TIÊu chuẩn quốc gia tcvn 7790-5 : 2008 iso 2859-5 : 2005



tải về 1.11 Mb.
trang3/7
Chuyển đổi dữ liệu06.07.2016
Kích1.11 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

11.4. Triển khai phương án lấy mẫu liên tiếp

11.4.1. Qui định về phương án

Trước khi triển khai phương án lấy mẫu liên tiếp, kiểm tra viên phải ghi vào tài liệu lấy mẫu các giá trị qui định của các tham số hA, hRg, và giá trị cắt nt và Act.



11.4.2. Lấy mẫu các cá thể

Cá thể của mẫu phải được lấy ngẫu nhiên từ lô và được kiểm tra từng cá thể một theo trình tự lấy mẫu.



11.4.3. Số đếm và số đếm cộng dồn

11.4.3.1. Số đếm

Đối với việc kiểm tra phần trăm không phù hợp, nếu cá thể của mẫu không phù hợp thì số đếm d đối với cá thể của mẫu là 1, nếu không thì giá trị d là 0.

Đối với việc kiểm tra sự không phù hợp trên 100 cá thể, giá trị d đối với cá thể của mẫu là số lượng không phù hợp tìm thấy trong cá thể của mẫu đó.

11.4.3.2. Số đếm cộng dồn

Số đếm cộng dồn D là tổng cộng giá trị d từ cá thể của mẫu đầu tiên đến cá thể của mẫu mới nhất (nghĩa là ncum) được kiểm tra.



11.4.4. Chọn lựa giữa phương pháp số học và phương pháp đồ thị

Tiêu chuẩn này cung cấp hai phương pháp triển khai phương án lấy mẫu liên tiếp: phương pháp số học và phương pháp đồ thị, có thể chọn một trong hai phương pháp.

Phương pháp số học sử dụng bảng khả năng chấp nhận để thực hiện và có ưu điểm là chính xác, do đó tránh được các tranh cãi trong các trường hợp mấp mé giữa chấp nhận hoặc không chấp nhận. Cũng có thể sử dụng bảng khả năng chấp nhận như một phiếu hồ sơ kiểm tra, sau khi ghi các kết quả kiểm tra.

Phương pháp đồ thị sử dụng biểu đồ khả năng chấp nhận để vận hành và có ưu điểm là thể hiện sự gia tăng thông tin về chất lượng lô khi các cá thể bổ sung được kiểm tra, thông tin được biểu thị bằng đường bậc thang trong phạm vi vùng chưa quyết định được, cho đến khi đường thẳng đến hoặc cắt một trong các đường biên của vùng đó. Tuy nhiên, phương pháp này kém chính xác hơn do tính không chính xác trong việc đánh dấu các điểm trên đồ thị và vẽ các đường.

Phương pháp số học là phương pháp chuẩn trong phạm vi liên quan đến chấp nhận hoặc không chấp nhận (xem cảnh báo trong 11.4.6.2). Khi áp dụng phương pháp số học, việc tính toán và lập bảng khả năng chấp nhận cần được thực hiện bằng phần mềm thích hợp.

Các qui định dưới đây dựa trên giả định là bảng khả năng chấp nhận hoặc biểu đồ chấp nhận được lập trên giấy. Tuy nhiên, nếu sử dụng chương trình máy tính thì bảng khả năng chấp nhận có thể được hiển thị trên màn hình máy tính, sao cho việc nhập một lượng dữ liệu tối thiểu có thể đủ để xác định khả năng chấp nhận lô. Ngoài ra, có thể có thêm các đặc trưng như:

- hiển thị bảng khả năng chấp nhận và biểu đồ chấp nhận trên các cửa sổ khác nhau của cùng một màn hình máy tính.

- in ra phiếu hồ sơ kiểm tra sau khi xác định được khả năng chấp nhận lô, hoặc

- cô đọng hồ sơ kiểm tra ở mức cần thiết tối thiểu.

11.4.5. Phương pháp số học

11.4.5.1. Lập bảng khả năng chấp nhận

Khi sử dụng phương pháp số học, phải thực hiện các tính toán dưới đây và phải lập bảng khả năng chấp nhận.

Đối với mỗi giá trị, ncum, của cỡ mẫu cộng dồn nhỏ hơn giá trị cắt của cỡ mẫu, giá trị chấp nhận A được cho bởi công thức (1):

A = (g x ncum) - hA (1)

và số chấp nhận thu được bằng cách làm tròn giá trị chấp nhận, A, xuống số nguyên gần nhất. Đối với mỗi giá trị ncum, giá trị loại bỏ R được cho bởi công thức (2):



R = (g x ncum) + hR (2)

và số loại bỏ Re thu được bằng cách làm tròn giá trị loại bỏ, R lên số nguyên gần nhất.

Khi giá trị A âm, cỡ mẫu cộng dồn là quá nhỏ để có thể chấp nhận lô. Ngược lại khi giá trị của công thức (2) lớn hơn cỡ mẫu cộng dồn thì cỡ mẫu cộng dồn là quá nhỏ để không chấp nhận lô khi kiểm tra phần trăm không phù hợp.

Khi số loại bỏ Re lớn hơn giá trị cắt, Ret, thì cần thay số loại bỏ bằng giá trị cắt vì không có cơ hội chấp nhận phần còn lại khi giá trị cộng dồn, D, vượt quá giá trị cắt, Ret.

Các giá trị, A R, cho bởi công thức (1) và (2) phải có cùng số con số sau dấu thập phân như g.

Cỡ mẫu cộng dồn nhỏ nhất cho phép chấp nhận lô đạt được bằng cách làm tròn giá trị hA/g, lên số nguyên gần nhất. Cỡ mẫu cộng dồn nhỏ nhất cho phép không chấp nhận lô khi kiểm tra phần trăm không phù hợp thu được bằng cách làm tròn giá trị, hR/(1 - g), lên số nguyên gần nhất. Cuối cùng, bảng khả năng chấp nhận được lập bằng cách nhập dữ liệu cần thiết.



11.4.5.2. Đưa ra quyết định

Nhập số đếm và số đếm cộng dồn vào bảng khả năng chấp nhận được lập theo 11.4.6.1, sau khi kiểm tra từng cá thể.

- Nếu số đếm cộng dồn, D, nhỏ hơn hoặc bằng số chấp nhận, Ac, đối với cỡ mẫu cộng dồn, ncum thì lô phải được coi là được chấp nhận và phải kết thúc kiểm tra.

- Nếu số đếm cộng dồn, D, lớn hơn hoặc bằng số loại bỏ, Re, đối với cỡ mẫu cộng dồn, ncum, thì lô phải được coi là không được chấp nhận và phải kết thúc kiểm tra.

- Nếu không đáp ứng a) hoặc b), thì phải lấy mẫu các cá thể khác để kiểm tra.

Khi cỡ mẫu cộng dồn đạt đến giá trị cắt, nt, thì áp dụng các nguyên tắc trong a) và b) với giá trị cắt của số chấp nhận, Act, và số loại bỏ Ret (bằng Act + 1).



11.4.6. Phương pháp đồ thị

11.4.6.1. Lập biểu đồ khả năng chấp nhận

Khi sử dụng phương pháp đồ thị, biểu đồ khả năng chấp nhận phải được lập theo các qui trình dưới đây. Lập biểu đồ với mẫu cộng dồn, ncum là trục hoành, và giá trị cộng dồn, D, là trục tung. Vẽ hai đường thẳng có cùng độ dốc g ứng với giá trị chấp nhận và loại bỏ, AR, cho bởi công thức (1) và (2). Đường thẳng bên dưới với điểm chắn - hA được ấn định là đường chấp nhận, còn đường thẳng phía trên với điểm chắn hR được ấn định là đường loại bỏ. Vẽ thêm một đường thẳng đứng, đường cắt, tại ncum = nt. Thêm một đường nằm ngang, đường cắt ngang, tại Ret.

Các đường thẳng xác định ba vùng của đồ thị.

- Vùng chấp nhận là vùng phía dưới (và bao gồm) đường chấp nhận cùng với phần của đường cắt phía dưới và chứa điểm (nt, Act).

- Vùng loại bỏ là vùng phía trên (bao gồm) đường loại bỏ cùng với phần của đường cắt phía trên và chứa điểm (nt, Ret).

- Vùng chưa quyết định được là dải nằm giữa đường chấp nhận và đường loại bỏ phía bên trái của đường cắt.

Khi bổ sung đường cắt, hình tam giác nằm trên vùng chưa quyết định được bao bởi đường loại bỏ, đường cắt và đường cắt ngang (về mỗi phía) cần được coi là một phần của vùng loại bỏ.

Trong tiêu chuẩn này, các điểm trên đồ thị biểu diễn giá trị cộng dồn sẽ không bao giờ nằm trong đường chấp nhận hoặc đường loại bỏ. Ví dụ về việc lập đồ thị được cho trên Hình 2.



Chú giải


1 vùng loại bỏ

2 kết thúc kiểm tra

3 vùng chưa quyết định được

4 vùng chấp nhận



Hình 2 - Đồ thị khả năng chấp nhận

11.4.6.2. Đưa ra quyết định

Khi sử dụng phương pháp đồ thị, phải tuân thủ các qui trình dưới đây:

Vẽ điểm (ncum, D) trên biểu đồ khả năng chấp nhận được lập theo 11.4.6.1, sau khi kiểm tra từng cá thể.

a) Nếu điểm này nằm trong vùng chấp nhận thì lô phải được coi là được chấp nhận và phải kết thúc việc kiểm tra lô đó.

b) Nếu điểm này nằm trong vùng loại bỏ thì lô phải được coi là không được chấp nhận và phải kết thúc việc kiểm tra lô đó.

c) Nếu điểm này nằm trong vùng chưa quyết định được thì phải lấy mẫu các cá thể khác của lô đó để kiểm tra.

Các điểm kế tiếp của đồ thị khả năng chấp nhận phải được nối với nhau thành đường bậc thang để thể hiện xu hướng nào đó trong kết quả kiểm tra.

CẢNH BÁO: Nếu điểm này gần đường chấp nhận hoặc loại bỏ thì phải sử dụng phương pháp số học để đưa ra quyết định.



11.5. Ví dụ bằng số

Ví dụ dưới đây minh họa cách thức sử dụng các phương án lấy mẫu liên tiếp trong tiêu chuẩn này.

VÍ DỤ 1

Hệ thống lấy mẫu của TCVN 7790-1 (ISO 2859-1) được sử dụng để kiểm tra một sản phẩm nhất định. AQL qui định mức không phù hợp là 4,0 %. Sử dụng kiểm tra bậc I. Phương án lấy mẫu một lần để kiểm tra thường được sử dụng cho một số ít lô. Cỡ lô (N) là 1 500 đối với mỗi lô.



Sử dụng chương trình lấy mẫu liên tiếp theo tiêu chuẩn này. Đối với kiểm tra bậc I và cỡ lô là 1500, tra Bảng 1 được chữ mã cỡ mẫu là H. Các thông số (hA, hRg) và các giá trị cắt (nt và Act) của phương án lấy mẫu liên tiếp được cho trong Bảng A.1.

Các thông số như sau: hA = 1,426, hR = 2,449 và g = 0,097. Các giá trị cắt như sau: nt = 80 và Act = 7. Vì vậy, giá trị loại bỏ và giá trị chấp nhận (RA) được cho bởi các công thức sau:



R = (g x ncum) + hR = (0,097 x ncum) + 2,449



A = (g x ncum) - hA = (0,097 x ncum) - 1,426

Khi sử dụng phương pháp số học, các giá trị loại bỏ và chấp nhận (RA) có thể được tính cho ncum 1 đến nt - 1 (bằng 79), sau đó làm tròn thành số chấp nhận và số loại bỏ (Ac và Re), tương ứng. Khi số loại bỏ (Re) lớn hơn giá trị cắt (Ret = 8), mỗi Re cần được thay bằng 8.

Giả định là các cá thể được chọn ngẫu nhiên liên tục từ lô được giao nộp để kiểm tra. Các kết quả kiểm tra như sau:



ncum

D

7

1

11

2

14

3

21

4

24

5

Đối với ncum = 24 ta có D = 5, và giá trị này lớn hơn giá trị loại bỏ R tính được. Do đó, kết thúc kiểm tra và lô kiểm tra bị bác bỏ. Đồ thị khả năng chấp nhận đối với ví dụ này được thể hiện trên Hình 2.

VÍ DỤ 2


Tình huống tương tự như ở ví dụ 1, ngoại trừ AQL là 0,65 % không phù hợp đối với đặc tính chất lượng thuộc loại A và 4,0 % không phù hợp đối với đặc tính chất lượng B (xem 3.5 và 3.7). Như ví dụ trước, chữ mã cỡ mẫu là H. Tra Bảng A.1 của tiêu chuẩn này, ta có đặc tính chất lượng A mũi tên chỉ ra việc dùng chữ mã cỡ mẫu J thay cho H. Các thông số (hA, hRg) và các giá trị cắt (nt và Act) của phương án lấy mẫu liên tiếp như sau: hA = 0,854, hR = 0,932 và g = 0,0167, nt = 125 và Act = 2. Vì vậy, giá trị loại bỏ và giá trị chấp nhận (RA) được cho bởi các công thức sau:

R = (g x ncum) + hR =(0,0167 x ncum) + 0,932



A = (g x ncum) - A = (0,0167 x ncum) - 0,854

Khi sử dụng phương pháp số học, các giá trị loại bỏ và chấp nhận (RA) có thể được tính cho ncum -1 đến nt - 1 (bằng 124), sau đó làm tròn thành số chấp nhận và số loại bỏ (Ac và Re), tương ứng. Khi số loại bỏ (Re) lớn hơn giá trị cắt (Ret = 3), mỗi Re cần được thay bằng 3.

Đối với đặc tính chất lượng loại B, các kết quả giống như trong ví dụ 1.

CHÚ THÍCH: Trong trường hợp phương án lấy mẫu liên tiếp, không có vấn đề gì ngay cả khi các chữ mã cỡ mẫu khác nhau đối với các loại đặc tính chất lượng khác nhau.

VÍ DỤ 3


Trong ví dụ 2, việc cập nhật điểm chuyển đổi cần được xác định. Điểm chuyển đổi hiện tại là 10 và 15 đối với các đặc tính chất lượng loại A và loại B, tương ứng. Trước tiên, xác nhận cỡ mẫu cộng dồn được phép chấp nhận, sau đó so sánh với giá trị giới hạn để cộng thêm vào điểm chuyển đổi (0,5 nt).

a) Đối với đặc tính chất lượng loại A:

Chỉ được phép chấp nhận loại A ở các cỡ mẫu cộng dồn sau đây:


ncum

A

Ac

52

0,014 4

0

112

1,016 4

1

125

-

2

Trong số các giá trị nêu trên, chỉ tổ hợp ncum = 52 và Ac = 0 đáp ứng các tiêu chí để cộng thêm vào điểm chuyển đổi (ncum 0,5nt = 62,5). Do đó, cộng thêm 3 vào điểm chuyển đổi hiện tại nếu lô được chấp nhận ở ncum = 52 với Ac = 0; nếu không thì đặt điểm chuyển đổi về 0.

a) Đối với đặc tính chất lượng loại B:

Chỉ được phép chấp nhận loại B ở các cỡ mẫu cộng dồn sau đây:


ncum

A

Ac

15

0,029

0

26

1,096

1

36

2,066

2

46

3,036

3

56

4,006

4

67

5,073

5

77

6,043

6

80




7

Trong số các giá trị nêu trên, chỉ tổ hợp ncum 36 và Ac 2 đáp ứng các tiêu chí để cộng thêm vào điểm chuyển đổi (ncum 0,5nt = 40). Do đó, cộng thêm 3 vào điểm chuyển đổi hiện tại nếu lô được chấp nhận ở ncum 36; nếu không thì đặt điểm chuyển đổi về 0.

12. Xác định khả năng chấp nhận

12.1. Kiểm tra các cá thể không phù hợp

Để xác định khả năng chấp nhận lô khi kiểm tra phần trăm không phù hợp, phải sử dụng phương án lấy mẫu theo 11.1 đến 11.4.

Khi qui định các giá trị AQL khác nhau cho hai hoặc nhiều loại cá thể không phù hợp, thì khả năng chấp nhận lô phải được xác định riêng cho từng loại. Nói cách khác, thậm chí sau khi xác định khả năng chấp nhận lô với bất kỳ loại nào thì vẫn phải tiếp tục kiểm tra đối với (các) loại khác sao cho có thể áp dụng riêng rẽ các nguyên tắc chuyển đổi.

12.2. Kiểm tra sự không phù hợp

Để xác định khả năng chấp nhận lô khi kiểm tra sự không phù hợp trên 100 cá thể, phải sử dụng qui trình quy định đối với kiểm tra sự không phù hợp (xem 12.1), ngoài ra phải dùng thuật ngữ "sự không phù hợp" thay cho "cá thể không phù hợp".



13. Thông tin thêm

13.1. Đường đặc trưng hiệu quả của phương án kiểm tra (OC)

Các đường đặc trưng hiệu quả trong kiểm tra thường và kiểm tra ngặt chỉ ra phần trăm các lô có thể được chấp nhận trong các phương án lấy mẫu khác nhau đối với chất lượng quá trình đã cho. Các phương án lấy mẫu trong tiêu chuẩn này được xác định sao cho các đường đặc trưng hiệu quả (OC) càng gần với các đường OC của phương án lấy mẫu tương ứng trong TCVN 7790-1:2007 (ISO 2859-1:1999) càng tốt. Trong thực tế, có thể sử dụng các đường và các bảng trong bảng 10 của TCVN 7790-1:2007 (ISO 2859-1:1999) để xác định đường OC của các phương án lấy mẫu trong tiêu chuẩn này.

Đường OC biểu diễn các AQL lớn hơn 10 được sử dụng để kiểm tra số lượng không phù hợp, các đường biểu diễn AQL bằng hoặc ít hơn 10 được sử dụng để kiểm tra cá thể không phù hợp. Đối với các AQL bằng hoặc ít hơn 10, các đường OC này cũng được sử dụng để kiểm tra số lượng không phù hợp.

13.2. Trung bình quá trình

Trung bình quá trình có thể ước lượng bằng phần trăm không phù hợp trung bình hoặc số lượng không phù hợp trung bình trên 100 cá thể (chọn giá trị nào thích hợp) trong mẫu sản phẩm do người cung ứng giao nộp để kiểm tra lần đầu. Để hạn chế độ chệch của ước lượng, số cá thể cộng dồn phải dựa vào để ước lượng ít nhất là bằng cỡ mẫu đối với p = 0 (nêu trong Bảng D.1 hoặc Bảng D.2 khi thích hợp) hoặc là cỡ mẫu cộng dồn khi loại bỏ nếu việc này xảy ra sớm hơn.



13.3. Sử dụng các phương án riêng lẻ

Tiêu chuẩn này để sử dụng như một hệ thống sử dụng kiểm tra ngặt, kiểm tra thường hay kiểm tra giảm trên một loạt các lô liên tiếp nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong khi vẫn đảm bảo với nhà sản xuất rằng hầu hết các lô sẽ được chấp nhận nếu chất lượng của chúng tốt hơn AQL.

CẢNH BÁO - Đôi khi, các phương án riêng lẻ cụ thể được chọn từ tiêu chuẩn này và sử dụng mà không theo các quy tắc chuyển đổi. Ví dụ, người mua hàng có thể sử dụng phương án cho riêng mục đích kiểm tra. Đây không phải là cách áp dụng hệ thống dự kiến cho trong tiêu chuẩn này và việc sử dụng theo cách này sẽ không được viện dẫn là "kiểm tra theo tiêu chuẩn TCVN 7790-5 (ISO 2859-5)". Khi sử dụng theo cách này, tiêu chuẩn này chỉ đơn thuần trình bày một bộ các phương án riêng lẻ được xác định theo chỉ số AQL. Các đường đặc trưng hiệu quả và các biện pháp khác của phương án được chọn cũng phải được đánh giá riêng cho phương án lấy từ các bảng đã cho trong TCVN 7790-1 (ISO 2859-1).

14. Các bảng

Bảng 1 trong 11.1 cần được sử dụng để xác định chữ mã cỡ mẫu.

Phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra thường được cho trong Bảng A.1, A.2 và A.3 trong Phụ lục A.

Phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra ngặt được cho trong Bảng B.1, B.2 và B.3 trong Phụ lục B.

Phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra giảm được cho trong Bảng C.1, C.2 và C.3 trong Phụ lục C.
PHỤ LỤC A

(Qui định)

PHƯƠNG ÁN LẤY MẪU ĐỂ KIỂM TRA THƯỜNG

Phụ lục này đưa ra các bảng phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra thường.

Bảng A.1 phải được sử dụng khi AQL được xác định theo phần trăm không phù hợp và tổng số cá thể được kiểm tra không vượt quá 315.

Bảng A.2 phải được sử dụng khi AQL được xác định theo phần trăm không phù hợp trên 100 cá thể và tổng số cá thể được kiểm tra không vượt quá 315.

Bảng A.3 phải được sử dụng khi AQL được xác định theo phần trăm không phù hợp hoặc phần trăm không phù hợp trên 100 cá thể. Tổng số cá thể được kiểm tra có thể vượt quá 315.

Bảng A.1 - Thông số và giá trị rút ngắn đối với phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra thường, phần trăm không phù hợp (Bảng tổng thể)



Bảng A.2 - Thông số và giá trị rút ngắn đối với phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra thường, số lượng không phù hợp trên 100 cá thể (Bảng tổng thể)



Bảng A.3 - Thông số và giá trị rút ngắn đối với phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra thường, phần trăm không phù hợp và số lượng không phù hợp trên 100 cá thể (Bảng tổng thể)



PHỤ LỤC B

(Qui định)

PHƯƠNG ÁN LẤY MẪU ĐỂ KIỂM TRA NGẶT

Phụ lục này đưa các bảng phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra ngặt.

Bảng B.1 phải được sử dụng khi AQL được xác định theo phần trăm không phù hợp và tổng số các thể được kiểm tra không vượt quá 315.

Bảng B.2 phải được sử dụng khi AQL được xác định theo phần trăm không phù hợp trên 100 cá thể và tổng số cá thể được kiểm tra không vượt quá 315.

Bảng B.3 phải được sử dụng khi AQL được xác định theo phần trăm không phù hợp hoặc phần trăm không phù hợp trên 100 cá thể. Tổng số cá thể được kiểm tra có thể vượt quá 315.

Bảng B.1 - Thông số và giá trị rút ngắn đối với phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra ngặt, phần trăm không phù hợp (Bảng tổng thể)



Bảng B.2 - Thông số và giá trị rút ngắn đối với phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra ngặt, số lượng không phù hợp trên 100 cá thể (Bảng tổng thể)



Bảng B.3 - Thông số và giá trị rút ngắn đối với phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra ngặt, phần trăm không phù hợp và số lượng không phù hợp trên 100 cá thể (Bảng tổng thể)



PHỤ LỤC C

(Qui định)

PHƯƠNG ÁN LẤY MẪU ĐỂ KIỂM TRA GIẢM

Phụ lục này đưa ra các bảng phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra giảm.

Bảng C.1 phải được sử dụng khi AQL được xác định theo phần trăm không phù hợp và tổng số cá thể được kiểm tra không vượt quá 315.

Bảng C.2 phải được sử dụng khi AQL được xác định theo phần trăm không phù hợp trên 100 cá thể và tổng số cá thể được kiểm tra không vượt quá 315.

Bảng C.3 phải được sử dụng khi AQL được xác định theo phần trăm không phù hợp hoặc phần trăm không phù hợp trên 100 cá thể. Tổng số cá thể được kiểm tra không vượt quá 315.

Bảng C.1 - Thông số và giá trị rút ngắn đối với phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra giảm, phần trăm không phù hợp (Bảng tổng thể)



Bảng C.2 - Thông số và giá trị rút ngắn đối với phương án lấy mẫu liên tiếp để kiểm tra giảm, số lượng không phù hợp trên 100 cá thể (Bảng tổng thể)


1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương