiến, theo hướng hiện đại và thân thiện với môi trường; tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, chất lượng cao, giá thành hợp lý, có sức cạnh tranh trên thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

- Phát triển sản xuất công nghiệp có thế mạnh và hiệu quả của tỉnh phải đặt trong sự phát triển nhanh và bền vững, giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo đảm an ninh - quốc phòng; công nghiệp phát triển nhanh và bền vững trở thành động lực chính thúc đẩy các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, xây dựng, dịch vụ phát triển.

2. Mục tiêu

2.1. Mục tiêu tổng quát

- Phát triển ngành công nghiệp có thế mạnh và hiệu quả của tỉnh, bao gồm: Khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp thủy điện, công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm, khai thác sản xuất VLXD, đến năm 2015 ngành công nghiệp tỉnh Hà Giang phát triển mạnh và bền vững, với mục tiêu tạo ra sản phẩm đáp ứng được tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

- Đầu tư cải tạo, mở rộng đối với các cơ sở sản xuất đang hoạt động theo quy hoạch được duyệt; đầu tư cải tạo công nghệ, thiết bị hoặc thay thế các cơ sở khai thác, chế biến đã lạc hậu, gây ô nhiễm lớn tới môi trường.

- Tập trung khai thác tiềm năng thế mạnh để nhanh chóng đưa ngành công nghiệp khai khoáng - luyện kim, công nghiệp thủy điện, công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm, công nghiệp khai thác sản xuất VLXD gắn với phát triển hệ thống khu, cụm công nghiệp trở thành ngành kinh tế quan trọng có vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế của tỉnh và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái.



2.2. Mục tiêu cụ thể

- Nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp công nghiệp có thế mạnh và hiệu quả của tỉnh trong GDP, phấn đấu đến năm 2015 cơ cấu GDP Công nghiệp - Xây dựng đạt tỷ trọng 34,1%, tốc độ tăng trưởng ngành Công nghiệp 19,5%; giá trị sản xuất công nghiệp (giá thực tế) 2.000 tỷ.

- Một số chỉ tiêu sản phẩm công nghiệp có thế mạnh và hiệu quả chủ yếu đến năm 2015:

+ Điện sản xuất 2.000 Triệu KWh;

+ Chế biến chè 60.000 tấn;

+ Giấy bột giấy 15.000 tấn;

+ Gỗ ép nhân tạo 100.000 m3

+ Feromangan 40.000 tấn;

+ Đioxit mangan tự nhiên 20.000 tấn;

+ Chì kẽm 15.000 tấn;

+ Phôi thép 500.000 tấn;

+ Antimon kim loại 3.200 tấn;

+ Sản xuất các loại gạch, ngói xây dựng 100 triệu viên.

1   2   3   4   5   6   7   8


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương