Nghiên cứu vai trò CỦa siêU Âm trong chẩN ĐOÁn và tiên lưỢng các trưỜng hợp dọa sẩy thai ở quý I thai kỳ



tải về 145.68 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu02.06.2018
Kích145.68 Kb.


NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ TIÊN LƯỢNG CÁC TRƯỜNG HỢP DỌA SẨY THAI Ở QUÝ I THAI KỲ

Đinh Khánh Dung, Lê Minh Tâm

Trường Đại học Y Dược Huế

TÓM TẮT

Giới thiệu: Sẩy thai là một vấn đề thường gặp và có ảnh hưởng lớn đến tâm lý và tình cảm của người phụ nữ. Ở Việt Nam, sẩy thai là bệnh lý sản phụ khoa khá phổ biến hiện nay, tỷ lệ khoảng 15-20%. Ngày nay, siêu âm đã và đang có vị trí đáng kể trong lĩnh vực sản phụ khoa đặc biệt trong chẩn đoán sàng lọc những bất thường trước sinh. Nghiên cứu này được thực hiện với 2 mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh siêu âm ở các trường hợp dọa sẩy thai trong quý I thai kỳ và tìm hiểu một số yếu tố liên quan giữa kết quả siêu âm trong dọa sẩy thai và diễn biến thai kỳ.

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 52 thai phụ mang thai dưới 12 tuần có triệu chứng dọa sẩy thai đến khám và điều trị tại khoa Phụ Sản, Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế được siêu âm lúc vào và ra viện để đánh giá tình trạng thai. Xử lý số liệu bằng Excel 2007 và Medcalc.

Kết quả: Tuổi thai chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 6-9 tuần (40,1%), có bóc tách màng đệm 50%, tỷ lệ bóc tách màng đệm lúc vào viện từ 20-50% chiếm cao nhất (61,5%) và lúc ra viện dưới 20% có tỷ lệ cao nhất là 76,92%. Bờ túi thai không đều, móp méo chiếm 38,5%. Có sự thay đổi túi noãn hoàng 33,3%. Nhịp tim thai chậm 31,0%. Chiều dài cổ tử cung ngắn 13,5%. Tỷ lệ thai sẩy sau điều trị 44,2%. Tuổi thai dưới 6 tuần có tỷ lệ sẩy thai cao nhất (80%). Tỷ lệ bóc tách màng đệm từ 20-50% có tỷ lệ sẩy thai cao nhất (37,5%). Có sự liên quan giữa tuổi thai, bờ túi thai và diễn biến của thai kỳ. Có sự liên quan giữa tuổi thai và hình ảnh bóc tách màng đệm.

Kết luận: Siêu âm là một phương pháp hữu ích, tiện dụng, chi phí thấp, không ảnh hưởng đến thai và có thể tiến hành được nhiều lần. Siêu âm giúp đánh giá tình trạng túi thai và cổ tử cung trong những trường hợp dọa sẩy và cung cấp một số yếu tố liên quan đến tiên lượng diễn biến của thai kỳ.

I.ĐẶT VẤN ĐỀ

Sẩy thai là một vấn đề thường gặp và có ảnh hưởng lớn đến tâm lý và tình cảm của người phụ nữ. Với xu hướng có con muộn, và bà mẹ ngày càng lớn tuổi, sẩy thai xuất hiện ngày càng nhiều hơn. Ở Việt Nam, sẩy thai là bệnh lý sản phụ khoa khá phổ biến hiện nay, tỷ lệ khoảng 15-20% [2], [5], so với những nghiên cứu trên thế giới tỷ lệ sẩy thai khoảng 11-15%. Trong đó hơn 80% trường hợp sẩy thai trước 12 tuần vô kinh. Sẩy thai là khi thai được tống xuất ra khỏi buồng tử cung trước 20 tuần vô kinh (hay khi trọng lượng thai dưới 500g), khi thai chưa có khả năng tự sống được [2]. Ở giai đoạn doạ sẩy thai, thai còn sống, chưa bị bong khỏi niêm mạc tử cung. Chẩn đoán và điều trị sớm tiên lượng sẽ tốt, có khả năng giữ được thai [2], [5].

Trong vài thập niên gần đây, siêu âm đã và đang có vị trí đáng kể trong lĩnh vực sản phụ khoa đặc biệt trong chẩn đoán sàng lọc những bất thường trước sinh. Ngoài ra, siêu âm còn giúp phát hiện những bất thường khác xảy ra trong quá trình mang thai như thai ngừng phát triển trong tử cung, thai trứng, thai ngoài tử cung...[9]. Việc chẩn đoán sớm rất có ý nghĩa trong thái độ xử trí và siêu âm là một phương tiện rất hứu ích vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Nghiên cứu vai trò của siêu âm trong chẩn đoán và tiên lượng các trường hợp dọa sẩy thai ở quý I thai kỳ” với 2 mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh siêu âm ở các trường hợp dọa sẩy thai trong quý I thai kỳ và tìm hiểu một số yếu tố liên quan giữa kết quả siêu âm trong dọa sẩy thai và diễn biến thai kỳ.



II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu gồm 52 thai phụ có triệu chứng dọa sẩy trên lâm sàng vào khám và điều trị tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 8/2012 đến tháng 6/2013. Dùng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Thai phụ vào viện được làm siêu âm đường bụng bằng máy siêu âm Samsung Medison R5 với đầu dò tần số 3.5MHz và 7.5MHz ngay lúc vào và kiểm tra lại khi ra viện. Qua siêu âm ghi nhận các hình ảnh của túi thai, tuổi thai, túi noãn hoàng, hoạt động tim thai, hoàng thể, tình trạng bóc tách màng đệm, tình trạng cổ tử cung. Xử lý số liệu bằng Excel 2007 và phần mềm Medcalc.



III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

1. Đặc điểm hình ảnh siêu âm

Bảng 1: Tuổi thai qua siêu âm

Tuổi thai (tuần)

n

%

<6

16

30,8

6-9

25

48,1

> 9

11

21,1

Tổng

52

100

Theo Ngô Thị Thanh Thảo, tuổi thai từ 6 đến 8 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất là 40,3%[1]. Theo Meharunnisa Khaskheli và cộng sự, tuổi thai dưới 8 tuần có tỷ lệ 57,39%, tuổi thai từ 8 đến 12 tuần có tỷ lệ 42,6% [6]. Theo Margreet Wieringa-de Waard và cộng sự, tuổi thai từ 8 đến 12 tuần có tỷ lệ cao nhất là 38,5%, tuổi thai dưới 8 tuần có tỷ lệ 36,5% [14].

Kết quả của chúng tôi so với các tác giả khác có sự tương đồng là tuổi thai được tính theo siêu âm dưới 8 hoặc 9 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất. Khi tuổi thai càng nhỏ, sự phát triển của thai trong lòng tử cung chưa được sự ổn định thì nguy dọa sẩy và sẩy càng cao.



Bảng 2: Hình ảnh bờ túi thai

Bờ túi thai

n

%

Tròn, đều

32

61,5

Móp méo

20

38,5

Tổng

52

100

Khi túi thai không còn hình ảnh bờ đều, thay vào đó là hình ảnh méo mó, không đều chứng tỏ thai đang có sự bất thường đặc biệt trong những tháng đầu tiên nguy cơ dọa sẩy hoặc sẩy. Lúc này cần kết hợp lâm sàng thai phụ cùng các xét nghiệm khác để chẩn đoán chính xác tình hình thai hiện tại và có hướng điều trị thích hợp có thể giữ thai phát triển bình thường trở lại.

Bảng 3: Các đặc điểm của túi thai

Đặc điểm



Không

n

%

n

%

Bóc tách màng đệm

26

50

26

50

Túi noãn hoàng

39

75

13

25

Phôi thai

36

69,2

16

30,8

Tim thai

29

55,8

23

44,2

Hoàng thể

21

40,4

31

59,6


Biểu đồ 1: Tỷ lệ bóc tách màng đệm

Theo Ngô Thị Thanh Thảo, tỷ lệ bóc tách màng đệm trung bình chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 24,6% [1].

Theo Sandor Nagy và cộng sự, bóc tách màng đệm nhỏ (<20%) có tỷ lệ 41%, bóc tách màng đệm trung bình (từ 20-50%) có tỷ lệ 45%, bóc tách màng đệm lớn (>50%) có tỷ lệ ít nhất là 14% [8].

Bóc tách màng đệm là trường hợp phôi thai bị bong một phần khỏi thành tử cung ở vùng màng rụng đáy thì ở giữa thành tử cung và phôi thai sẽ xuất hiện các khoảng trống âm, chính là sự tích tụ của máu, khi bong nhiều kích thước của phôi sẽ giảm và phôi sẽ bị chết, tiêu đi [2]. Như vậy tình trạng bóc tách càng nhiều thì nguy cơ tiến triển đến sẩy thai càng cao. Theo Raj Mohan Paspulati và cộng sự, có khoảng 20% thai phụ dọa sẩy thai có hình ảnh bóc tách màng đệm[9].

Bảng 4: Thay đổi túi noãn hoàng



Túi noãn hoàng

n

%

Thay đổi hình dạng

4

30,8

Tăng kích thước

6

46,1

Giảm kích thước

3

23,1

Tổng

13

100

Theo Sanam Moradan và cộng sự, tỷ lệ túi thai có hình ảnh túi noãn hoàng bất thường là 11,51% trong đó túi noãn hoàng kích thước lớn có tỷ lệ 50%, thay đổi hình dạng túi noãn hoàng có tỷ lệ 18,18%. Kết quả của chúng tôi có hình ảnh túi noãn hoàng thay đổi có cao hơn so với tác giả nhưng những đặc điểm thay đổi của túi noãn hoàng có kết quả khá tương đồng[7]. Theo Sinan Tan và cộng sự, kích thước của túi noãn hoàng nhỏ (<2mm) hoặc lơn (>8mm) so với bình thường có sự liên quan đến những hậu quả bất lợi ảnh hưởng đến thai [12], [13].

Bảng 5: Thay đổi cổ tử cung



Chiều dài cổ tử cung

n

%

Ngắn

7

13,5

Bình thường

41

78,8

Dài

4

7,7

Tổng

52

100

Khi thai phụ mang thai ở quý I thai kỳ, kích thước của tử cung vẫn chưa đủ lớn và chưa thành lập đoạn dưới, do đó ít khi có sự thay đổi về chiều dài cổ tử cung. Sự thay đổi cổ tử cung trong quý I thai kỳ ảnh hưởng đến thai kỳ có liên quan với tình trạng ra máu âm đạo. Theo Devon M và cộng sự, khi chiều dài cổ tử cung ngắn dưới 25mm, nguy cơ dọa sẩy ở thai phụ không có ra máu âm đạo là 25%, trong khi đó, đối với thai phụ có kèm theo ra máu âm đạo thì nguy cơ dọa sẩy lên đến 40% [4], [10].

Bảng 6: Kết quả sau điều trị



Tình trạng thai

n

%

Ổn định

29

55,8

Sẩy

23

44,2

Tổng

52

100

Theo Ngô Thị Thu Thảo, tỷ lệ thai phụ bị sẩy thai hoàn toàn sau quá trình nhập viện điều trị là 14,5% [1]. Theo Dongol A và cộng sự, tỷ lệ thai sẩy sau vào viện điều trị là 17,1% [5].

Như vậy, so với những tác giả khác thì tỷ lệ thai phụ bị sẩy thai hoàn toàn sau điều trị của chúng tôi cao hơn. Có thể do không phát hiện những triệu chứng bất thường trong giai đoạn đầu của thời kỳ thai nghén và vào viện điều trị kịp thời nên tỷ lệ sẩy của thai phụ của chúng tôi khá cao. Trong nghiên cứu này còn có hạn chế là kết quả lúc thai phụ ra viện còn tùy thuộc quá trình điều trị của thai phụ sau khi vào viện, cơ địa thai phụ và sự chăm sóc, nghỉ ngơi. Nhưng nghiên cứu này ghi nhận một số hình ảnh tình trạng túi thai trên siêu âm để góp phần hướng đến lâm sàng có định hướng trong điều trị lẫn chế độ nghỉ ngơi thích hợp cho thai phụ để thai có thể phát triển lại với tình trạng ổn định.



2. Một số yếu tố liên quan giữa hình ảnh siêu âm và diễn biến thai kỳ

Bảng 7: Liên quan giữa tuổi thai và diễn biến thai kỳ



Sẩy
Tuổi thai



Không

Tổng

p= 0,0012

n

%

n

%

< 6 tuần

13

80,0

3

20,0

16

6-9 tuần

8

34,6

17

65,4

25

>9 tuần

2

18,2

9

81,8

11

Tổng

23

29




Theo các nghiên cứu khác trên thế giới, tuổi thai càng nhỏ thì tỷ lệ sẩy càng cao, đa số thai sẩy là dưới 8 tuần. Tuổi thai từ 10 đến 12 tuần đã ổn định, nguy cơ sẩy ít hơn hẳn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với những nghiên cứu này [11].

Bảng 8: Liên quan giữa tuổi thai và bóc tách màng đệm



Bóc tách

Tuổi thai



Không

Tổng

p= 0,0110

n

%

n

%

< 6 tuần

3

20,0

13

80,0

16

6-9 tuần

16

64,0

9

36,0

25

>9 tuần

7

63,6

4

36,4

11

Tổng

26

26




Khi tuổi thai càng nhỏ (dưới 6 tuần) thì việc xác định tình trạng bóc tách màng đệm không rõ ràng và thiếu chính xác, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm người làm siêu âm. Khi tuổi thai lớn hơn (khoảng trên 8 tuần), khi đó quan sát rõ ràng hơn và không bị các yếu tố khác gây nhiễu. Theo Sa´ndor Nagy và cộng sự, tuổi thai trung bình có hình ảnh bóc tách màng đệm là 9,8 tuần [8].

Bảng 9: Liên quan giữa hình ảnh bờ túi thai và diến biến thai kỳ



Sẩy

Túi thai

méo mó



Không

Tổng

p=0,0001

n

%

n

%



16

80,0

4

20,0

20

Không

7

21,9

25

78,1

32

Tổng

23

29




Hình ảnh túi thai không còn căng tròn đều là dấu hiệu đầu tiên dễ nhận thấy qua siêu âm cho thấy thai có sự bất thường, kết hợp các xét nghiệm khác sẽ có kết quả chính xác, đây là 1 yếu tố gợi ý có giá tri, điều trị ổn định thai có thể tiếp tục phát triển.

Bảng 10: Liên quang giữa hình ảnh hoàng thể và diến biến thai kỳ






Sẩy

Hoàng thể



Không

Tổng

p=0,0311

n

%

n

%



5

23,8

16

76,2

29

Không

18

58,1

13

41,9

23

Tổng

23

29




Hoàng thể thai nghén là nơi chế tiết hormon Progesteron để nuôi dưỡng thai chủ yếu trong quý I của thai kỳ, khi không thấy sự hiện diện của hoảng thể, lượng progesteron bị thiếu hụt có thể ảnh hưởng đến quá trình phát triển của thai và dẫn đến nguy cơ sẩy thai. Do đó, thai diễn tiến sẩy trên những trường hợp không ghi nhận thấy hoàng thể chiếm tỷ lệ khá cao trong nghiên cứu của chúng tôi khá hợp lý. Có thể tiến hành nhiều nghiên cứu cụ thể về sự biến đổi hormon thai nghén để cho kết quả rõ ràng hơn giữa những yếu tố này [3].

Tỷ lệ bóc tách dưới 20% có tỷ lệ thai ổn định là 88,89% cao hơn so với thai sẩy là 11,11%. Tỷ lệ bóc tách từ 20-50% cũng có tỷ lệ thai ổn định là 62,5% cao hơn so với thai sẩy là 37,5%. Theo Dongol A và cộng sự, diện bóc tách lớn có tỷ lệ sẩy thai cao nhất là 50%, diện bóc tách nhỏ có tỷ lệ sẩy thai thấp nhất là 14,3% [5].

Hình ảnh túi noãn hoàng có sự thay đổi và thai diễn tiến sẩy chiếm tỷ lệ 69,2% cao hơn so với thai có sự thay đổi túi noãn hoàng nhưng thai vẫn ổn định có tỷ lệ là 30,8%. Số trường hợp túi thai có nhịp tim thai giảm và diễn tiến thai sẩy chiếm tỷ lệ là 44,4% gần tương đương so với túi thai có nhịp tim thai giảm và thai ổn định có tỷ lệ 55,6%. Số trường hợp túi thai có nhịp tim thai tăng và diễn tiến thai sẩy chiếm tỷ lệ là 20%, thấp hơn nhiều so với túi thai có nhịp tim thai tăng và thai ổn định có tỷ lệ đến 80%. Tình trạng chiều dài cổ tử cung ngắn hơn bình thường có tỷ lệ thai sẩy chiếm tỷ lệ cao là 71,4%. Thai phụ có triệu chứng lâm sàng đau bụng, ra máu âm đạo kèm hình ảnh bóc tách màng đệm trên siêu âm có tỷ lệ sẩy thai cao nhất là 35,7% so với các nhóm đặc điểm khác. Tuy nhiên những mối liên quan này không có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu của chúng tôi.

IV. KẾT LUẬN

Siêu âm là một phương pháp hữu ích, tiện dụng, chi phí thấp, không ảnh hưởng đến thai và có thể tiến hành được nhiều lần. Hình ảnh siêu âm giúp đánh giá tình trạng túi thai và cổ tử cung trong những trường hợp dọa sẩy, đồng thời gợi ý đến một số yếu tố liên quan đến tiên lượng diễn biến của thai kỳ.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ngô Thị Thanh Thảo (2008), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị dọa sẩy thai 3 tháng đầu bằng Progesteron”, Luận văn Thạc sỹ y học, trường Đại học Y Dược Huế.

  2. Ben-Haroush A., Yogev Y., Mashiach R. et al(2003),” Pregnancy Outcome of Threatened Abortion with Subchorionic Hematoma: Possible Benefit of Bed-Rest?”, IMAJ, 5, pp422±424

  3. Condous G., Khalid A., Okaro E., Bourne T. (2004), “Should we be examining the ovaries in pregnancy?Prevalence and natural history of adnexal pathology detected at first-trimester sonography”, Ultrasound Obstet Gynecol, 24, pp62–66.

  4. Conoscenti G., Meir Y.J., D’ottavio G. et al (2003), “Does cervical length at 13–15 weeks’ gestation predict preterm delivery in an unselected population?”, Ultrasound Obstet Gynecol, 21, pp128–134.

  5. Dongol A., Mool S., Tiwari P. (2011), “Outcome of Pregnancy Complicated by Threatened Abortion”, Kathmandu Univ Med J, 33(1), pp41-4.

  6. Khaskheli M., Baloch S. and Baloch A.S. (2010), “Risk Factors in Early Pregnancy Complications”, Journal of the College of Physicians and Surgeons Pakistan, Vol. 20 (11): pp744-747.

  7. Moradan S., Forouzeshfar M. (2012), “Are Abnormal Yolk Sac Characteristics Important Factors in Abortion Rates?”, International Journal of Fertility and Sterility, Vol 6, No 2, pp127-130

  8. Nagy S., Bush M., Stone J. et al (2003), “Clinical Significance of Subchorionic and Retroplacental Hematomas Detected in the First Trimester of Pregnancy”, Obstet Gynecol, 102, pp94 –100.

  9. Paspulati R.M., Bhatt S., Nour S. (2004), “Sonographic evaluation of first-trimester bleeding”, Radiol Clin N Am, 42, pp 297– 314.

  10. Ramaeker D.M., Simhan H.N. (2012), “Sonographic cervical length, vaginal bleeding, and the risk of preterm birth”, Am J Obstet Gynecol, 206, 224, pp1-4.

  11. Sugiura-Ogasawara M., Ozaki Y., Kitaori T. et al (2009), “Live Birth Rate According to Maternal Age and Previous Number of Recurrent Miscarriages”, American Journal of Reproductive Immunology, 62, pp314–319.

  12. Tan S., I·pek A., Pektas M.K. et al (2011), “Irregular Yolk Sac Shape: Is It Really Associated With an Increased Risk of Spontaneous Abortion?”, J Ultrasound Med, 30, pp31–36.

  13. Tan S., Pektas M.K., Arslan H. (2012), “Sonographic Evaluation of the Yolk Sac”, J Ultrasound Med, 31, pp87–95.

  14. Wieringa-de Waard M., Bonsel G.J., Ankum W.M. et al (2002), “Threatened miscarriage in general practice:diagnostic value of history taking and physical examination”, British Journal of General Practice, 52, pp825-829.




: UploadFiles -> TinTuc -> 2014
2014 -> QUẢn lý nuôi trồng thủy sản dựa vào cộng đỒNG
2014 -> Nghị định số 60/2003/NĐ-cp ngày 6/6/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước
2014 -> ĐƠn vị CẤp trên cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
2014 -> THỦ TƯỚng chính phủ Số: 1072
2014 -> Ủy ban nhân dân tỉnh thừa thiên huế
2014 -> VÀ ĐỊnh hưỚng đẾn năM 2020 I. ĐÁnh giá KẾt quả thực hiện qui hoạch giáo dục và ĐÀo tạo giai đOẠN 2008 2013
2014 -> Các cơ quan: Văn phòng HĐnd và ubnd, Tư pháp, Tài chính- kế hoạch, Công thương, Nông nghiệp và ptnt, Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất
2014 -> ĐÁnh giá TÌnh trạng chăm sóc sức khoẻ CÁc bà MẸ trưỚc và sau sinh tại các xã miền núi huyện phong đIỀn ths. Bs. Nguyễn Mậu Duyên. Ths. Bs. Nguyễn Nhật Nam
2014 -> BỘ giáo dục và ĐÀo tạo cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
2014 -> TỈnh thừa thiên huế




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương