TIÊu chuẩn quốc gia tcvn 7790-5 : 2008 iso 2859-5 : 2005



tải về 1.11 Mb.
trang2/7
Chuyển đổi dữ liệu06.07.2016
Kích1.11 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

3.29. Chất lượng ứng với rủi ro của nhà sản xuất (producer’s risk quality)

QPR

Mức chất lượng của lô (3.13) hoặc quá trình ứng với rủi ro cụ thể của nhà sản xuất (3.27) trong phương án lấy mẫu chấp nhận (3.17).

[ISO 3534-2]

CHÚ THÍCH: Rủi ro qui định của nhà sản xuất thường là 5 %.



3.30. Chất lượng giới hạn (limiting quality)

LQ

Mức chất lượng được giới hạn với xác suất chấp nhận thấp, dùng cho mục đích kiểm tra lấy mẫu chấp nhận, khi lô được xem xét riêng biệt.

[ISO 3534-2]

3.31. Số đếm (count)

Kết quả kiểm tra từng cá thể của mẫu khi thực hiện kiểm tra định tính.

CHÚ THÍCH: Trong trường hợp kiểm tra cá thể không phù hợp, số đếm được đặt là 1 nếu cá thể của mẫu không phù hợp hoặc ngược lại thì đặt là 0. Trong trường hợp kiểm tra sự không phù hợp, số đếm được đặt theo số lượng không phù hợp tìm được trong cá thể của mẫu.

3.32. Số đếm cộng dồn (cumulative count)

Tổng số đếm trog quá trình kiểm tra, tính từ khi bắt đầu kiểm tra lô đến cả cá thể của mẫu được kiểm tra cuối cùng, khi sử dụng phương án lấy mẫu liên tiếp.



3.33. Cỡ mẫu cộng dồn (cumulative sample size)

Tổng số cá thể của mẫu trong quá trình kiểm tra, tính từ khi bắt đầu kiểm tra lô đến cả cá thể của mẫu được kiểm tra cuối cùng, khi sử dụng phương án lấy mẫu liên tiếp.



3.34. Giá trị chấp nhận (acceptance value)

Giá trị (đối với lấy mẫu liên tiếp) sử dụng trong phương pháp đồ thị để xác định việc chấp nhận lô, được rút ra từ các thông số qui định của phương án lấy mẫu và cỡ mẫu cộng dồn.



3.35. Số chấp nhận (acceptance number)

Giá trị (đối với lấy mẫu liên tiếp) sử dụng trong phương pháp số học để xác định việc chấp nhận lô, thu được bằng cách làm tròn giá trị chấp nhận xuống số nguyên gần nhất.



3.36. Giá trị loại bỏ (rejection value)

Giá trị (đối với lấy mẫu liên tiếp) sử dụng trong phương pháp đồ thị để xác định việc không chấp nhận lô, được rút ra từ các thông số qui định của phương án lấy mẫu và cỡ mẫu cộng dồn.



3.37. Số loại bỏ (rejection number)

Giá trị (đối với lấy mẫu liên tiếp) sử dụng trong phương pháp số học để xác định việc không chấp nhận lô, thu được bằng cách làm tròn giá trị chấp nhận lên số nguyên gần nhất.



3.38. Bảng khả năng chấp nhận (acceptability table)

Bảng dùng để xác định khả năng chấp nhận lô theo phương pháp số học



3.39. Biểu đồ khả năng chấp nhận (acceptability chart)

Biểu đồ dùng để xác định khả năng chấp nhận lô theo phương pháp đồ thị, bao gồm ba vùng sau:

- Vùng chấp nhận;

- vùng loại bỏ;

- vùng chưa quyết định được;

ranh giới là đường chấp nhận, đường loại bỏ và đường cắt.



4. Ký hiệu và thuật ngữ viết tắt

Ký hiệu và thuật ngữ viết tắt được sử dụng ở trong tiêu chuẩn này như sau:



A

giá trị chấp nhận (đối với phương án lấy mẫu liên tiếp

Ac

số chấp nhận

Ac0

số chấp nhận đối với phương án lấy mẫu một lần tương ứng

Act

số chấp nhận khi cắt (giá trị cắt)

AQL

giới hạn chất lượng chấp nhận (tính bằng phần trăm cá thể không phù hợp hoặc tính bằng số không phù hợp trên 100 cá thể)

AOQ

chất lượng đầu ra trung bình (tính bằng phần trăm cá thể không phù hợp hoặc tính bằng số không phù hợp trên 100 cá thể)

AOQL

giới hạn chất lượng đầu ra trung bình (tính bằng phần trăm cá thể phù hợp hoặc tính bằng số không phù hợp trên 100 cá thể)

d

số đếm

D

số đếm cộng dồn

g

thông số độ dốc của đường chấp nhận và loại bỏ

hA

thông số điểm chắn của đường chấp nhận

hR

thông số điểm chắn của đường loại bỏ

LQ

chất lượng giới hạn (tính bằng phần trăm cá thể không phù hợp hoặc tính bằng số không phù hợp trên 100 cá thể)

N

cỡ lô

n0

cỡ mẫu đối với phương án lấy mẫu một lần tương ứng

ncum

cỡ mẫu cộng dồn

nt

cỡ mẫu cộng dồn khi cắt (giá trị cắt)



trung bình quá trình

px

mức chất lượng với xác suất chấp nhận là x, trong đó x là phân số

Pa

xác suất chấp nhận (tính bằng phần trăm)

QCR

chất lượng ứng với rủi ro của người tiêu dùng (tính bằng phần trăm cá thể không phù hợp hoặc tính bằng số không phù hợp trên 100 cá thể)

QPR

chất lượng ứng với rủi ro của nhà sản xuất (tính bằng phần trăm cá thể không phù hợp hoặc tính bằng số không phù hợp trên 100 cá thể)

R

giá trị loại bỏ (đối với phương án lấy mẫu liên tiếp)

Re

số loại bỏ

Re0

số loại bỏ đối với phương án lấy mẫu một lần tương ứng

Ret

số loại bỏ khi cắt (giá trị cắt)

CHÚ THÍCH: Ret = ACt + 1.

5. Biểu thị sự không phù hợp

5.1. Quy định chung

Mức độ không phù hợp phải được thể hiện dưới dạng phần trăm không phù hợp (xem 3.8 và 3.9) hoặc theo số lượng không phù hơn trên 100 cá thể (xem 3.10 và 3.11). Các bảng trong Phụ lục A, B và C dựa trên giả định là sự không phù hợp xảy ra ngẫu nhiên và có tính độc lập thống kê. Nếu biết trước một sự không phù hợp trong một cá thể gây ra do một điều kiện mà điều kiện đó có nhiều khả năng làm phát sinh những sự không phù hợp khác, thì các cá thể như vậy phải được đánh giá ngay là phù hợp hay không phù hợp, đồng thời bỏ việc xem xét những sự không phù hợp khác.



5.2. Phân loại sự không phù hợp

Vì hầu hết việc lấy mẫu chấp nhận phải đánh giá nhiều hơn một đặc tính chất lượng và vì các đặc tính chất lượng này có thể có tầm quan trọng khác nhau về chất lượng và/hoặc kinh tế nên cần phân loại sự phù hợp theo các loại đã thỏa thuận như nêu trong 3.5. Số loại, việc ấn định sự không phù hợp vào các loại và việc lựa chọn AQL cho mỗi loại cần phải phù hợp với yêu cầu về chất lượng trong tình huống cụ thể.



6. Giới hạn chất lượng chấp nhận (AQL)

6.1. Sử dụng và áp dụng

Sử dụng AQL cùng với chữ mã cỡ mẫu (xem 11.2) để tra cứu các phương án và chương trình lấy mẫu nêu trong tiêu chuẩn này.

Khi ấn định giá trị AQL cụ thể cho sự không phù hợp nay nhóm những sự không phù hợp nhất định, điều đó chỉ ra rằng chương trình lấy mẫu sẽ chấp nhận phần lớn các lô giao nộp, với điều kiện mức không phù hợp (phần trăm không phù hợp hay số lượng không phù hợp trên 100 cá thể) trong các lô này không lớn hơn giá trị AQL ấn định. Phương án lấy mẫu được chuẩn bị sao cho xác suất chấp nhận với giá trị AQL ấn định phụ thuộc cỡ mẫu đối với AQL đã cho, với mẫu lớn, xác suất này thường cao hơn so với mẫu nhỏ.

AQL là một thông số của chương trình lấy mẫu và không được nhầm lẫn với trung bình quá trình mô tả mức vận hành của quá trình sản xuất. Trung bình quá trình cần tốt hơn AQL để tránh việc phải loại bỏ quá nhiều khi dùng hệ thống này.

CẢNH BÁO: Việc ấn định AQL không có nghĩa là người cung ứng có quyền chủ ý cung cấp bất kỳ cá thể không phù hợp nào.

6.2 Quy định AQL

AQL cần sử dụng phải được ấn định trong hợp đồng hay do bộ phận có thẩm quyền đưa ra (hoặc phù hợp với quy định của bộ phận có thẩm quyền). Các AQL khác nhau có thể được ấn định cho các nhóm sự không phù hợp được xem xét chung hay cho những sự không phù hợp riêng lẻ như xác định ở 3.5. Việc phân loại thành nhóm cần phù hợp các yêu cầu chất lượng trong tình huống cụ thể. AQL cho nhóm sự không phù hợp có thể được ấn định thêm bên cạnh các giá trị AQL cho sự không phù hợp riêng lẻ, hay các phân nhóm, thuộc nhóm đó. Khi mức chất lượng biểu thị bằng phần trăm cá thể không phù hợp (3.8 và 3.9), thì các giá trị AQL không được vượt quá 10 % không phù hợp. Khi mức chất lượng biểu thị bằng số lượng không phù hợp trên 100 cá thể (3.10 và 3.11), thì có thể sử dụng giá trị AQL lên tới 1000 sự không phù hợp trên 100 cá thể.



6.3. Các AQL ưu tiên

Chuỗi các giá trị AQL cho trong bảng được hiểu là chuỗi giá trị AQL ưu tiên. Đối với bất kỳ sản phẩm nào, nếu AQL được ấn định khác với một trong các giá trị này thì không áp dụng các bảng này.



7. Gửi sản phẩm để lấy mẫu

7.1. Hình thành lô

Sản phẩm phải được gom, tạo thành các lô, lô con nhận biết được hoặc theo cách khác như đã đề ra (xem 7.2). Trong chừng mực có thể, mỗi lô phải gồm các cá thể thuộc một kiểu, cấp, loại, kích thước và thành phần, được chế tạo trong các điều kiện đồng nhất ở cùng một thời điểm.



7.2. Thể hiện lô

Việc hình thành lô, cỡ lô, cách thức thể hiện và nhận biết từng lô của người cung ứng phải được chỉ định hay phê chuẩn hay tuân theo bộ phận có thẩm quyền. Khi cần, người cung ứng phải đảm bảo có không gian lưu kho đầy đủ và thích hợp cho mỗi lô sản phẩm, đảm bảo có thiết bị cần thiết để nhận biết và thể hiện đúng, cũng như nhân sự để xử lý sản phẩm cần thiết cho lấy mẫu.



8. Chấp nhận và không chấp nhận

8.1. Chấp nhận lô

Việc chấp nhận lô phải được xác định bằng việc sử dụng phương án lấy mẫu.

Thuật ngữ "không chấp nhận" được sử dụng trong ngữ cảnh này là "loại bỏ" khi đề cập tới kết quả của quá trình. Khi các tiêu chí chấp nhận không được đáp ứng, các dạng thuật ngữ "loại bỏ" vẫn được dùng khi đề cập đến hành động của người tiêu dùng.

8.2. Xử lý các lô không được chấp nhận

Bộ phận có thẩm quyền phải quyết định cách xử lý các lô không được chấp nhận. Các lô này có thể bị thải, phân loại (có hoặc không thay thế các cá thể không phù hợp), làm lại, đánh giá lại dựa vào chuẩn mực sử dụng cụ thể hơn, hoặc giữ lại để lấy thêm thông tin, v.v…



8.3. Cá thể không phù hợp

Nếu lô sản phẩm được chấp nhận, hiểu đúng là không có bất kỳ cá thể không phù hợp nào được tìm thấy trong quá trình kiểm tra, dù cá thể đó thuộc mẫu hay không thuộc mẫu. Các cá thể không phù hợp có thể được làm lại hoặc thay thế bằng các cá thể phù hợp và giao nộp lại để kiểm tra cùng với sự phê chuẩn, và theo cách thức quy định, của bộ phận có thẩm quyền.



8.4. Các loại không phù hợp hoặc cá thể không phù hợp

Việc phân chia cụ thể sự không phù hợp hay cá thể không phù hợp thành hai hay nhiều loại đòi hỏi phải sử dụng tập hợp các phương án lấy mẫu. Trong lấy mẫu liên tiếp, tập hợp các phương án lấy mẫu liên tiếp có các thông số khác nhau đối với mỗi loại có AQL khác nhau, như nêu trong các bảng ở các Phụ lục A, B và C.



8.5. Thận trọng đặc biệt đối với các loại không phù hợp quan trọng

Một số dạng không phù hợp có thể có tầm quan trọng then chốt. Điều này qui định các điều khoản đặc biệt cho các dạng không phù hợp đã được ấn định. Theo xem xét của bộ phận có thẩm quyền, mỗi cá thể trong lô có thể phải chịu kiểm tra về các loại không phù hợp được ấn định. Cần cân nhắc là phải kiểm tra từng cá thể được nộp theo mọi loại không phù hợp như đã được xác định và không chấp nhận lô ngay khi thấy có một sự không phù hợp này. Đối với các loại không phù hợp đã được xác định, cũng phải cân nhắc việc lấy vào mẫu từng lô sản phẩm do người cung ứng giao nộp và việc không chấp nhận bất kỳ một lô nào nếu mẫu được lấy ra từ đó có một hay nhiều sự không phù hợp loại này.



8.6. Giao nộp lại các lô

Tất cả các bên phải được thông báo ngay nếu lô sản phẩm không được chấp nhận. Các lô này không được nộp lại cho đến khi tất cả các cá thể được kiểm tra hoặc thử lại và người cung ứng đảm bảo rằng tất cả các cá thể không phù hợp đã được loại bỏ hoặc thay thế bằng các cá thể phù hợp, hoặc tất cả sự không phù hợp đã được sửa chữa. Bộ phận có thẩm quyền phải xác định sẽ sử dụng kiểm tra thường hay kiểm tra ngặt để kiểm tra lại và việc kiểm tra lại phải bao gồm tất cả các dạng hoặc loại không phù hợp hay chỉ với dạng hoặc loại không phù hợp cụ thể đã dẫn đến việc lô không được chấp nhận trong lần kiểm tra ban đầu.



9. Lấy mẫu

9.1. Chọn mẫu

Cá thể được chọn để lấy mẫu phải được lấy từ lô bằng cách lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản (như đề cập trong ISO 3534-2). Tuy nhiên, khi lô gồm có lô phụ hoặc tầng, được xác định bằng tiêu chí hợp lý nào đó, thì phải sử dụng lấy mẫu đại diện, nghĩa là xác suất lấy mẫu cá thể liên tiếp từ mỗi lô con hoặc mỗi tầng phải tỷ lệ với cỡ lô con hoặc tầng đó.



9.2. Thời điểm lấy mẫu

Có thể lấy mẫu trong hoặc sau khi lô hàng được sản xuất. Trong cả hai trường hợp, mẫu phải được chọn theo 9.1.



10. Kiểm tra thường, ngặt và giảm

10.1. Bắt đầu kiểm tra

Kiểm tra thường phải được tiến hành khi bắt đầu kiểm tra, nếu bộ phận có thẩm quyền không có hướng dẫn khác.



10.2. Tính liên tục trong kiểm tra

Kiểm tra thường, ngặt hay giảm phải duy trì không thay đổi đối với các lô kế tiếp, ngoại trừ trường hợp quy trình chuyển đổi (xem 10.3) yêu cầu thay đổi mức độ nghiêm ngặt của kiểm tra. Quy trình chuyển đổi phải được áp dụng độc lập cho từng loại không phù hợp hay cá thể không phù hợp.



10.3. Quy tắc và quy trình chuyển đổi (xem hình 1)

10.3.1. Chuyển từ kiểm tra thường sang kiểm tra ngặt

Khi đang tiến hành kiểm tra thường, nếu hai trong năm (hoặc ít hơn năm) lô liên tiếp không được chấp nhận ở kiểm tra lần đầu (không tính các lô hay các đợt giao nộp lại theo qui trình này) thì ngay lập tức phải chuyển sang kiểm tra ngặt.



10.3.2. Chuyển từ kiểm tra ngặt sang kiểm tra thường

Khi đang tiến hành kiểm tra ngặt, nếu năm lô liên tiếp đã được chấp nhận trong kiểm tra lần đầu thì phải chuyển sang kiểm tra thường.



10.3.3. Chuyển từ kiểm tra thường sang kiểm tra giảm

10.3.3.1. Quy định chung

Khi đang tiến hành kiểm tra thường, phải chuyển sang kiểm tra giảm nếu đáp ứng các điều kiện sau:

a) giá trị hiện tại của điểm chuyển đổi (xem 10.3.3.2) ít nhất là 30; và

b) sản xuất ổn định; và

c) bộ phận có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra giảm.

10.3.3.2. Điểm chuyển đổi

Trước tiên phải tính điểm chuyển đổi khi bắt đầu tiến hành kiểm tra thường, nếu không có quy định nào khác của bộ phận có thẩm quyền.

Điểm chuyển đổi phải được đặt là 0 tại điểm bắt đầu và cập nhật sau khi kiểm tra từng lô tiếp theo trong khi kiểm tra thường lần đầu.

Cộng thêm 3 vào điểm chuyển đổi nếu lô được chấp nhận trong khi cỡ mẫu cộng dồn ncum nhỏ hơn hoặc bằng một nửa giá trị cắt (nghĩa là, không vượt quá 0,5 nt); nếu không thì điều chỉnh điểm chuyển đổi về 0.



10.3.3.3. Qui trình lấy mẫu lô cách quãng

Không áp dụng qui trình lấy mẫu lô cách quãng trong TCVN 7790-3 (ISO 2859-3) khi sử dụng phương án lấy mẫu liên tiếp trong tiêu chuẩn này.





Hình 1 - Nguyên tắc chung của qui tắc chuyển đổi (xem 10.3)

10.3.4. Chuyển từ kiểm tra giảm sang kiểm tra thường

Khi đang tiến hành kiểm tra giảm, phải chuyển sang kiểm tra thường nếu xảy ra bất kỳ trường hợp nào sau đây trong kiểm tra lần đầu:

a) lô không được chấp nhận; hoặc

b) sản xuất không đều hay bị chậm trễ; hoặc

c) các điều kiện dẫn đến phải áp dụng lại kiểm tra thường.

10.4. Ngừng kiểm tra

Nếu tổng số lô không được chấp nhận trong các lô liên tiếp nhau khi kiểm tra ngặt lần đầu đạt dồn đến 5, thì không được bắt đầu lại qui trình chấp nhận theo tiêu chuẩn này cho đến khi người cung ứng thực hiện hành động để cải tiến chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ giao nộp lại và được sự nhất trí của bộ phận có thẩm quyền là hành động này đã có hiệu lực. Sau đó phải sử dụng kiểm tra ngặt được viện dẫn trong 10.3.1.



11. Phương án lấy mẫu

11.1. Bậc kiểm tra

Bậc kiểm tra ấn định lượng kiểm tra tương đối. Có ba bậc kiểm tra để sử dụng chung là I, II và III được nêu trong bảng 1. Nếu không có quy định nào khác thì phải sử dụng bậc II. Có thể sử dụng bậc I nếu cần mức phân biệt lượng thấp hơn hoặc sử dụng bậc III nếu cần mức phân biệt lượng cao hơn. Ngoài ra, còn có thêm hai bậc kiểm tra đặc biệt, S-3 và S-4, được nêu trong bảng 1 và có thể sử dụng trong trường hợp cần cỡ mẫu tương đối nhỏ và có thể chấp nhận rủi ro lấy mẫu lớn hơn.

Bộ phận có thẩm quyền phải chỉ rõ bậc kiểm tra được dùng cho mỗi trường hợp cụ thể. Điều này cho phép họ dựa theo một số mục đích nào đó để có thể nêu yêu cầu về mức độ phân biệt thấp hơn hoặc cao hơn. Với mỗi bậc kiểm tra, quy tắc chuyển đổi phải có tác dụng yêu cầu kiểm tra thường, kiểm tra ngặt, kiểm tra giảm như được quy định trong điều 10. Việc chọn bậc kiểm tra hoàn toàn tách biệt với ba mức kiểm tra nghiêm ngặt này. Do đó, bậc kiểm tra đã quy định phải được duy trì không đổi khi tiến hành chuyển đổi giữa kiểm tra thường, kiểm tra ngặt và kiểm tra giảm.

Khi ấn định các bật kiểm tra từ S-3 đến S-4 phải chú ý để tránh sự không thống nhất giữa AQL với các bậc kiểm tra này. Ví dụ, các mã chữ trong bậc S-3 không vượt quá H, mà đối với nó AQL thấp nhất là 1,0 % nên nếu AQL là 0,65 % hoặc thấp hơn thì việc quy định bậc S-3 trở nên không có ý nghĩa.

Lượng thông tin về chất lượng của lô thu được từ việc kiểm tra mẫu lấy từ lô đó tùy thuộc hoàn toàn vào cỡ mẫu chứ không phụ thuộc vào quan hệ giữa cỡ mẫu so với cỡ lô, với điều kiện là mẫu tương đối nhỏ so với lô được kiểm tra. Mặc dù như vậy, có ít nhất hai lý do để thay đổi cỡ mẫu với cỡ lô

a) khi quyết định sai sẽ gây tổn hại lớn thì điều quan trọng hơn là phải đưa ra quyết định đúng;



b) lấy mẫu để đảm bảo thật sự ngẫu nhiên là tương đối khó khăn nếu mẫu là một phần rất nhỏ của lô.

Bảng 1 - Chữ mã cỡ mẫu

Cỡ lô

Bậc đặc biệt

Bậc kiểm tra chung

S-3

S-4

I

II

II

51 đến 90

a

a

a

a

F

91 đến 150

a

a

a

F

G

151 đến 280

a

a

a

G

H

281 đến 500

a

a

F

H

J

501 đến 1200

a

F

G

J

K

1201 đến 3200

a

G

H

K

L

3 201 đến 10 000

F

G

J

L

M

10 001 đến 35 000

F

H

K

M

N

35 001 đến 150 000

G

J

L

N

P

150 001 đến 500 000

G

J

M

P

Q

500 001 trở lên

H

K

K

Q

R

a Sử dụng phương án lấy mẫu nhiều lần của TCVN 7790-1 (ISO 2859-1).

11.2. Chữ mã cỡ mẫu

Cỡ mẫu được chỉ ra bằng chữ mã cỡ mẫu. Phải sử dụng bảng 1 để tìm chữ mã áp dụng cho cỡ lô cụ thể và bậc kiểm tra quy định.

CHÚ THÍCH: Để tiết kiệm chỗ trong bảng và tránh sự lặp lại không cần thiết trong văn bản, đôi khi sử dụng từ viết tắt "chữ mã".

11.3. Xác định phương án lấy mẫu

Phải sử dụng AQL và chữ mã cỡ mẫu để tìm được phương án lấy mẫu theo các bảng trong các Phụ lục A, B và C. Đối với AQL quy định và cỡ lô đã cho, phải sử dụng cùng tổ hợp các giá trị AQL và chữ mã cỡ mẫu để tìm được phương án lấy mẫu từ bảng kiểm tra thường, kiểm tra ngặt và kiểm tra giảm.

Khi không có phương án lấy mẫu phù hợp đối với tổ hợp các giá trị AQL và chữ mã cỡ mẫu đã cho, các mũi tên trong bảng sẽ chỉ dẫn người sử dụng dùng chữ khác. Phương án lấy mẫu cần sử dụng được cho bởi chữ mã cỡ mẫu mới chứ không phải bằng chữ mã ban đầu. Nếu quy trình này dẫn đến giá trị cắt khác nhau đối với các loại không phù hợp hay cá thể không phù hợp khác nhau, thì có thể sử dụng chữ mã cỡ mẫu tương ứng lấy từ giá trị cắt lớn nhất cho tất cả các loại không phù hợp hay các cá thể không phù hợp, khi được chỉ định hay phê chuẩn bởi bộ phận có thẩm quyền.

Một số tổ hợp các giá trị AQL và chữ mã cỡ mẫu, trong bảng sẽ được đánh dấu hoa thị (*) để chỉ ra rằng phương án lấy mẫu một lần tương ứng có số chấp nhận là 0. Trong trường hợp đó, phương án lấy mẫu liên tiếp giống như phương án lấy mẫu một lần tương ứng áp dụng nguyên tắc cắt, và người sử dụng nên sử dụng phương án lấy mẫu một lần đơn giản hơn này thay vì phương án lấy mẫu liên tiếp phức tạp hơn. Nguyên tắc cắt đối với các phương án này là kết thúc việc kiểm tra và không chấp nhận lô ngay khi tìm thấy một cá thể không phù hợp.


1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương