Câu 5: Quá trình nhận thức của Đảng để đi đến đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ năm 1975 2000



tải về 47.59 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu05.08.2016
Kích47.59 Kb.
Câu 5: Quá trình nhận thức của Đảng để đi đến đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ năm 1975 - 2000.

BÀI LÀM

Nắm vững ngọn cờ Ðộc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội là bài học kinh nghiệm xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta từ khi có Ðảng, là nguồn gốc thắng lợi của Cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tổng kết kinh nghiệm thành công và cả những kinh nghiệm chưa thành công trong thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta và các nước khác, đặc biệt là những kinh nghiệm của những năm đổi mới, Ðảng ta đã nêu ra những phương hướng cơ bản xây dựng CNXH ở nước ta ngày càng rõ ràng hơn thông qua Nghị quyết qua các kỳ đại hội đặc biệt giai đọan từ năm 1976 đến nay. Trong chặng đường này, nhận thức của Đảng có thể khái quát hóa qua hai giai đọan :



Giai đọan thứ nhất từ năm 1975 đến năm 1985 đây là quá trình Đảng ta tìm tòi thực nghiệm, tích lũy về lượng để đi đến biến đổi về chất trong tư duy nhận thức của Đảng ta.

Khởi đầu từ ĐH IV năm 1976, Đảng ta đã thiết kế mô hình CNXH ở Việt Nam theo mô hình bốn mục tiêu của thời kỳ quá độ, đó là: xây dựng chế độ làm chủ của nhân dân lao động, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Biện pháp để thực hiện mô hình trên thông qua việc : Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng : cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỷ thuật, cách mạng về tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt; Đẩy mạnh CNH XHCN là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên CNXH, chú trọng phát triển CN nặng hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; xây dựng kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong cơ cấu nền kinh tế thống nhất; kết hợp kinh tế đối nội, kinh tế đối ngoại dựa trên cơ sở hợp tác cùng có lợi; kết hợp xây dựng và phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh, quốc phòng. Tất cả nội dung đường lối trên nhằm xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, xác lập quyền làm chủ của nhân dân lao động, củng cố an ninh quốc phòng, đẩy mạnh phát triển kinh tế nhằm xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, góp phần cùng nhân dân thế giới đấu tranh vì hòa bình độc lập dân tộc dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

N
5-2
hư vậy, ĐH IV đã phát họa những nét lớn về CNXH Việt Nam với mô hình bốn “cái mới”. Mô hình này về cơ bản giống mô hình XHCN củ Liên Xô và Trung Quốc, được thực thi trong phe XHCN những năm 1950 – 1970. Trong đó nhấn mạnh tính thuần khiết lý tưởng của CNXH ngay trong thời kỳ quá độ. Từ nhận thức đó chúng ta đã nôn nóng cải tạo XHCN các thành phần kinh tế, nôn nóng xóa bỏ kinh tế thị trường, nóng vội phát triển CN nặng .. trong những năm 1976 – 1986 đưa đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng.

T
5-2


rước tình hình đó, Đảng ta đã sớm nhận thức và có những chỉ đạo kịp thời. Đó là Nghị quyết TW 6 khóa IV (8/1979) đánh dấu sự biến đổi sâu sắc về chất trong tư duy của Đảng ta, đánh dấu bước mở đầu cho quá trình tìm con đường mới đi lên CNXH ở Việt Nam. Lần đầu tiên Đảng đã thừa nhận những khó khăn nghiêm trọng về KT-XH của đất nước : Đời sống nhân dân khó khăn, kinh tế không tăng trưởng, lạm phát phi mã, nhân dân mất niềm tin ở Đảng, chính quyền .. từ đó đưa ra những quyết sách mới là đẩy mạnh phát triển hàng tiêu dùng, xuất khẩu, công nghiệp địa phương, đặc biệt là thừa nhận việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế là khách quan, quan tâm đến yếu tố thị trường, sản xuất hàng hóa. Đồng thời giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích, đặc biệt quan tâm lợi ích chính đáng của người lao động... Trên cơ sở đó, Chính phủ đã có Quyết định 279/CP cho phép các xí nghiệp, đơn vị kinh doanh, khai thác các mặt hàng không do nhà nước quản lý tạo điều kiện mở đường cho sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tạo nhiều sản phẩm cho xã hội.

Đến năm 1981 chỉ thị 100 của Ban Bí thư về khoán sản phẩm đến nhóm người lao động, đây thực sự là một bước đột phá, tạo động lực mạnh mẽ cho sản xuất phát triển. Tiếp đến Chính phủ có quyết định 25-26/CP (tháng 01/1981) cho phép các công ty, các xí nghiệp lập hai kế hoạch: kế hoạch của nhà nước hoạt động theo cơ chế bao cấp, kế hoạch của xí nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường. Đây được xem là bước chuyển chuyển mình tìm hướng đi thích hợp để chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường.

Những nhân tố mới nêu trên tạo điều kiện để Đảng tiếp tục nhận thức con đường lên CNXH ở Việt Nam

Đại hội V (1982) của Đảng một mặt khẳng định tiếp tục phương hướng, mục tiêu do đại hội IV đề ra. Mặt khác căn cứ vào tình hình thực tiễn của đất nước, đại hội có những bổ sung và cụ thể hóa một số nội dung quan trọng trong đường lối cơ bản : Một là khẳng định thời kỳ quá độ là thời kỳ tương đối dài là quá trình đấu tranh xóa bỏ những trì trệ, hậu quả chiến tranh, sản xuất hàng hóa tìm con đường hay mô hình đi lên CNXH phù hợp với điều kiện cụ thể thể của Việt Nam, do đó những vấp váp, những sai lầm là không tránh khỏi. Tuy nhiên, thời kỳ quá độ được Đảng ta xác định dài nhưng không trừu tượng, mà phải trải qua nhiều chặn đường, nhiều giai đọan ta đang ở chặn đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Đây là bước phát triển về chất trong tư duy nhận thức của Đảng ta trong định lượng nhiệm vụ chiến lược. Hai là, khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải đồng thời thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây là hai nhiệm vụ có mối quan hệ mật thiết và đảm bảo cho nhau trong quá trình phát triển và ổn định đất nước.

Về đường lối kinh tế, đại hội V đã cụ thể hóa nội dung công nghiệp hóa của chặng đường trước mắt của thời kỳ quá độ: Tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đồng thời đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp nặng trong một cơ cấu kinh tế hợp lý .. nhằm tạo ra lực lượng sản xuất mới, chuẩn bị tiền đề và lực lượng cho việc đẩy mạnh CNH trong chặng đường tiếp theo.

Trong quá trình chi đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội V, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều quyết định rất quan trọng, giải quyết những vấn đề cấp bách về lưu thông, phân phối, về quản lý kinh tế đặc biệt tổng điều chỉnh giá tiền lương năm 1985.

Như vậy, Đại hội V của Đảng đã dựa trên thực tiển đất nước, đã có bước phát triển trong việc tìm tòi con đường quá độ lên CNXH, bước đầu đã xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH, dđã đánh bại hai cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam và phía bắc. Tuy nhiên trong tư duy lý luận vẫn còn lạc hậu giáo điều chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ của LLSX; chính sách lớn ở tầm vĩ mô còn nhiều khiếm khuyết mà theo nhận định của Đại hội VI là “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”. Bên cạnh đó, thiên tai và hai cuộc chiến tranh biến giới phía bắc và Tây Nam làm cho tình hình kinh tế – xã hội của đất nước rơi vào khủng hỏang trầm trọng, đặt ra vấn đề bức xúc đòi hỏi phải đổi mới tòan diện để tồn tại.

Tóm lại, có thể nói giai đọan 1975-1985 là một chặn đường đầy thử thách. Bên cạnh những thắng lợi giành được, chúng ta đã mắc một số khuyết điểm và sai lầm. Cách mạng nước ta có những nhân tố thuận lợi mới nhưng cũng đang đứng trước nhiều khó khó khăn gay gắt nhưng cốt lõi là mô hình kinh tế mới về cơ bản đã hình thành.

Đại hội VI (12-1986) của Đảng, đây là đại hội đổi mới toàn diện, Đại hội dựa trên cơ sở phân tích sâu sắc cụ thể tình hình quốc tế và trong nước và tổng kết quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội từ 1975 đến 1985 bằng việc nhìn thẳng và nói đúng sự thật. Đảng ta đã rút ra bốn bài học lớn về lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa :

Một là, trong tòan bộ họat động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.

Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.

Ba là, phải biết kết hợp với sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.

Bốn là, phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng XHCN.

ĐH VI đã xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặn đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế – xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH XHCN trong chặn đường tiếp theo.

Khẳng định là ĐH đổi mới tòan diện, nhận thức mới của Đảng đã thể hiện xuyên suốt trong tòan bộ Nghị quyết. Đó là :

Nguyên tắc tiến hành đổi mới là đổi mới toàn diện, sâu sắc bắt đầu từ đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy về kinh tế, đổi mới công tác tổ chức và cán bộ. Tập trung phát triển kinh tế, cải cách chính trị thực hiện từng bước nhằm bảo đảm giữ vững trật tự an ninh, an toàn xã hội phục vụ phát triển kinh tế.

V
5-4


ề kinh tế là: Sử dụng các thành phần kinh tế nhằm giải phóng mọi tiềm năng tồn đọng trong xã hội. Xây dựng kinh tế thị trường với cơ chế một giá. Tập trung đầu tư để thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn: sản xuất lương thực, thực phẩm; sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu. Cải tạo quan hệ sản xuất phải được thực hiện thường xuyên và đảm bảo đúng quy luật.

Về chính trị là cải cách dân chủ phải được thực hiện từng bước và phù hợp với trình độ dân trí dưới sự lãnh đạo của đảng đảm bảo giữ vững trật tự an toàn xã hội. Tiến hành cải cách hệ thống chính trị cả nước trên 3 lĩnh vực trọng tâm: đổi mới phương thức, phong cách lãnh đạo của đảng; cải cách hành chính công để giảm phiền hà đối với dân chúng; đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức dân cử để đảm bảo quyền lợi của người dân.

Trên lĩnh vực ngoại giao chủ trương thực hiện chính sách mở cửa làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị.

Tóm lại, tư tưởng chỉ đạo cốt lỏi của ĐH VI là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi tiềm năng của đất nước và sử dụng hiệu quả sự giúp đở của quốc tế, phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và cũng cố quan hệ sản xuất XHCN.

Trong tổ chức thực hiện Nghị quyết đại hội VI của Đảng. Đảng và Nhà nước vừa tập trung đề ra các chính sách mới, vừa giải quyết những vấn đề kinh tế cấp bách đặc biệt là Nghị quyết 10 năm 1988 của Bộ chính trị về hoàn thiện cơ chế khoán, trong đó lần đầu tiên hộ gia đình được xem là đơn vị kinh tế. Nghị quyết Trung ương 6 khóa 6 năm 1989 đã đề ra những quan điểm và phương hướng chỉ đạo công cuộc đổi mới với những nguyên tắc cơ bản về đổi mới như sau :

Một là, đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà làm cho mục tiêu ấy thực hiện tốt hơn bằng quan niệm đúng đắn, hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp.

Hai là, Đổi mới không phải là xa rời Chủ nghĩa Mác –Lênin mà là vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin và khắc phục những quan niệm không đúng về học thuyết đó.

Ba là, Đổi mới tổ chức và phương thức họat động của hệ thống chính trị phải nhằm tăng cường chứ không phải là làm suy yếu sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản.

Bốn là, Xây dựng nền dân chủ XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng CNXH, song dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ với nhân dân nhưng phải chuyên chính với kẻ địch.

Năm là, kết hợp Chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế XHCN, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Qua thực tiễn 5 năm đổi mới kể từ sau đại hội VI, đại hội VII năm 1991 của Đảng đã có điều kiện xem xét, khẳng định rõ hơn những vấn đề đã được đặt ra từ đại hội VI tiếp tục bổ sung và hoàn thiện nhận thức. Đại hội VII khẳng định quyết tâm không gì lay chuyển nổi của Đảng và nhân dân Việt Nam kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới.

Đại hội VII đã thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Cương lĩnh vạch rõ : Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa; Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ cùng xu hướng quốc tế nền kinh tế thế giới là thời cơ để các nước phát triển có thể phát triển nhanh hơn. Do đó, phải coi trọng sự nghiệp giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; trong quá trình xây dựng CNXH phải phát huy ý chí tự lực tự cường, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại. Đồng thời Cương lĩnh cũng đã xác định mô hình chủ nghĩa xã hội gồm 6 đặc trưng cơ bản là: Xây dựng chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động; kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu; xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng lực và hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc sống trong quốc gia Việt Nam bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau tiến bộ. Thực hiện chính sách làm bạn với nhân dân tất cả các nước trên thế giới. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Để đạt được mục tiêu trên đảng chủ trương phát triển kinh tế, cải cách xã hội đẩy lùi 4 nguy cơ: Tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế so với các nước trong khu vực. Chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí. Nguy cơ diễn biến hòa bình.

Cương lĩnh cũng đã nêu 7 biện pháp chiến lược để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân và quản lý mọi mặt của xã hội một cách hữu hiệu dựa trên cơ sở luật pháp; Phát triển lực lượng sản xuất, thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thông qua cách mạng khoa học công nghệ; Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất; Đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa làm cho thế giới quan Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động; Thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc và chính sách đối ngoại hòa bình hữu nghị hợp tác với tất cả các nước; Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng : xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc tổ quốc xã hội chủ nghĩa; Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức nhằm nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng ngang tầm với nhiệm vụ trong giai đoạn mới.



ĐH VIII : 6-1996

Sau 10 năm đổi mới, Đại hội VIII của Đảng đã tổng kết, đánh giá thành công cũng như thất bại và rút ra những bài học kinh nghiệm. Điểm nổi bật là Đại hội VIII đã khẳng định một số nhận thức về xây dựng cơ chế quản lý mới : Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc XD CNXH; Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta, thị trường theo định hướng XHCN là thể thống nhất với nhiều lực lượng tham gia sản xuất và lưu thông. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế họach, kế họach chủ yếu mang tính định hướng còn thị trường trực tiếp hướng dẫn, lựa chọn lĩnh vực họat động, tổ chức sản xuất và kinh doanh. Do vậy, cơ chế thị trường phải có sự điều tiết ủa Nhà nước, vì thế cần nâng cao quản lý vĩ mô của Nhà nước, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh.

Trên cơ sở đó, Đại hội VIII đã xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam đến năm 2020:” tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước .. từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp”.

Đến Đại hội IX (4-2001) nhận thức con đường đi lên CNXH được Đảng ta bổ sung và hoàn thiện. Đó là :



Thứ nhất, về mục tiêu lý tưởng của Đảng “Độc lập dân tộc gắn liền CNXH” là nguyên tắc, là sự chỉ đạo xuyên suốt tòan bộ đường lối cách mạng nước ta.

Thứ hai, về thời kỳ quá độ báo cáo chính trị đã chỉ ra con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng XHCN nhưng tiếp thu kế thừa những thành tựu của nhân lạoi đặc biệt là khoa học & công nghệ.

Thứ ba, Về mô hình kinh tế tổng quát vẫn xác định “kinh tế thị trường định hướng XHCN” có bổ sung thêm thành phần kinh tế thứ 6 có vốn đầu tư nước ngoài.

Thứ tư, về đấu tranh gia cấp là động lực phát triển đất nước. Trong đó động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đòan kết tòan dân dựa trên cơ sở liên minh giữa giai cấp CN, ND và trí thức do Đảng lãnh đạo.

Thứ năm, về nền tảng tư tưởng : Đại hội đã làm rõ khái niệm và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tóm lại, từ những bài học của cách mạng Việt Nam trong mấy chục năm qua, nhất là những kinh nghiệm thu được trong những năm đổi mới, chúng ta có cơ sở khoa học để tin tưởng rằng: Với chủ nghĩa yêu nước, truyền thống quý báu của dân tộc ta, với tinh thần chủ động sáng tạo, ý chí tự lực tự cường của nhân dân ta, lại có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cách mạng kiên cường, với sự giúp đỡ và hợp tác của bạn bè quốc tế, nhân dân ta có đủ khả năng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội..
: tailieucuaan -> Lich%20su%20Dang
tailieucuaan -> THỦ TƯỚng chính phủ Số: 1001
tailieucuaan -> Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 và Nghị định số 60/2003/NĐ-cp ngày 06/6/2003 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước
tailieucuaan -> Nghị định số 148/2007/NĐ-cp ngày 25/9/2007 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện
Lich%20su%20Dang -> Câu: Quá trình nhận thức của Đảng về cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân 1930-1954
tailieucuaan -> CHÍnh sách ngoại thưƠng của việt nam
tailieucuaan -> Vấn đề 1 : Nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
tailieucuaan -> Third United Nations Conference on the Law of the Sea
tailieucuaan -> Đề Ở một ngành có 3 hãng a b c, chúng cạnh tranh tự do với nhau. Lượng sản phẩm sx ra của các hãng lần lượt là 100,150,200 sản phẩm, với giá trị các biệt tương ứng là : 3, 2




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương