NỘi dung giới thiệu về nhà sản xuất daavlin usa



tải về 82.28 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu24.07.2016
Kích82.28 Kb.
NỘI DUNG
Giới thiệu về nhà sản xuất DAAVLIN USA

Thông tin về các hệ thống điều trị:

3 Series SP/PC – Smart Touch

3 Series X-Flex Dosimestry

T 500x Targeted Phototherapy

SPECTRA 300 Series

UV 2001 Control

THERAFLEX 300 Series

Các đặc điểm nổi bật của SPECTRA 300 & THERAFLEX Series

UV Series

7/2 Series

M Series Hand/ Foot Series

Các phụ kiện

UV Meters

UVA-1

Ultraviolet Phototherapy (Phép điều trị bằng ánh sáng tử ngoại)

Điều trị

Integrating Dosimetry (Đo liều lượng hợp nhất)

Skin Typing (Phân loại da)

MED/MPD Testing (kiểm tra MED=Minimum Erythema Dose và MPD= Minimum Photosensitive dose)
Eye protection (Bảo vệ mắt)

Treatment Protocols (Bảng kế hoạch điều trị bao gồm liều lượng và số lần điều trị được hoạch định)

Phototherapy chart

UVA Protocols

BB UVB Protocols

NB UVB Protocols

Time Charts

So sánh với các đối thủ cạnh tranh

3 Series

UV Series và 7/2 Series

Cảnh báo

Đặc điểm kỹ thuật về điện và phần thông khí/ sách hướng dẫn sử dụng

Các chứng chỉ CE/ISO

Bảng giá


LỊCH SỬ VỀ CÔNG TY DAAVLIN

Công ty Daavlin được thành lập vào ngày 1 tháng 10 năm 1981 tại bang Ohio của Hoa Kỳ. Các thiết bị y khoa của Daavlin chuyên về phototherapy (điều trị da bằng ánh sáng). Các thiết bị này phát ra ánh sáng cực tím và đặc biệt hiệu quả trong điều trị các bệnh về da như Psoriasis (bệnh vẩy nến) và Vitiligo (bệnh đốm bạch tạng). Daavlin rất vinh dự là nhà tiên phong trong lĩnh vực này, Daavlin là nhà sản xuất đầu tiên nghiên cứu sáng chế và đưa ra thị trường máy điều trị ở vùng tay và chân. Daavlin cũng là nhà sản xuất đầu tiên nghiên cứu và ứng dụng hệ thống đo lường năng lượng điều trị được thiết kế vào các hệ thống điều trị, giúp các bác sỹ da liễu có thể chỉ định liều ánh sáng đúng và đáng tin cậy trong quá trình điều trị. Vào năm 1993 hệ thống có kiểm soát UV2001 được thiết kế và đưa vào sử dụng. Hệ thống độc đáo này có khả năng lưu trữ dữ liệu bệnh nhân, kiểm soát chặc chẽ quá trình điều trị, ngăn ngừa điều trị quá liều. Với sự nổ lực trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, đến nay Daavlin được xem là nhà sản xuất và cung cấp hàng đầu trên thế giới các thiết bị điều trị bàng ánh sáng tử ngoại


THÔNG TIN VỀ CÁC HỆ THỐNG ĐIỀU TRỊ CỦA DAAVLIN
Các thiết bị của Daavlin được chia làm 5 nhóm chính:

  • 3 Series, SPECTRA 300 Series, THERAFLEX 300 Series, và các hệ thống điều trị toàn thân UV Series

  • T 500x máy điều trị các đốm riêng biệt

  • M Series: các thiết bị điều trị ở vùng tay và chân

  • 7 Series và 2 Series: các hệ thống được thiết kế dạng panô

  • DermaPal: dạng điều trị cầm tay

Thêm vào đó, Daavlin cung cấp các phụ kiện khác như kính đeo bảo vệ mắt, các loại đèn điều trị với kích cỡ khác nhau, máy đo MED/MPD, và đo UV



DẠNG 3 SERIES SP/PC
Model 3 Series S điều trị toàn thân là các hệ thống mới nhất với mức độ kiểm soát tinh vi nhất trong tất cả các thiết bị điều trị toàn thân. Smart TouchTM là hệ thống kiểm soát. Model này được cung cấp chủ yếu cho các bệnh viện, trung tâm da liễu, trường đại học y khoa, các phòng khám da liễu …tóm tắt sơ lược về mỗi model trong nhóm sản phẩm 3 Series như sau:
3 Series SP/PC 311-48

Là dạng máy được bán nhiều nhất, có thiết kế như một phòng thu thanh, bên trong có 48 đèn Narrow Band UVB (đèn UVB dãy hẹp).Từ S là đại diện cho SmartTouch, 311 đại diện cho UVB dãy hẹp và 48 đại diện cho số bong đèn trong máy.


3 Series SP/PC 311-24

Tương tự như model trên nhưng chỉ có 24 bóng đèn


3 Series SP/PC 311/350

Model này có sự kết hợp của UVB dãy hẹp và UVA. Số 311 và 350 theo thứ tự đại diện cho 24 đèn UVB dãy hẹp có công suất cao và 24 đèn UVA có công suất cao.


HỆ THỐNG KIỂM SOÁT SMART TOUCH
Hệ thống này được đưa vào thị trường từ năm 2003 và được sử dụng như là bộ phận kiểm soát cho các model trong nhóm 3 Series. Thiết bị này được xem như thế hệ thứ hai so với các hệ thống được kiểm soát bằng máy tính. Hệ thống này được thiết kế làm tăng tính dễ dàng sử dụng, cho phép tính linh động và tăng độ an toàn cho bệnh nhân.

CÁC ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA CÁC THIẾT BỊ NHÓM 3 SERIES SP/PC

  • Thiết kế hiện đại, kỹ thuật cao, công nghệ điều trị bằng ánh sáng của thế kỹ 21. Mặt ngoài của buồng điều trị được thiết kế dạng nhám chống trầy xước, dễ làm vệ sinh và đặc biệt là rất bền bỉ qua thời gian. Mỗi buồng điều trị có một móc treo quần áo, hộp bảo quản kính bảo vệ mắt, mắt kính, các dung dịch điều trị cần thiết, một ngăn để bảo quản dữ liệu điều trị bệnh nhân, sách hướng dẫn sử dụng và bảo trì máy

  • Thiết kế với 2 cửa mở rất phù hợp với các phòng khám có chu vi hạn hẹp, bên trong được thiết kế đủ lớn để tạo sự thoải mái cho ngay cả các bệnh nhân có kích thước to.

  • Hai quạt được lắp đặt phía trên buồng điều trị tạo ra sự di chuyển không khí với tốc độ 200 cu.ft mỗi phút. Bệnh nhân có thể mở hay tắt quạt để tạo sự thoải mái trong quá trình điều trị.

  • Các thiết bị 3 Series vẫn giữ lại thiết kế buồng mở phía trên trần nhằm mục đích lưu thông khí và tạo cảm giác thoải mái cho một số bệnh nhân sợ cảm giác bị giam giữ.

  • Một cửa sổ quan sát riêng biệt cho phép người điều trị theo dõi bệnh nhân mà không ảnh hưởng đến bệnh nhân.

  • Hệ thống hướng dẫn bằng âm thanh cài đặt của Daavlin. Bác sỹ có thể chọn giọng nói nam hay nữ và một trong các ngôn ngữ Anh văn, Tây Ban Nha, Đức, Ả rập, và Thổ Nhĩ kỳ. Chế độ này có thể cài đặt khác nhau cho từng bệnh nhân.

  • Hệ thống sẽ báo cho bệnh nhân biết thời gian điều trị ước tính và đếm theo chiều hướng giảm dần.

  • Thiết bị được cài đặt chương trình qua một màn hình cảm ứng rất dễ dàng sử dụng

  • Bộ nhớ của thiết bị có thể lưu trữ dữ liệu của rất nhiều bệnh nhân.

  • Các chương trình điều trị mẫu (Treatment protocols) đã được cài đặt sẵn trong máy

  • Một hệ thống trách nhiệm giải trình được cài đặt sẵn. Điều này cho phép người điều trị quyết định ai là người được phép điều chỉnh các protocols hoặc kế hoạch điều trị và ai đủ điều kiện để giám sát việc trị liệu. Một mật mã PIN của người sử dụng cho phép truy cập các dữ liệu của bệnh nhân.

  • Các thay đổi về liều điều trị của bệnh nhân có thể được thực hiện nhanh chóng

  • Thiết bị có một hệ thống theo dõi và báo cáo một cách rất tinh vi. Ngày và thời gian điều trị của mỗi bệnh nhân, dạng ánh sáng UV sử dụng điều trị, liều điều trị theo đơn vị Joule hay miliJoule, thời gian điều trị thật sự, số PIN của người thực hiện điều trị đều được lưu vào bộ nhớ và truy cập dễ dàng. Bất kỳ sự thay đổi nào về chế độ điều trị của bệnh nhân đều được lưu vào. Thiết bị cũng có khả năng cho ra các nhận xét về các ghi nhận của bệnh nhân.

  • Máy in được cài đặt để in ra kết quả theo yêu cầu

  • Thiết bị cũng được cài đặt bộ phận đo liều lượng điều trị cho bệnh nhân


ULTRAVIOLET PHOTOTHERAPY
Việc đo lường chính xác sự phát ra ánh sáng tử ngoại nhằm mục đích quyết định liều điều trị cho bệnh nhân là một trong những yếu tố rất quan trọng trong điều trị bằng ánh sáng UV. Sử dụng hoặc là hệ thống “Integrating dosimetry” hoặc một dụng cụ đo cằm tay, đây là phương tiện để xác định lượng thời gian cần thiết cho một quá trình điều trị với một liều điều trị xác định.
Chúng ta sẽ bàn bạc về các thuật ngữ quan trọng có liên quan đến việc đo lường liều điều trị cũng như phương pháp điều trị.
Joules: joule là đơn vị đo lường của ánh sáng UVA và, trong một vài trường hợp sử dụng cho ánh sáng UVB dãy hẹp. Một đơn vị năng lượng được tạo ra theo thời gian và công suất (miliwatts), một joule mặt khác có thể được định nghĩa như 1 miliwatt mỗi 1000 giây (hoặc 16,67 phút) hoặc một năng lượng được xác định chuyên biệt trên một vùng xác định (thường là cm2). Xem phần dưới đây về đơn vị nano mét để giải thích thêm về “năng lượng chuyên biệt được xác định”
Một liều ánh sáng UVA điển hình bắc đầu cho một bệnh nhân có loại da sáng với liều là 1.5 Joules. Thời gian cần thiết để điều trị phụ thuộc vào công suất năng lượng đầu ra (power outpout) của thiết bị. Năng lượng càng cao thì thời gian điều trị càng ngắn.
MiliJoule: mili joule là đơn vị chuẩn được sử dụng trong điều trị bằng ánh sáng UVB. Bởi vì UVB mạnh hơn UVA khoảng 1000 lần về mức độ gây đỏ da. Thuận lợi hơn khi sử dụng một đơn vị liều bằng 1 phần ngàn liều của UVA. Một mili joule có thể được định nghĩa như là 1 miliwatt mỗi giây của một năng lượng được xác định một cách chuyên biệt trên một vùng da nhất định (cm2).
Một điều trị dãy rộng điển hình cho một bệnh nhân có da loại sáng có thể là 40 hoặc 50 mili joules. Nhiều bệnh nhân có thể đạt đến liều 700 hoặc 800 milijoules hoặc thậm chí cao hơn khi sử dụng UVB dãy hẹp
Một điều trị dãy hẹp điển hình cho một bệnh nhân có da loại sáng có thể là 120 hoặc 150 mili joules.
Miliwatt: là đơn vị đo chuẩn được sử dụng để xác định cường độ hoặc năng lượng hoặc số lượng photon ánh sáng được phát ra từ thiết bị điều trị.
Chúng ta phải cẩn thận khi xác định năng lượng chúng ta đang đo. Nếu một máy UVA đang phát ra mức năng lượng 24 miliwatt, đứng về mặt kỹ thuật chúng ta giải thích là máy đang phát ra 24 miliwatt bức xạ ánh sáng UV với bước sóng trong khoảng 320 đến 400 nano mét. Nên nhớ rằng, máy càng phát ra nhiều photon ánh sáng thì thời gian điều trị càng ngắn.
Nanometer: một nano mét là một đơn vị đo lường bằng 1 phần tỉ của 1m. Các đơn vị đo lường khác đôi khi được sử dụng để xác định bước song ánh sáng UV là mili micron và Angstrom (1nm bằng 1 milimicron và 10 Angstrom).
Năng lượng ánh sáng UV bao gồm các photon với bước sóng trong khoảng 200 đến 400 nm. Trong phototherapy chúng ta chỉ quan tâm đến ánh sáng UV có bước sóng chuyên biệt (xem phần định nghĩa về UVA, UVB, và UVC). Khi chúng ta cho liều 5 Joules hoặc 500 miliJoules (ví dụ) chúng ta phải xác định được bước sóng của ánh sáng UV mà Joules hoặc milijoule được bao gồm.
UVA: ánh sáng tử ngoại trong dãy “A” (đôi khi được xem như là “long wave UV” hoặc “black light”) bao gồm các photon ánh sáng có bước sóng trong khoảng 320 đến 400nm. UVA được sử dụng trong phương pháp điều trị PUVA các bệnh Psoriasis (bệnh vẩy nến) và Vitiligo (bệnh đốm bạch tạng) cũng như các bệnh khác về da. Mặc dù các bước sóng này xâm nhập sâu vào trong da, chúng vẫn tương đối nhẹ và chỉ gây bỏng khi sử dụng quá liều. Chúng nằm trong dãy sóng ánh sáng gây ra sự oxi hóa melanin (làm da bị rám nắng).
UVB: ánh sáng tử ngoại trong dãy B bao gồm các photon ánh sáng có bước sóng nằm trong khoảng 290 đến 320 nm. Dãy sóng này được sử dụng trong điều trị bệnh vẩy nến và bệnh ngứa có liên quan đến sự thẩm tách thận.
Các photon trong dãy UVB là nguyên nhân chủ yếu của sự cháy nắng. Người sử dụng máy và bệnh nhân phải cẩn thận khi sử dụng các hệ thống UVB.
UVC: bao gồm các photon trong dãy ánh sáng có bước sóng 100-290nm, thường được sử dụng cho mục đích sát trùng và không hiệu quả trong phototherapy. Daavlin không sản xuất các thiết bị với UVC
Qua tìm hiểu các khái niệm và định nghĩa trên đây, bạn có thể thấy rằng chúng tôi chỉ quan tâm đến mức năng lượng chuyên biệt được xác định một cách cẩn thận

Vì vậy trong sản xuất các thiết bị phototherapy, điều quan trọng là chỉ sử dụng các loại đèn mà phổ ánh sáng được giới hạn trong phạm vi các bước sóng có hiệu quả về mặt lâm sàng (UVA hoặc UVB) và các sensor (bộ phận cảm biến) được sử dụng để nhận biết năng lượng ánh sáng này, bộ phận cảm biến được thiết kế và lắp đặt trong các thiết bị để “nhìn thấy” (để đáp ứng về mặt quang phổ) chỉ với ánh sáng tử ngoại đó. Thực tế chức năng đáp ứng phổ ánh sáng của sensors phải được phù hợp một cách cẩn thận với công suất phổ của đèn.


Phương pháp luận:

Công suất năng lượng của một hệ thống phototherapy phải được đo lường bởi vì nó luôn dao động. Nếu không kiểm soát được công suất và không bù đắp vào sự thay đổi công suất này sẽ dẫn đến sự vô nghĩa về khái niệm liều chính xác cho việc điều trị.


Có nhiều nguyên nhân gây ra sự dao động này:

  • Công suất năng lượng bị giảm theo tuổi thọ của đèn

  • Sự giảm công suất gây ra do sự tích tụ nhiệt của các bóng đèn. Bởi vì các đèn huỳnh quang tích nhiệt đến nhiệt độ hoạt động tối ưu, công suất của chúng sẽ tăng lên. Khi sự tích nhiệt vượt quá nhiệt độ này, khi đó công suất sẽ giảm xuống.

  • Sự dao động của điện thế

  • Sự thay đổi trong việc phân bố phổ của bóng đèn

Có hai cách được sử dụng để cài đặt liều điều trị trong phototherapy. Cách đầu tiên được gọi là điều khiển bằng tay và cách thứ hai gọi là integrating dosimetry.


The manual Method (điều khiển bằng tay):

Trong những ngày đầu tiên của phototherapy, bước đầu tiên trong việc xác định thời gian điều trị là lấy một chỉ số công suất năng lượng sử dụng một radiometer (cái đo bức xạ) hoặc dụng cụ đo năng lượng được trang bị với các thiết bị dò UVA và/hoặc UVB. Kỹ thuật viên sẽ kiểm tra các bóng đèn từ khoảng cách 9-12 inches cho đến khi giá trị cao nhất đọc được. Chỉ số này sau đó được sử dụng để tính toán thời gian điều trị theo công thức như sau:


Time= Joules/cm2 x 16.67

Miliwatts/cm


Đa số các nhà sản xuất cung cấp một bảng liều/công suất để hổ trợ cho việc xác định liều. Bảng liều điều trị hoàn chỉnh có thể tìm thấy trong các bảng protocols
Có một vài khuyết điểm trong cách tính liều như thế này (một số nhà sản xuất hiện vẫn đang sử dụng)

  • Lấy chỉ số là một tiến trình không chính xác. Nhiều kỹ thuật viên không thực hiện nghiêm túc việc lấy chỉ số trước khi điều trị mỗi bệnh nhân hoặc tối thiểu là lấy chỉ số mỗi ngày. Trên thực tế các chỉ số thường chỉ được lấy 1 lần trong tuần hay thậm chí đến cả tháng.

  • Vì tiến trình không chính xác nên chắc chắn có sự dao động. Ví dụ, bộ phận dò có thể được đặt ở một vị trí khác hoặc mỗi kỹ thuật viên có một phương pháp đặt đầu dò khác nhau.

  • Công suất năng lượng của một máy có thể dao động đến 20% qua thời gian. Trong thời tiết hoặc khí hậu nóng, công suất vào buổi chiều của máy có thể thấp hơn một cách đáng kể so với buổi sáng khi mức điện thế cao hơn.

  • Bởi vì có một bảng cần để tư vấn cho mỗi ca điều trị, sự nhầm lẫn có thể xảy ra khi người vận hành đọc nhầm thông số trong bảng và tính toán sai thời gian điều trị.

Do có nhiều nguy cơ tiềm năng trong quản lý phototherapy theo cách này, phương pháp điều khiển bằng tay không ổn định và không nên sử dụng


ĐIỀU TRỊ

Việc điều trị bằng ánh sáng tử ngoại rất hữu ích trong điều trị nhiều bệnh (được liệt kê trong cuối phần này). Tuy nhiên vẩy nến và bạch tạng là hai bệnh về da thường gặp nhất.


Phototherapy của Daavlin sử dụng 3 dạng khác nhau của bức xạ tử ngoại.

UVA/PUVA Phototherapy

Một giáo sư da liễu người Ai cập, giáo sư bác sỹ Abdel Monem El-Mofty có lẽ là người có ảnh hưởng trực tiếp nhất về sự phát triển và đưa vào điều trị hợp chất Psoralen như là một thuốc điều trị. Giáo sư đã chính thức thông báo rằng những công nhân làm việc dọc theo sông Nile, thu hoạch quả của cây ammi majus linn, một cây gai dầu giống như cây được sử dụng làm dây thừng, dường như là có một sự cải thiện tự nhiên đối với bệnh bạch tạng của họ.


Sự phát hiện này dẫn đến sự phân tách tinh thể hoạt chất 8-methoxypsoralen (8-MOP) do công ty dược phẩm Elder đưa ra thị trường với tên hoạt chất là Methoxsalen và tên thương mại là Oxsoralen. 8-MOP là một trong một nhóm các hợp chất Floro Coumarin được nhóm lại với nhau gọi là các hợp chất Psoralen. Năm 1974, khi tài liệu khoa học đầu tiên được xuất bản về hiệu quả của UVA cộng với Oxsoralen trong điều trị bệnh vẩy nến, danh từ PUVA xuất phát từ Psoralen + Ultra Violet A.
Bước kế tiếp trong sự phát triển của phương pháp điều trị PUVA là sự bắc đầu của các điều trị lâm sàng. Nó bao gồm gần 50 trung tâm huấn luyện y khoa hàng đầu ở châu Âu và Mỹ, thực hiện trên 4000 bệnh nhân. Các dữ liệu lâm sàng từ nhiều trung tâm đang được nghiên cứu. Kết quả từng giai đoạn về hiệu quả lâu dài của PUVA vẫn đang được xuất bản.
Cơ chế của phương pháp PUVA là gì? Chưa ai biết rõ, tuy nhiên các nghiên cứu không ngừng có thể giải thích cơ chế của phương pháp PUVA trong tương lai gần. Bởi vì bệnh vẩy nến là một bệnh tróc da được đặc trưng bởi sự sản xuất “quá nhanh chóng” các tế bào da, người ta giả thuyết rằng Psoralen, khi tiếp xúc với bức xạ tử ngoại sẽ “ràng buộc” với DNA để làm chậm hoặc ngăn ngừa sự tăng nhanh của các tế bào.


Trong thực hành, phương pháp PUVA được thực hiện ra sao?

Một khi chẩn đoán bệnh của bệnh nhân được xác nhận và bất kỳ tiến trình điều trị nào trước đây cũng không dẫn đến thành công, bác sỹ sẽ quyết định kế hoạch điều trị cho bệnh nhân trước tiên bằng cách đánh giá tính nhạy cảm của bệnh nhân với ánh sáng tử ngoại, hoặc là đánh giá qua loại da hoặc là làm một test MPD (xem phần phân loại da và MED/MPD).


Khi liều khởi đầu được xác định bác sỹ phải quyết định tần suất điều trị. liều mà bệnh nhân sẽ nhận phụ thuộc vào tần số điều trị mà bác sỹ quyết định. Theo quy luật ngón tay, nếu tần số điều trị mang tính chất tấn công, 11011 ví dụ (Thứ 2,3,5,7) thì liều điều trị tương đối ít tấn công. Ví dụ 1 bệnh nhân có dạng da IV sẽ bắc đầu với liều 3.5 Joules theo chế độ 11011 và 4.5 Joules theo chế độ điều trị 3 lần mỗi tuần. Sự tăng lên xảy ra sau đó cũng mang tính chất tấn công hơn.
Lý do về việc liều nhẹ dần với tần số điều trị tấn công là sự trì hoãn phản ứng nổi ban đỏ của da đối với phép trị liệu PUVA. Dấu hiệu da sạm nắng (chủ yếu gây ra do UVB) là một bằng chứng trong vòng 3-5 giờ và đỉnh điểm của ban đỏ sẽ đạt đến hầu như trong18 giờ. Tuy nhiên với điều trị bằng PUVA, đỉnh điểm xảy ra ban đỏ do một sự quá liều có thể không xuất hiện trong 72 giờ. Vì vậy, với một tần số điều trị tấn công như là 11011, các lần điều trị sau có thể gây bỏng hay không vẫn chưa có bằng chứng cụ thể.
Sau khi liều khởi đầu và tần số điều trị được quyết định, đã có các chế độ điều trị được thiết lập hay protocols để quyết định các lần điều trị sau đó cho bệnh nhân. Các chế độ điều trị này là một phần không thể thiếu của phần mềm trong hệ thống kiểm soát UV2001 của Daavlin.
Bất kỳ bệnh nhân nào điều trị bằng phương pháp Phototherapy cũng có các phản ứng đặc ứng. Một vài bệnh nhân có thể đáp ứng tốt và dung nạp với ánh sáng UV nhưng có thể xảy rả bỏng nhẹ có lẽ do vượt qua ngưỡng xảy ra vết ban đỏ trên da hoặc bệnh nhân nữ có thể đang trải qua giai đoạn thay đổi hócmon trong thời kỳ kinh nguyệt hoặc một bệnh nhân đang sử dụng một loại thuốc gây nhạy cảm với ánh sáng mà chưa báo cáo với bác sỹ da liễu. Phototherapy phải được kiểm soát thật chặc chẽ.
Một chú ý cuối cùng về liều và tần số điều trị. Kinh nghiệm cho thấy rằng điều trị càng tấn công thì hiệu quả càng rõ rệt. Ở Châu âu, nơi ít xảy ra tranh chấp hơn ở Hoa kỳ, chế độ điều trị điển hình của bệnh nhân thường mang tính chất tấn công rất nhiều về cả liều và số lần điều trị. kết quả là tổng số Joules cần thiết để điều trị ít hơn so với Hoa kỳ. Nhưng, như chúng ta đã bàn, có nguy cơ bệnh nhận bị bỏng với chế độ điều trị tấn công và thường rất khó để bệnh nhân tuân theo tần suất điều trị 4 lần/1 tuần trong 4-6 tuần.
Để chuẩn bị cho một điều trị thật sự, bệnh nhân sẽ đưa vào bụng một liều Methoxsalen theo chỉ định của Bác sỹ (thông thường liều dùng là 0.4mg/1kg thể trọng) khoảng 1 đến 1.5 giờ trước khi bắc đầu điều trị, thời gian này cho phép thuốc đạt đến nồng độ đỉnh trong máu.
Trước khi đưa bệnh nhân vào buồng điều trị, các vùng trên cơ thể mà trước đây chưa bao giờ tiếp xúc với ánh sáng UV như là vùng háng hay ngực cần phải được che chắn trong khoảng 1/3 của quá trình điều trị. Việc che chắn nên được đảm bảo thực hiện trong các lần điều trị sau cho đến khi các vùng này có thể dung nạp với các bức xạ UV. Bởi vì có một tỉ lệ cao ung thư biểu mô cơ quan sinh dục đàn ông do tác động kéo dài của PUVA, do vậy bệnh nhân phải luôn luôn được che chắn vùng này như mặc quần ngắn.
Bảo vệ mắt là điều cần thiết cho bệnh nhân trong điều trị bằng PUVA, từ lúc sử dụng thuốc và trong giai đoạn 24 giờ sau đó. Kính bảo vệ mắt phải được đeo khi ở trong buồng điều trị và kính choàng như là kính Solarshield của Daavlin phải được sử dụng khi ở bên ngoài buồng điều trị. Trong thời buổi bệnh AIDS, herpes, viêm gan siêu vi B, chúng tôi đề nghị mỗi bệnh nhân nên sử dụng kính riêng.
Kinh nghiệm cho thấy rằng 80-90% bệnh nhân đã trải qua 20-25 lần điều trị với PUVA sẽ đạt được kết quả làm sạch các thương tổn vẩy nến đến 90-95%.
Vào thời điểm mà đa số các vẩy nến của bệnh nhân được làm sạch, bệnh nhân sẽ tiếp tục một chương trình duy trì. Cho đến nay, mục đích điều trị là làm sạch các thương tổn vẩy nến của bệnh nhân, bây giờ mục tiêu điều trị là giữ cho da sạch bằng cách sử dụng bức xạ UVA liều thấp nhất có thể. Nếu nhìn vào protocols UV2001, chúng ta có thể thấy thời gian điều trị duy trì có thể là 1lần/tháng, 2 lần/tháng, 3 lần/ tháng và 1 lần/tuần. Một số bác sĩ cân nhắc chế độ điều trị duy trì 2 lần mỗi tuần. Thông thường, bác sỹ sẽ bắc đầu cho bệnh nhân với tần số điều trị thấp nhất có thể, 1 lần/ tháng. Nếu, hoặc khi bệnh nhân bắc đầu có xu hướng bệnh xấu đi, tần suất điều trị sẽ được tăng dần cho đến khi bệnh nhân đến điều trị mỗi lần/tuần. Vào thời điểm này, bác sĩ và bệnh nhân có thể quyết định xem bệnh vẩy nến có đang tái phát một cách nhanh chóng và rằng có cần thiết phải trở lại với chế độ điều trị ban đầu để làm sạch các thương tổn vẩy nến.
Broad Band UVB Phototherapy (điều trị bằng phương pháp UVB dãy rộng):

Phương pháp này có lịch sử lâu hơn so với phương pháp PUVA. Vào 1925, BS Goekerman phòng khám Mayo đầu tiên đã sử dụng nguồn bức xạ UVB nhân tạo trong sự kết hợp với hắc ín than thô để điều trị vẩy nến. Việc điều trị sau đó được gọi là phương pháp Goekerman và bệnh nhân thường phải nằm viện để được điều trị.


Bệnh nhân được bao phủ một lớp dầu hắc ín và sau đó được bó lại như vậy trong vài giờ để làm tăng sự thẩm thấu của hắc ín vào trong da. Sau đó bệnh nhân sẽ được lau chùi lớp dầu hắc ín, lau sạch bằng dầu hạt lanh và chiếu ánh sáng bức xạ UVB. Tiến trình này được lặp lại vài lần trong ngày. Thường cần đến 3-4 tuần nằm viện, và một năm có thể cần đến một số lần điều trị.
Rõ ràng, đây là một phương pháp điều trị đắc tiền
Gần đây, phương pháp này được ứng dụng tại các phòng khám điều trị và bệnh nhân không còn phải cam chịu tình trạng bị bao phủ hắc ín. Có một sự tranh cải giữa các nhà nghiên cứu về tác dụng của hắc ín than thô hoặc bất kỳ loại dầu nào có chỉ số khúc xạ tương đương có thể mang lại một tác dụng tương tự. Nhiều nhà khoa học nghĩ rằng tác động hữu ích của các loại dầu này là làm thay đổi chỉ số khúc xạ của da và vì vậy làm tăng sự xâm nhập của bức xạ. Và như vậy tác dụng không phải nằm ở bất kỳ các đặc tính nào khác của dầu hắc ín.
Trong điều trị bằng UVB dãy rộng, các chế độ điều trị protocol tiến triển trong một cách khác hơn so với PUVA. Các protocol được dựa trên MED (liều tối thiểu gây ra ban đỏ) của bệnh nhân với lần điều trị sau đó là phần trăm của lần điều trị trước. Một số bác sĩ không sử dụng miliJoules nhưng chỉ đơn giản là điều trị cho bệnh nhân với một số lần và tăng dần liều.
Bảo vệ mắt trong điều trị với UVB dãy rộng khác với PUVA vì bệnh nhân không phải sử dụng thuốc làm tăng sự nhạy cảm với ánh sáng UV cho nên bệnh nhân không cần thiết phải đeo bất kỳ kính bảo vệ mắt nào trước hoặc sau khi trong buồng điều trị. Với PUVA, bệnh nhân phải đeo kính trong suốt thời gian điều trị.
Ngoài bệnh vẩy nến, có một số bệnh về da có thể được điều trị với bức xạ UV
Narrow Band UVB Phototherapy (Phototherapy UVB dãy hẹp):

Như chúng ta đã đề cập đến trước đây, tất cả các phototherapy đều dựa vào các bức xạ UV có bước sóng được xác định một cách cẩn thận. Tuy nhiên, các dãy sóng ánh sáng này vẫn tương đối rộng. Nếu xem xét Với mục tiêu như trên, Phillips Lighting đã nghiên cứu loại đèn gọi là Tl-01 UVB dãy hẹp, đôi khi được gọi là đèn UVB mềm. Các loại đèn này có khả năng gây bỏng rất thấp vì các bước sóng ngắn đã bị loại. Phillips đã thực hiện các nghiên cứu lâm sàng sử dụng các đèn này và kết quả mang lại rất tốt. Như vậy, UVB dãy hẹp hầu như át hẳn UVB dãy rộng và được xem là phương pháp điều trị được chọn lựa trong điều trị vẩy nến và bạch tạng. Sơ đồ công suất phổ ánh sáng UVA và các đèn UVB dãy rộng được sử dụng trong các thiết bị của Daavlin trước đây, bạn sẽ thấy rằng chúng phát ra ánh sáng trên một dãy rộng.


Sau đó, càng có nhiều nghiên cứu được thực hiện để quyết định một cách chính xác bước sóng bức xạ tử ngoại nào có thể sử dụng để điều trị một cách hiệu quả. Nếu các nhà nghiên cứu có thể chỉ ra một cách chính xác các bước sóng điều trị,khi đó một bóng đèn có thể được chế tạo để phát ra ánh sáng tử ngoại chỉ nằm trong dãy có hiệu quả điều trị và tất cả các bước sóng khác sẽ bị loại ra. Ưu điểm lớn nhất là đạt được kết quả điều trị tối đa với năng lượng sử dụng ít nhất có thể.
Tóm tắt các ưu điểm như sau:

  • Công suất ánh sáng tử ngoại của đèn được giới hạn trong các bước sóng có hiệu quả lâm sàng. Như vậy bệnh nhân không phải tiếp xúc với các tia UV không cần thiết.

  • Bởi vì các đèn này không phát ra ánh sáng tử ngoại trong dãy có khả năng gây ra ban đỏ nhiều nhất, do vậy các đèn này hầu như không gây ra bỏng da mặc dù chúng có thể

  • Các nghiên cứu lâm sàng cho đến nay chỉ định rằng các đèn có hiệu quả tương đương hoặc thậm chí cao hơn các đèn dãy rộng trong điều trị vẩy nến.

  • Các nghiên cứu chỉ định rằng thời gian không cần phải điều trị có thể dài hơn so với đèn UVB dãy rộng.

  • Tối thiếu có một nghiên cứu báo cáo rằng cải hai UVB dãy rộng và hẹp có khả năng sinh ung thư như nhau. Một số nhược điểm đáng kể khi sử dụng UVB dãy hẹp như sau: * điều trị với UVB dãy rộng dựa vào dấu hiệu xuất hiện của vết ban đỏ như là một tín hiệu chính cho sự điều trị thành công. Liều dưới liều gây ban đỏ thường dẫn đến làm sạm da là một ảnh hưởng không tốt trong quá trình điều trị. Bởi vì các tia tử ngoại hiệu quả có thể gây xuất hiện ban đỏ đã bị loại ra trong UVB dãy hẹp, một liều tối thiểu gây ra ban đỏ điển hình của bệnh nhân hầu như cao hơn 4 lần so với UVB dãy rộng. Điều này dẫn đến thời gian điều trị lâu hơn, và điều này chỉ có thể khắc phục bằng cách tăng số bóng đèn dãy hẹp trong một máy.

Model phổ biến nhất của Daavlin là model kết hợp 311/350, có 24 đèn UVA và 24 đèn UVB dãy hẹp. Có nhiều ưu điểm khi sử dụng model kết hợp này:




  • Bác sỹ có thể sử dụng hai phương pháp điều trị quan trọng trong 1 máy

  • Tiết kiệm được diện tích đặt máy trong phòng khám vì đã có cả hai UVA và UVB dãy hẹp

  • Tiết kiệm chi phí đầu tư so với phải mua hai loại tách rời.


INTEGRATING DOSIMETRY

Một hệ thống rất đáng tin cậy trong việc đo công suất của buồng phototherapy là sử dụng phép đo liều lượng được hợp nhất trong máy. Daavlin sử dụng integrating dosimetry trong các thiết bị phototherapy của mình.


Một cách chủ yếu, hệ thống đòi hỏi sử dụng bộ phận cảm ứng được lắp đặt trong thiết bị, bộ phận này theo dõi một cách liên tục năng lượng của đèn. Công suất của các sensor được số hóa và được dẫn vào trong một hệ thống vi tính như là UV2001, tại đây sự tính toán nhanh ánh sáng được thực hiện để quyết định liều chính xác đã được thực hiện cho bệnh nhân hay chưa.
Các hệ thống integrating dosimetry liên tục theo dõi các bóng đèn và ngay lập tức bù đắp cho bất kỳ sự thay đổi công suất nào của đèn, với bất kỳ nguyên nhân nào.
Trong các hệ thống integrating dosimetry chuẩn có một vài nhược điểm. Điều này cũng bao gồm trong hệ thống THERAFLEX 300 Series. Chúng tôi sẽ bàn các nhược điểm này và sau đó mô tả sự khắc phục của Daavlin về các nhược điểm này trong hệ thống UV2001 và hệ thống điều khiển Smart Touch:


  • Một bệnh nhân có thể đặt tay lên sensor, làm cho hệ thống nghĩ rằng công suất năng lượng bị giảm và phản ứng tự nhiên của integrating dosimetry khi đó là tăng thời gian điều trị, như vậy gây ra hiện tượng quá liều. Daavlin giải quyết vấn đề này theo 2 cách: trước tiên chúng tôi lắp đặt sensor sao cho bệnh nhân khó có thể tiếp cận, thứ nhì Smart Touch phát hiện ra một sự giảm công suất nhanh chóng như là bạn sẽ nhìn thấy một trường hợp như thế này, máy sẽ ở tư thế chờ đợi. Sau đó máy cần đến sự can thiệp của người sử dụng (để đảm bảo rằng không có hỏng hóc nào gây ra sự giảm công suất) để tiếp tục.

  • Bởi vì sensor được đặt một cách trực tiếp đằng sau bóng đèn, chúng có thể gây ảnh hưởng cho 1 bóng đèn và làm cho hệ thống hiểu sai rằng năng lượng bị giảm khi trong thực tế chỉ có dây nối bong đèn, bộ sensor đã nhận diện sai.










Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương