Tỉnh Hà Giang Sè 29 + 30 Ngµy 12 th¸ng 9 n¨m 2012 MỤc lụC



tải về 1.05 Mb.
trang1/8
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.05 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8

C ÔNG BÁO/Số 29+30/Ngày 12-09-2012






Tỉnh Hà Giang




Sè 29 + 30 Ngµy 12 th¸ng 9 n¨m 2012
MỤC LỤC




Ngày ban hành

Trích yếu nội dung

Trang




VĂN BẢN CỦA UBND TỈNH




17 - 7 - 2012

Quyết định số 1402/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án phát triển sản xuất công nghiệp có thế mạnh và hiệu quả của tỉnh Hà Giang đến năm 2015.

3

24 - 7 - 2012

Quyết định số 1422/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch tổng thể triển khai thực hiện Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

46

24 - 7 - 2012

Quyết định số 1423/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý năm 2012 trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

56

25 - 7 - 2012

Quyết định số 1440/QĐ-UBND về việc ban hành Kế hoạch hành động giai đoạn 2011 - 2015 của tỉnh Hà Giang thực hiện chiến lược dân số và sức khoẻ sinh sản Việt Nam.

61

13 - 8 - 2012

Quyết định số 1597/2012/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định về đơn giá cước và phương pháp tính giá cước vận chuyển hàng hoá bằng ô tô trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

83

15 - 8 - 2012

Quyết định số 1603/2012/QĐ-UBND ban hành Quy định về việc áp dụng nội dung chi và mức chi cho công tác hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

94






















UỶ BAN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ GIANG


Số: 1402/QĐ-UBND




CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc




Hà Giang, ngày 17 tháng 7 năm 2012



QUYẾT ĐỊNH

Về việc phê duyệt Đề án Phát triển sản xuất công nghiệp có thế mạnh

và hiệu quả của tỉnh Hà Giang đến năm 2015



UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/ 2003;

Căn cứ Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 ngày 17 tháng 11 năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25 tháng 4 năm 2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

Căn cứ Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn;

Căn cứ Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25 tháng 4 năm 2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

Căn cứ Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

Căn cứ Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản;

Căn cứ Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XV; Chương trình làm việc toàn khoá của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XV, nhiệm kỳ 2010 - 2015;

Xét đề nghị của Chánh Văn phòng UBND tỉnh,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án Phát triển sản xuất công nghiệp có thế mạnh và hiệu quả của tỉnh Hà Giang đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh Hà Giang. (Có Đề án chi tiết kèm theo)

Điều 2. Tổ chức thực hiện

1. Các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan theo chức năng quản lý và nhiệm vụ được phân công trong Đề án, xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện các nội dung của Đề án. Định kỳ 6 tháng và một năm, các sở, ngành; UBND các huyện, thành phố trong tỉnh báo cáo kết quả thực hiện với UBND tỉnh thông qua Sở Công Thương.

2. Sở Công Thương có trách nhiệm theo dõi, tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh về tình hình thực hiện, chủ động tham mưu, đề xuất các biện pháp để thực hiện có hiệu quả các nội dung của Đề án.

Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Thủ trưởng các sở, ban, ngành; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố; Thủ trưởng các cơ quan có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.






TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

Đàm Văn Bông



ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG


Số: 92/ĐA-UBND



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



Hà Giang, ngày 17 tháng 7 năm 2012


ĐỀ ÁN

Phát triển sản xuất công nghiệp có thế mạnh và hiệu quả

của tỉnh Hà Giang đến năm 2015




Phần thứ nhất

HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HÀ GIANG

GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Hoạt động sản xuất công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế của tỉnh. Cụ thể như sau:

+ Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định) năm 2006 đạt 318,87 tỷ đồng; đến năm 2009 đạt 439,4 tỷ đồng, so với năm 2006 đạt 137,7%; năm 2010 đạt 505 tỷ đồng, tăng 192,01% so với năm 2005 (505/263).

+ Giá trị sản xuất công nghiệp (giá thực tế) năm 2006 đạt 470,3 tỷ đồng; năm 2009 đạt 813,36 tỷ đồng, so với năm 2006 đạt 172,94%; năm 2010 đạt 1.001 tỷ đồng, tăng 270,54 % so với năm 2005 (1.001/370).

+ Năm 2005 toàn tỉnh có 3.227 cơ sở sản xuất công nghiệp, đến năm 2009 có 3852 cơ sở SXCN tăng 14,6 % so với năm 2005; trong đó có 8 doanh nghiệp khai thác chế biến khoáng sản sắt, 19 DN khai thác Mangan, 5 DN khai thác Angtimol và 05 DN khai thác chì, kẽm, 34 doanh nghiệp xây dựng thuỷ điện; 144 DN khai thác chế biến đá, vật liệu xây dựng và khai thác mỏ khác; 3.636 đơn vị thuộc lĩnh vực chế biến nông, lâm sản, thực phẩm, dệt may trang phục dân tộc...

+ Triển khai xây dựng 01 khu công nghiệp Bình Vàng diện tích 254 ha; 01 cụm công nghiệp Nam Quang diện tích 29 ha. Hoàn thiện quy hoạch cho 04 cụm công nghiệp Tùng Bá, Thuận Hoà, Minh Sơn 1, Minh Sơn 2.

- Quy mô sản xuất, hiệu quả kinh tế và năng xuất lao động của các cơ sở sản xuất công nghiệp ngày càng tăng. Tỉnh đã tập trung chỉ đạo, thực hiện công tác quy hoạch công nghiệp làm tiền đề, căn cứ để triển khai xây dựng các dự án kêu gọi, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển lĩnh vực công nghiệp - thủ công nghiệp của tỉnh. Hoàn thành rà soát điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện Quy hoạch phát triển công nghiệp đến năm 2010, có tính đến năm 2020. Tỉnh đã ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư ngày càng nhiều vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp - thủ công nghiệp.

1. Hiện trạng ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, luyện kim

1.1. Tiềm năng về tài nguyên khoáng sản của tỉnh Hà Giang

Hà Giang là tỉnh có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản hết sức đa dạng và phong phú cả về kim loại và phi kim loại. Trong đó có những loại khoáng sản có giá trị kinh tế cao là sắt, chì-kẽm, Mangan, Antimon…Theo tài liệu địa chất và khoáng sản, đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã xác định được 215 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng sản với 28 loại khoáng sản khác nhau. Trong đó 4 loại khoáng sản trọng điểm là: Quặng sắt (21 mỏ, điểm mỏ); quặng chì, kẽm (16 mỏ, điểm mỏ); quặng Mangan (27 mỏ, điểm mỏ) và quặng Antimon. Ngoài ra, còn nhiều loại khoáng sản khác có tiềm năng về giá trị kinh tế như: Đới vàng sông Con; đới vàng ngòi Sảo và đới vàng, Arsen chứa thiếc - vàng Sông Lô; mỏ thiếc-Vonfram Hố Quáng Phìn (huyện Đồng Văn); mỏ Antimon Bó Mới (huyện Yên Minh)…..Kết quả đánh giá, thăm dò khoáng sản trên địa bàn tỉnh cho thấy có nhiều mỏ có trữ lượng hàng triệu tấn, chất lượng cao như mỏ Antimon Mậu Duệ (huyện Yên Minh) có trữ lượng 330.000 tấn, mỏ sắt Sàng Thần (huyện Bắc Mê) trữ lượng 31,86 triệu tấn, mỏ quặng sắt Tùng Bá trữ lượng 22,0 triệu tấn, mỏ chì - kẽm Na Sơn (huyện Vị Xuyên) trữ lượng 1,6 triệu tấn, mỏ chì - kẽm Tà Pan (huyện Bắc Mê) trữ lượng 1,2 triệu tấn; dải quặng Mangan: Đồng Tâm, Trung Thành, Ngọc Linh, Ngọc Minh có tổng trữ lượng tài nguyên hơn 4,0 triệu tấn và nhiều khoáng sản quý hiếm khác như thiếc, Vonfram, vàng sa khoáng, nguyên liệu dùng cho công nghệ gốm sứ cao cấp như Kaolin, Felspat…..



1.2. Hiện trạng hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Giang

* Kết quả đã đạt được

Trong thời gian qua, các hoạt động đầu tư vào khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Giang có sự tăng trưởng khá, không ngừng phát triển cả về quy mô và số lượng, với sự tham gia của các thành phần kinh tế vào hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản. Các dự án khai thác, chế biến khoáng sản đi vào hoạt động đã có những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giải quyết được nhiều việc làm và thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng nâng cao dần tỷ trọng sản xuất công nghiệp và thương mại, dịch vụ.

Đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang nhiều nhà đầu tư đã và đang đầu tư vào lĩnh vực thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, đã hình thành các nhà máy luyện kim như: Nhà máy luyện Antimon của công ty cổ phần cơ khí và khoáng sản Hà Giang công suất 1.000 tấn/năm, nhà máy thiêu bột Antimon của công ty TNHH Bảo An công suất 600 tấn/năm và nhà máy luyện Antimon của HTX tiểu thủ công 3-2 Mèo Vạc công suất 70 tấn/năm, nhà máy luyện Antimon của Công ty cổ phần khoáng sản quốc tế VCC Hà Giang công suất 1.000 tấn/năm. Ngoài ra, tỉnh đã cho chủ trương xây dựng nhà máy luyện gang, thép công suất 500.000 tấn/năm, đang đầu tư xây dựng 02 nhà máy luyện Feromangan và Silicomangan tại khu công nghiệp Bình Vàng với tổng công suất luyện 40.000 tấn/năm….các dự án đã xây dựng hoàn thành hoặc có chủ trương xây dựng đều có nguồn nguyên liệu đảm bảo các nhà máy hoạt động với thời gian trên 20 năm.

Đến hết tháng 12/2010, toàn tỉnh có 54 dự án khai thác, chế biến khoáng sản với 5 loại khoáng sản: Mangan, chì - kẽm, sắt, Antimon, Mica. Số dự án khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư là 44 dự án, với tổng mức đầu tư là 1.788,52 tỷ đồng.

Tổng sản lượng nguyên khai và tinh quặng các loại khoáng sản kim loại do khai thác, chế biến được trên địa bàn tỉnh Hà Giang đến hết năm 2010 là hơn 750.000 tấn. Tổng doanh thu trong năm 2010 (chỉ tính riêng đối với khoáng sản kim loại) đã đạt hơn 175 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước đạt hơn 38 tỷ đồng và tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương ở các vùng sâu, vùng xa.

* Những hạn chế, yếu kém

- Việc cấp phép khai thác, chế biến cho nhiều doanh nghiệp cùng khai thác, chế biến trên một đơn vị hành chính xã, thôn bản đã xảy ra hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, việc đầu tư trở nên nhỏ lẻ, manh mún, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn lao động, ô nhiễm môi trường.

- Hầu hết các doanh nghiệp được cấp giấy phép khai thác khoáng sản chưa có đội ngũ cán bộ có trình độ, chuyên môn về lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản dẫn đến việc điều hành sản xuất không theo đúng quy trình, quy phạm, hoạt động của mỏ hiệu quả không cao. Nhiều doanh nghiệp phải tìm đến đối tác Trung Quốc để liên doanh, hợp tác.

- Do tài liệu địa chất không đầy đủ (các doanh nghiệp phần lớn ít quan tâm đầu tư cho công tác thăm dò khoáng sản) nên khi được cấp phép khai thác, còn lúng túng, không định hướng được việc đầu tư công nghệ, thiết bị phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng mỏ.

- Việc cấp giấy phép khai thác, chế biến khoáng sản chưa gắn với yêu cầu sản xuất ra đến sản phẩm cuối cùng, do đó sản phẩm của các doanh nghiệp chủ yếu ở dạng nguyên liệu thô, giá trị sản phẩm không cao, không ổn định. Các doanh nghiệp chưa áp dụng được công nghệ tiên tiến vào khai thác, chế biến khoáng sản, do vậy trong quá trình hoạt động đã có những thời điểm ô nhiễm vượt quá mức độ cho phép.

- Các mỏ, điểm mỏ đều phân bố ở vùng sâu vùng xa, kết cấu hạ tầng chưa được đầu tư, giao thông đi lại khó khăn đã ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư xây dựng cơ bản mỏ.

- Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản vẫn còn mang tính phân tán, chưa phát huy sức mạnh của hợp tác liên doanh, liên kết để nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.

- Cơ chế chính sách tài chính về khoáng sản chưa tạo đòn bẩy phát triển ngành khai khoáng, chưa có cơ chế thu từ khai thác khoáng sản phù hợp. Nguồn thu của nhà nước từ hoạt động khoáng sản chưa tương xứng với kết quả đã khai thác; vùng có nhiều tài nguyên khoáng sản thì nhân dân bị mất đất canh tác, dẫn đến hiện tượng nghèo hoá, ô nhiễm môi trường tăng cao, đường giao thông hư hỏng nhanh, vv..

- Vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành khai khoáng chưa được quan tâm đúng mức, đội ngũ cán bộ hiện nay còn nhiều bất cập, thiếu về số lượng và yếu về chất lượng.

2. Hiện trạng ngành công nghiệp điện

Hà Giang là một tỉnh vùng cao núi đá, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông suối tạo nên độ dốc lớn. Lượng mưa trung bình trên toàn tỉnh tương đối cao trung bình từ 1612 mm đến 4899 mm. Trên địa bàn tỉnh Hà Giang có nhiều sông suối như: Sông Lô, sông Gâm và thượng nguồn của sông Chảy. Các phụ lưu của sông Lô gồm có sông Chừng (sông Con), sông Miện, Nậm Ngần… Phụ lưu của sông Gâm có sông Nho Quế, sông Nhiệm, sông Ma... Nhìn chung những sông suối ở khu vực tỉnh Hà Giang đều mang đặc điểm là có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh. Từ những điều kiện về khí hậu, địa hình đã tạo cho Hà Giang những điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển xây dựng các công trình thủy điện vừa và nhỏ.



2.1. Hiện trạng về nguồn điện

a) Nguồn thủy điện phát điện vào lưới cao thế (110KV - 220KV)

Trên địa bàn toàn tỉnh có 3 nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ đang phát điện vào lưới điện cao thế, với tổng công suất 115 MW gồm: Nhà máy thủy điện Nậm Ngần 2 công suất 13,5MW, phát vào lưới điện 110KV, được đưa vào vận hành tháng 6 năm 2009. Nhà máy thủy điện Thái An công suất 82MW, phát vào lưới điện 220KV, được đưa vào vận hành tháng 1 năm 2011. Nhà máy thủy điện Sông Con 2 (Sông Chừng) công suất 19,5MW, phát vào lưới điện 110KV, được đưa vào vận hành tháng 5 năm 2011 (có Bảng 1-1 kèm theo).



b) Nguồn thủy điện phát điện vào lưới trung thế (35KV, 22KV, 10KV)

Tính đến tháng 12/2010 trên địa bàn tỉnh Hà Giang hiện có 9 nhà máy thủy điện phát điện vào lưới điện trung thế đang vận hành với tổng công suất đặt 22,93MW. Năm 2010, tổng sản lượng các thủy điện này cung cấp cho hệ thống là 88,45 triệu kWh với công suất phát cao nhất Pmax là 18MW (có Bảng 1-2 kèm theo).



c) Nguồn Dieszel

Hiện tại các tổ máy phát Diezel trên địa bàn tỉnh chủ yếu làm nhiệm vụ phát dự phòng. Hiện còn 1 tổ máy Diezel đặt tại Thành phố Hà Giang. Năm 2010 sản lượng phát của Diezel lên lưới điện là 9.739 kWh.



d) Nguồn điện mua từ Trung Quốc

Hệ thống điện Việt Nam mua điện từ Trung Quốc ở hai cấp điện áp:

- Cấp điện áp 110kV thông qua đường dây 110kV mạch kép từ cửa khẩu Thanh Thủy đến trạm 110kV Hà Giang, dây dẫn AC-240 dài 20,8km. Tổng công suất truyền tải trên đường dây mạch kép từ Thanh Thủy về trạm 110kV Hà Giang không được vượt quá 110MW.

- Cấp điện áp 220kV qua đường dây 220kV mạch đơn từ cửa khẩu Thanh Thủy đến trạm cắt 220kV Hà Giang, dây dẫn 2xACSR-330 dài 20km. Theo thoả thuận mua bán điện giữa Việt Nam và Trung Quốc, tổng công suất truyền tải trên đường dây mạch đơn từ Thanh Thủy về trạm cắt 220kV Hà Giang không vượt quá 250MW.

- Tuy nhiên năm 2010, do hệ thống điện của Việt Nam thiếu điện nghiêm trọng nên công suất truyền tải trên các đường dây mua từ Trung Quốc có thời điểm lớn hơn công suất đã thoả thuận (đường dây 110kV lên đến 130MW - vượt 118%, đường dây 220kV lên đến 412MW - vượt 165%).

2.2. Tình hình quy hoạch thuỷ điện vừa và nhỏ tỉnh Hà Giang

Nhằm phát huy thế mạnh về tiềm năng thủy điện của tỉnh Hà Giang, Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh đã có chủ trương cho lập Quy hoạch thuỷ điện vừa và nhỏ làm cơ sở để triển khai đầu tư xây dựng các công trình thủy điện trên địa bàn tỉnh. Tính đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang hiện có 71 dự án thuỷ điện được phê duyệt nằm trong quy hoạch thuỷ điện vừa và nhỏ cụ thể như sau:

a) Quy hoạch thuỷ điện vừa và nhỏ tỉnh Hà Giang giai đoạn I (2005 - 2010 có xét đến 2015) và các dự án bổ sung gồm có 25 dự án, có tổng công suất lắp máy 461,5 MW (có Bảng 1-3: Danh sách các dự án Quy hoạch giai đoạn 1 kèm theo).

b) Quy hoạch thuỷ điện vừa và nhỏ giai đoạn 2 (2006 - 2010 có xét đến năm 2015); bổ sung thêm 02 dự án là thủy điện Sông Miện 5A; Sông Miện 6 gồm 36 dự án, với tổng công suất lắp máy 92,2 MW (Bảng 1-4: Danh sách các dự án quy hoạch giai đoạn 2 kèm theo).

c) Quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ trên sông Lô và sông Chảy thuộc quy hoạch thuỷ điện giai đoạn 2 tỉnh Hà Giang (2007 - 2010 có xét đến 2015) gồm 09 dự án, tổng công suất lắp máy 168,6 MW (Bảng 1-5: Danh sách các dự án quy hoạch trên sông Lô, sông Chảy kèm theo).

d) Quy hoạch thuỷ điện trên hệ thống Sông Gâm tại Quyết định số 2704/QĐ-BCN ngày 2/8/2007 của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) v/v phê duyệt quy hoạch bậc thang thuỷ điện sông Gâm bổ sung thêm 01 dự án có công suất 45MW.



Bảng 1 - 6: Danh sách các dự án quy hoạch trên sông Gâm

TT

Công trình



Huyện

Công trình

đặt trên

Nlm (MW)

1

Bắc Mê

Yên Phong

Bắc Mê

Sông Gâm

45,0

e) Một số dự án đã có chủ trương của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh cho phép nghiên cứu bổ sung vào quy hoạch thuỷ điện tỉnh Hà Giang gồm 2 dự án là: Dự án thủy điện Lùng Lý xã Xuân Minh, huyện Quang Bình giao cho Công ty TNHH Miền Tây nghiên cứu khảo sát; dự án thủy điện Suối Sửu 3, xã Phương Tiến, huyện Vị Xuyên giao cho Công ty cổ phần đầu tư và phát triển năng lượng Á Châu nghiên cứu. Tuy nhiên đến nay Chủ đầu tư chưa triển khai các thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch.



2.3. Những khó khăn của ngành công nghiệp điện

- Các dự án thuỷ điện phần lớn là ở các khu vực có địa hình thi công phức tạp, núi cao, vực sâu đường giao thông đi lại hết sức khó khăn. Đặc biệt là các tuyến đường đi một số huyện của tỉnh như Quốc lộ 4C, QL34, đường Bắc Quang - Xín Mần hệ thống giao thông cầu nhỏ, đường hẹp, dốc đứng, các góc cua gấp. Làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác vận chuyển vật tư thiết bị hạng nặng tới công trình.

- Mặc dù đã có sự phối hợp của chính quyền cấp huyện, cấp xã trong các vấn đề liên quan đến bồi thường giải phóng mặt bằng. Nhưng cá biệt vẫn còn một số dự án trong quá trình thực hiện vẫn gặp khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng như: Dự án thuỷ điện Nậm Má 1, Sông Lô 2 đang chờ mặt bằng để khởi công công trình. Các doanh nghiệp rất cần sự giúp đỡ từ các cơ quan nhà nước trong quá trình đền bù, giải phóng mặt bằng. Có như vậy mới có thể đáp ứng được tiến độ đề ra.

- Đây là lĩnh vực đầu tư cần huy động nguồn vốn lớn, một số dự án trong quá trình triển khai xây dựng do thiếu vốn đầu tư đã kêu gọi đầu tư, liên doanh, liên kết với nhiều nhà đầu tư. Thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và làm thay đổi cổ đông sáng lập của Công ty nhiều lần hoặc do không đủ năng lực về tài chính, không thu xếp được vốn dẫn đến chậm tiến độ như: Dự án thuỷ điện Phương Độ; thuỷ điện Bản Kiếng; Bắc Sum ....

- Do tình hình địa chất của Hà Giang phức tạp dẫn đến một số công trình phải nghiên cứu thay đổi vị trí đập hoặc vị trí nhà máy như: Dự án thuỷ điện Sông Miện (Bát Đại Sơn); thuỷ điện Sông Bạc; thuỷ điện Nho Quế 1 dẫn đến đã làm chậm tiến độ triển khai dự án từ 1 đến 2 năm và gây thiệt hại trực tiếp cho nhà đầu tư.

3. Hiện trạng công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thực phẩm

3.1. Tiềm năng vùng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm

* Tiềm năng vùng nguyên liệu lâm sản

Nguyên liệu sợi ngắn (keo, mỡ... ), sợi dài (tre, vầu, nứa...) ở Hà Giang rất phong phú, thuận lợi cho việc phát triển nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản.

Theo kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng đã được phê duyệt tại Quyết định số 2104/QĐ-UBND, ngày 01/8/2007 của UBND tỉnh Hà Giang.

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh: 791.880,4 ha (theo niên giám thống kê 2010), trong đó: Đất nông lâm nghiệp: 689.742,7 ha (chiếm 69,5% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh); gồm:

- Đất rừng sản xuất: 283.622,3 ha.

- Đất rừng phòng hộ: 218.887,2 ha.

- Đất rừng đặc dụng: 49.524,4 ha.

Tổng diện tích đất các quy hoạch: 184.658,2 ha tại các huyện Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên, Hoàng Su Phì và Xín Mần.



Trong đó:

- Quy hoạch vùng nguyên liệu giấy Nam Quang: 41.052,7 ha.

- Quy hoạch cao su: 17.523,7 ha.

- Quy hoạch vùng nguyên liệu giấy An Hoà: 118.712,1 ha.

- Các doanh nghiệp trồng rừng: 7.369,7 ha.

- Vùng nguyên liệu liệu cho nhà máy chế biến gỗ Vị Xuyên 20.000 ha trên địa bàn Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình (hiện nay đã quy hoạch được 10.000 ha trên địa bàn Vị Xuyên).


  1   2   3   4   5   6   7   8


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương