MỞ ĐẦu tính cấp thiết của đề tài



tải về 0.69 Mb.
trang5/7
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.69 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

Nguồn LD


413.900

432.600

438.962

451.663

487.096

Llg LD

330.827

348.997

355.820

370.978

386.487

Có vlàm

311.143

330.675

337.424

351.836

367.761

Tỉ lệ thất nghiệp (%)

5,95

5,25

5,17

5,16

5,05

LD theo trình độ

330.827

348.997

355.820

370.978

386.478

CNKT

36.000

60.000

66.667

79.760

97.000

Trung học

16.000

20.000

23.333

26.154

29.027

CD,ĐH

29.700

40.000

42.667

41.179

56.048

Khác

250.127

228.997

223.153

223.885

204.412

Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2005.

Với con số thống kê trên, chúng ta thấy rằng nguồn lao động tại Đà Nẵng là khá dồi dào, trong đó lao động có trình độ từ công nhân kỹ thuật đến trung cấp, cao đẳng và đại học chiếm tỉ lệ xấp xỉ 37%. Điều đó thể hiện một tiềm năng về lao động có trình độ cao ở Đà Nẵng. Tuy nhiên tỉ lệ lao động không có việc làm còn nhiều, trong đó đáng chú ý là lực lượng lao động trong độ tuổi không có việc làm. Đây là một sức ép lớn về mặt xã hội mà chỉ có loại hình thu hút lao động cao như ngành dịch vụ nói chung trong đó có dịch vụ du lịch, mới có thể góp phần giải quyết được.

Thực tế trong những năm qua, cùng với các ngành dịch vụ khác trên toàn thành phố, ngành du lịch đã thu hút một lực lượng đông đảo lao động vào hoạt động trong ngành. Trước hết, như đã phân tích ở trên, đặc thù về lao động của ngành là khá đa dạng và cũng hết sức linh hoạt, nó cho phép công tác đào tạo tuyển dụng lao động tiến hành một cách thường xuyên và rộng rãi khi hoạt động dịch vụ phục vụ chuẩn bị diễn ra, đồng thời trong quá trình sử dụng vẫn có thể đào thải, chuyển đổi và lại tiếp tục đào tạo tuyển dụng mới cho phù hợp. Thứ hai, nhờ sự phát triển của các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua khá mạnh mẽ với tốc độ cao. Do đó, đã thu hút đông đảo lực lượng lao động nhàn rỗi chưa có việc làm của thành phố vào phục vụ dịch vụ.

Chúng ta sẽ thấy điều này được thể hiện rất rõ ở bề mặt hoạt động sầm uất của hàng trăm khách sạn, nhà hàng mọc lên trên thành phố cùng với tốc độ đô thị hoá nhanh chóng của Đà Nẵng (xem bảng 2.11)



Bảng 2.11: Số lao động phục vụ trong ngành dịch vụ Du lịch

Chỉ tiêu

2000

2002

2003

2004

2005

Số hộ KD TM-DL (hộ)

12.220

14.113

15.120

16.872

17.478

Trg đó KS,NHàng

3.967

5.575

5.768

5.793

6.491

Số LĐ trong ngành TM-DV

13.787 ng

18.018

19.838

19.249

22.875

Trg đó KS,NH

5.955 ng

9.007

9.451

8.633

12.138

Tỉ lệ (%)

43

49

47

44

53

Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2005

Bảng 2.11 trên cho thấy: những năm vừa qua số lượng các khách sạn nhà hàng tăng lên nhanh chóng, chỉ trong giai đoạn từ 2001 đến 2005 đã tăng gần gấp 1,63 lần, từ 3967 cơ sở lên 6491 cơ sở, chiếm tới 37% trong tổng số các cơ sở kinh doanh ngành thương mại dịch vụ nói chung trong toàn thành phố.

Nhưng đáng kể hơn là mức độ thu hút lao động của khối kinh doanh đặc biệt này. Biểu thống kê trên chứng minh cho đánh giá về khả năng giải quyết bức xúc xã hội trong vấn đề tạo công ăn việc làm cho người lao động, của ngành dịch vụ, một khi nó được tổ chức và quản lý tốt. Mức độ đó thể hiện ở con số hơn 12.000 lao động mà ngành thu hút vào các cơ sở kinh doanh; bình quân một cơ sở có thể giải quyết được 187 lao động /năm (2005). Đó là con số rất có ý nghĩa về mặt lao động - xã hội.

Tốc độ tăng của số lao động được vào làm việc tại các cơ sở kinh doanh từ 2001 đến 2005 đạt con số trên 2 lần (từ 5.955 người lên 12.138 người) cũng cho thấy tính chất đa dạng về nghiệp vụ và sự linh hoạt trong tuyển dụng lao động của ngành, tạo cho người lao động và nhà tuyển dụng lao động có sự chọn lựa và luân chuyển khi cần thiết. Điều này có được là nhờ vào tính chất thời vụ, tính chất đa ngành và tính chất xã hội hoá cao của ngành du lịch, nó cho phép các chủ khách sạn, nhà hàng vận dụng trong quá trình quản lý và vận hành bộ máy các cơ sở kinh doanh dịch vụ của mình.

Có thể so sánh ý nghĩa này ở một góc độ khác, đó là so với các ngành dịch vụ như vận chuyển, bưu điện, y tế... trên địa bàn, chúng ta càng thấy rõ xu hướng chuyển dịch lao động xã hội vào phục vụ ngành dịch vụ du lịch hay nói cách khác: đó là sức hút về nhân lực của ngành (bảng 2.12).

Bảng 2.12: So sánh lao động phục vụ trong ngành du lịch với
các ngành dịch vụ khác


Đơn vị tính: người

67% 78% 88% 66% 93,6% 8.833 12.029 14.313 12.832 19.482 2.683 3.115 3.664 3.750 3.843 1.520 1.630 1.530 1.549 10.716 11.209 15.214 15.412
DL/Các DV

DV Du lịch

DV ytế

DV Bđiện


2000

2002

2003

2004

2005

10.398

DV vận tải





























































































Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2005.

Theo biểu trên, dịch vụ vận tải mà chúng ta nghiên cứu bao gồm cả vận tải hàng hoá, vận tải hành khách, bốc xếp và dịch vụ vận tải (các hãng taxi vận chuyển đường biển, đường sông, đường sắt).

Làm phép so sánh với sự tăng trưởng nhanh chóng của lao động tham gia trong ngành dịch vụ du lịch ta thấy rằng: so với toàn bộ lao động đang tham gia trong các ngành dịch vụ tại Đà Nẵng, thì lao động tham gia trong ngành dịch vụ du lịch chiếm tới 93.6% trên tổng số lao động của cả ba ngành vận tải, bưu điện và y tế cộng lại. Và chỉ tính riêng trong giai đoạn từ 2001 đến 2005, tỉ trọng ấy đã tăng từ 67% lên đến 93,6% (từ 8.333/13.081 lao động năm 2001 đến 19.482/20.804 lao động năm 2005).

Sở dĩ chúng ta dừng lại phân tích sâu ở khả năng giải quyết lao động của ngành dịch vụ du lịch là nhằm nêu bật ý nghĩa chính trị - xã hội của việc thu hút lao động của ngành. Ngoài ra, điều đó còn giúp chúng ta có thêm nhận định về một xu thế phát triển hợp lý của sản xuất xã hội nói chung: đó là trong một thực thể kinh tế như kinh tế ở thành phố Đà Nẵng, lực lượng sản xuất ra của cải vật chất mà cụ thể là dịch vụ du lịch (so với số các ngành gián tiếp khác) càng lớn thì cái gốc của sự phát triển càng vững bền. Chúng ta không phủ nhận sự đóng góp lớn lao của các ngành dịch vụ khác vào GDP của thành phố, nhưng rõ ràng với những lợi thế so sánh và tiềm năng của ngành du lịch tại Đà Nẵng cho phép khẳng định điều này. Và trên thực tế chỉ đạo hoạt động kinh tế hướng tới sự phát triển với tốc độ cao trong những năm đến, lãnh đạo địa phương đã có nhận thức rõ và thể hiện quyết tâm thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới: Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp, từ nay đến năm 2010.



2.2.1.2. Nguyên nhân của những kết quả nêu trên

Trong những năm qua, nhờ có sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp, sự vận động tích cực của Ngành và đặc biệt nhờ chủ trương của Đảng và Nhà nước được chính quyền địa phương triển khai một cách rộng rãi trong việc khuyến khích xã hội hoá nhanh chóng nhằm phát huy nội lực toàn dân hướng vào hoạt động dịch vụ du lịch, làm cho bộ mặt đô thị Đà Nẵng có bước chuyển nhanh chóng, và hoạt động của dịch vụ du lịch cũng từng bước phát triển, góp phần vào bức tranh chung của kinh tế thành phố Đà Nẵng thêm khởi sắc.

Đồng thời, tuy còn bộn bề khó khăn về vốn cho đầu tư phát triển, nhưng thành phố đã có sự chú ý đầu tư cơ sở vật chất cho ngành du lịch; cho phép xây dựng một số khu điểm du lịch, cơ sở lưu trú bằng nhiều hình thức thu hút vốn đầu tư liên doanh liên kết hoặc trực tiếp cấp vốn cho đầu tư. Có thể minh họa bằng việc hình thành các cơ sở kinh doanh dịch vụ mới như khách sạn du lịch Đà Nẵng, khu khách sạn 5 sao Furama, khu du lịch Bà Nà -Suối Mơ, khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, khu Sandy Beach tương đương 4 sao, Bảo tàng Chăm, Công viên văn hoá du lịch Đà Nẵng với 9 tiểu dự án chức năng mà Công viên nước Đà Nẵng là tiểu dự án triển khai đầu tiên vào năm 2001.

Thành phố cũng đã tập trung phần lớn sự chỉ đạo cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chỉnh trang đô thị, đặc biệt là các tuyến đường giao thông dẫn đến các khu, điểm du lịch như tuyến đường Nguyễn Tất Thành nối trung tâm thành phố với bãi biển Thanh Bình - khu du lịch Xuân Thiều - khu du lịch Suối Lương và Khu du lịch sinh thái phía Nam Hầm đèo Hải Vân. Hoặc tuyến đường Sơn Trà - Điện Ngọc nối vệt du lịch từ Khu sinh thái Sơn Trà (với Bãi Bụt, Bãi Rạng) đến bãi biển Mỹ Khê - Khu du lịch Furama kéo dài đến Quần thể Làng nghề và du lịch sinh thái, khách sạn du lịch Sandy Beach thuộc Ngũ Hành Sơn.

Về tổ chức, UBND thành phố đã có những chỉ đạo về việc tăng cường cán bộ chủ chốt cho Sở Du lịch, đồng thời yêu cầu ngành tiến hành rà soát lại đội ngũ cán bộ công nhân viên trong toàn ngành để đảm đương được nhiệm vụ.

Bên cạnh đó về phía ngành cũng đã có những động thái tích cực nhằm thực hiện nhiêm vụ được giao như tham gia công tác quy hoạch và triển khai các dự án đầu tư tạo thêm sản phẩm dịch vụ mới, cải thiện chất lượng dịch vụ lưu trú, đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá du lịch bằng nhiều hình thức, phối hợp với các ngành chức năng làm tốt công tác bảo đảm môi trường du lịch, tổ chức các lớp đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác kinh doanh và quản lý hoạt động du lịch.

Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đã đạt được, ngành du lịch dịch vụ còn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế cần sớm có những biện pháp tháo gỡ và khắc phục mới có thể phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng xứng với tiềm năng, lợi thế của mình và thực hiện có hiệu quả mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã giao cho ngành trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

2.2.2. Những hạn chế và vấn đề đang đặt ra

2.2.2.1. Về thực hiện mục tiêu và tốc độ tăng trưởng

Một số chỉ tiêu kế hoạch đề ra chưa thực hiện được, như tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm phải đạt từ 16-17%/năm, nhưng chỉ đạt được 12,5%. Hoặc chỉ tiêu đón khách đến năm 2005 là 850.000 lượt khách nhưng mới chỉ đón được 710.000 lượt và mức doanh thu đặt ra phải đạt con số 650 tỷ VND năm 2005 cũng mới chỉ đạt 410 tỷ VND.

Trong xu thế khách du lịch đến với nước ta ngày càng đông bởi sự thu hút của thị trường du lịch và sự ổn định về chính trị xã hội của Việt Nam so với khu vực và trên thế giới, chưa kể tới việc phát triển tương đối đồng bộ của hai điểm du lịch là Huế và Hội An (Quảng Nam) hết sức sôi động trong những năm gần đây, với kết quả luôn vượt mức tăng trưởng 22-25%, thậm chí 27%-28% như thành phố Hồ Chí Minh thì việc không đạt mức tăng trưởng ở con số khiêm tốn nêu trên của Đà Nẵng là vấn đề mà các nhà quản lý du lịch trên địa bàn phải nghiêm túc suy nghĩ.

Thông qua một vài chỉ tiêu dưới đây chúng ta có thể thấy được phần nào sự tụt hậu của du lịch Đà Nẵng trong thời gian qua, so với Quảng Nam, Khánh Hoà và thành phố Hồ Chí Minh.



Bảng 2.13: Số khách quốc tế do ngành du lịch, các tỉnh và thành phố
đón từ 2001 đến 06 tháng
đầu năm 2006

Đơn vị tính: người

Chỉ tiêu

2001

2002

2003

2004

2005

6thg2006

TCDL

2.330.800

2.628.200

2.429.000

2.900.000

3.430.000

1.846.500

TpHCM

1.226.400

1.433.000

1.302.000

1.580.000

2.000.000

1.200.000

Khánh Hoà

141.650

194.993

183.471

210.150

248.578

133.802

Quảng Nam










508.857

712.529

360.000

TpDN

194.670

214.137

174.453

236.459

240.000

123.079
1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương