VỤ phổ biếN, giáo dục pháp luậT



tải về 294.36 Kb.
trang1/2
Chuyển đổi dữ liệu02.09.2016
Kích294.36 Kb.
  1   2

BỘ TƯ PHÁP

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT




BỘ CÔNG AN

CỤC PHÁP CHẾ VÀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, TƯ PHÁP





ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU

LUẬT THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM
Luật thi hành tạm giữ, tạm giam (sau đây gọi tắt là Luật) được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015 tại kỳ họp thứ 10; được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 08/12/2015. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

Tạm giữ, tạm giam là biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, do cơ quan, người tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị bắt quả tang, truy nã, khẩn cấp và đối với bị can, bị cáo nhằm cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, hoặc trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử, cản trở việc xác định sự thật của vụ án, hoặc để bảo đảm thi hành án.

Những năm qua, việc thực hiện chế độ tạm giữ, tạm giam đã được tổ chức chặt chẽ, phục vụ có hiệu quả cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ tốt quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Từ năm 1998 đến hết năm 2014, các trại tạm giam, nhà tạm giữ trên toàn quốc đã tiếp nhận, quản lý giam giữ 2.039.012 lượt người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Hiện tại, toàn quốc có 83 trại tạm giam (Công an nhân dân có 70, Quân đội nhân dân có 13), 734 nhà tạm giữ (Công an nhân dân có 700, Quân đội nhân dân có 34) và 224 buồng tạm giữ thuộc các đồn biên phòng ở nơi biên giới, hải đảo xa trung tâm hành chính cấp huyện, đang trực tiếp quản lý giam giữ 47.827 người bị tạm giam, 1.010 người bị tạm giữ.

Tổng kết thực tiễn 16 năm thực hiện Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 98/2002/NĐ-CP ngày 27/11/2002 và Nghị định số 09/2011/NĐ-CP ngày 25/11/2011), bên cạnh thuận lợi và kết quả đã đạt được, việc thực hiện chế độ tạm giữ, tạm giam đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc như: Quy định của pháp luật hiện hành về chế độ quản lý giam giữ đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam chưa cụ thể (đặc biệt là việc thăm gặp thân nhân, người bào chữa của người bị tạm giữ, người bị tạm giam và việc thực hiện các quyền nhân thân của họ nếu không bị hạn chế bởi biện pháp tạm giữ, tạm giam, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tạm giữ, tạm giam…); chế độ ăn, mặc, ở, khám chữa bệnh đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam còn chưa phù hợp với điều kiện thực tế; chưa có quy định về chế độ đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đồng tính hoặc người có khiếm khuyết về giới tính; chưa có quy định cụ thể về việc cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam mang quốc tịch nước ngoài tiếp xúc lãnh sự; việc phân loại giam giữ theo quy định của Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 rất khó để bảo đảm thực hiện được trong thực tế; việc quản lý người bị kết án tử hình gặp nhiều khó khăn do chưa có cơ chế phù hợp; tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý trại tạm giam, nhà tạm giữ được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, còn chưa có sự thống nhất, gây khó khăn cho công tác quản lý, chỉ huy, chỉ đạo; điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài chính chưa đáp ứng yêu cầu thực tế nên hạn chế hiệu quả công tác quản lý giam giữ; đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm công tác quản lý trại tạm giam, nhà tạm giữ hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng v.v…

Mặt khác, tạm giữ, tạm giam là các biện pháp ngăn chặn có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do, dân chủ của cá nhân. Theo khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật. Khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định việc giam, giữ người do luật định. Trong khi, công tác quản lý giam, giữ hiện nay mới chỉ được điều chỉnh bởi các Nghị định của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, ngành (Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam; Nghị định số 98/2002/NĐ-CP ngày 27/11/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam, Nghị định số 09/2011/NĐ-CP ngày 25/11/2011 sửa đổi, bổ sung chế độ ăn và khám, chữa bệnh đối với người bị tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998; Nghị định số 64/2011/NĐ-CP ngày 28/7/2011 của Chính phủ quy định việc thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh và Thông tư số 08/2001/TT-BCA ngày 12/11/2001 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế về tạm giữ, tạm giam).

Vì vậy, việc xây dựng, ban hành Luật trong tình hình hiện nay là cần thiết nhằm tháo gỡ khó khăn, hạn chế, bất cập, bảo đảm hiệu quả công tác quản lý giam giữ phục vụ có hiệu quả cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam và phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính trong tình hình mới.



II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT

Luật được xây dựng trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo sau đây:

1. Quán triệt và thể chế hoá đầy đủ các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước về thực hiện chế độ tạm giữ, tạm giam; đặt trong tổng thể và bảo đảm đồng bộ với quá trình cải cách bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp, cải cách hành chính ở nước ta.

2. Tổng kết đầy đủ và toàn diện các quy định của pháp luật về quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam ở nước ta trong những năm qua; kế thừa các quy định còn phù hợp, khắc phục những tồn tại, bất cập, hạn chế, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam hiện nay và trong những năm tiếp theo.

3. Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; bảo đảm các quy định của Luật có tính khả thi.

4. Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam của một số nước trên thế giới phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam; bảo đảm phù hợp với pháp luật, thông lệ và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.



III. BỐ CỤC VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

1. Bố cục của Luật

Luật thi hành tạm giữ, tạm giam gồm có 11 chương, 73 điều.

Chương I. Quy định chung gồm 09 điều (từ Điều 1 đến Điều 9) quy định phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; nguyên tắc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; kiểm soát hoạt động, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; giám sát việc thực hiện chế độ tạm giữ, tạm giam; những hành vi bị nghiêm cấm; quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam;

Chương II. Hệ thống tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam gồm 06 điều (từ Điều 10 đến Điều 15);

Chương III. Chế độ quản lý giam giữ gồm 11 điều (từ Điều 16 đến Điều 26);

Chương IV. Chế độ của người bị tạm giữ người bị tạm giam gồm 05 điều (từ Điều 27 đến Điều 31);

Chương V. Chế độ đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi gồm 04 điều (từ Điều 32 đến Điều 35);

Chương VI. Chế độ đối với người bị kết án tử hình đang bị tạm giam gồm 02 điều (Điều 36 và Điều 37);

Chương VII. Bảo đảm điều kiện quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam gồm 04 điều (từ Điều 38 đến Điều 41);

Chương VIII. Kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam gồm 02 điều (Điều 42 và Điều 43);

Chương IX. Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam gồm 2 mục với 18 điều (từ Điều 44 đến Điều 61):

Mục 1. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam gồm 12 điều (từ Điều 44 đến Điều 55);

Mục 2. Tố cáo và giải quyết tố cáo trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam gồm 06 điều (từ Điều 56 đến Điều 61).

Chương X. Trách nhiệm trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam gồm 10 điều (từ Điều 62 đến Điều 71);

Chương XI. Điều khoản thi hành gồm 02 điều (Điều 72 và Điều 73).

2. Những nội dung cơ bản của Luật

2.1. Về tên gọi

Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 thì tên gọi của dự án là Luật tạm giữ, tạm giam. Trong quá trình xây dựng dự án Luật, có ý kiến đề nghị lấy tên gọi là Luật tổ chức và thi hành tạm giữ, tạm giam; ý kiến khác lại đề nghị lấy tên gọi là Luật hoạt động tạm giữ, tạm giam hoặc Luật thi hành và quản lý việc tạm giữ, tạm giam. Tuy nhiên, do luật này chỉ quy định về trình tự, thủ tục thi hành và các điều kiện bảo đảm thi hành quyết định tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam, quyết định tạm giam, quyết định gia hạn tạm giam, quyền, nghĩa vụ, chế độ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam và tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam chứ không quy định về thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục ra quyết định tạm giữ, tạm giam (đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự), nên nếu lấy tên gọi là Luật tạm giữ, tạm giam thì không phù hợp với phạm vi điều chỉnh và dễ dẫn đến hiểu luật này điều chỉnh cả thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Hơn nữa, trong Luật thi hành án hình sự, Luật thi hành án dân sự cũng đều có quy định về mô hình, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ sở vật chất của các cơ quan thi hành án. Do đó, sau nhiều lần thảo luận, Quốc hội thống nhất lấy tên gọi là Luật thi hành tạm giữ, tạm giam để bảo đảm phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Luật.



2.2. Về quy định chung

a) Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng (Điều 1, Điều 2)

- Trong quá trình xây dựng Luật, có ý kiến đề nghị phạm vi điều chỉnh của Luật nên bao gồm cả chế độ quản lý tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự và chế độ quản lý tạm giữ hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, qua thảo luận, đa số ý kiến cho rằng tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự và tạm giữ hành chính là hai biện pháp ngăn chặn có tính chất, mức độ khác nhau và chế độ quản lý cũng khác nhau. Do đó, Luật này chỉ quy định về chế độ quản lý tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự, còn chế độ quản lý tạm giữ hành chính nên để cho các văn bản pháp luật chuyên ngành khác điều chỉnh như hiện nay là phù hợp. Bên cạnh đó, cũng có ý kiến đề nghị trong Luật thi hành tạm giữ, tạm giam quy định cả về điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam. Tuy nhiên, những quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam có liên quan trực tiếp đến thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự; thực tiễn thi hành trong thời gian qua cho thấy là phù hợp, do đó, đa số ý kiến đề nghị không quy định trong Luật này. Trên cơ sở thảo luận, Quốc hội quyết định Luật chỉ quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành tạm giữ, tạm giam; tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành tạm giữ, tạm giam; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành tạm giữ, tạm giam.

- Về đối tượng áp dụng, Luật áp dụng đối với người bị tạm giữ, tạm giam; cơ quan người có thẩm quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Viện kiểm sát nhân dân; Tòa án nhân dân; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

b) Về giải thích từ ngữ (Điều 3)

Trong Luật có 08 từ ngữ cần phải được giải thích để hiểu và áp dụng thống nhất bao gồm: Người bị tạm giữ; người bị tạm giam; chế độ tạm giữ, tạm giam; cơ sở giam giữ; trích xuất; danh bản; chỉ bản; thân nhân của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

Người bị tạm giữ là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Người bị tạm giam là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bao gồm bị can; bị cáo, người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án, người bị tạm giam để thực hiện việc dẫn độ.

Chế độ tạm giữ, tạm giam là chế độ quản lý giam giữ người bị tạm giữ, người bị tạm giam và chế độ ăn, ở, mặc, tư trang, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo và tài liệu, gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

Cơ sở giam giữ là nơi tổ chức giam giữ, quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bao gồm trại tạm giam, nhà tạm giữ, buồng tạm giữ thuộc đồn biên phòng.

Trích xuất là việc đưa người bị tạm giữ, người bị tạm giam ra khỏi cơ sở giam giữ trong thời gian nhất định theo lệnh, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền để thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự, khám bệnh, chữa bệnh, thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự, thực hiện quyền, nghĩa vụ khác do luật định.

Danh bản là bản ghi thông tin tóm tắt về lý lịch, nhân dạng, ảnh chụp ba tư thế, in dấu vân hai ngón tay trỏ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam do cơ quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.

Chỉ bản là bản ghi thông tin tóm tắt về lý lịch và in dấu vân tay của tất cả các ngón của người bị tạm giữ, người bị tạm giam do cơ quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.

Thân nhân của người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người có quan hệ ông bà nội, ông bà ngoại; bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, bố mẹ vợ, bố mẹ chồng; vợ, chồng; anh chị em ruột hoặc con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể với người bị tạm giữ, người bị tạm giam; cháu ruột với người bị tạm giữ, người bị tạm giam mà người bị tạm giữ, người bị tạm giam là ông bà nội, ông bà ngoại.

c) Nguyên tắc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam (Điều 4)

Việc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh lệnh, quyết định về tạm giữ, tạm giam, trả tự do của cơ quan, người có thẩm quyền; tổ chức, thực hiện quản lý giam giữ nghiêm ngặt và chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của cơ quan, người có thẩm quyền; bảo đảm nhân đạo; không tra tấn, truy bức, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; bảo đảm cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan; áp dụng các biện pháp quản lý giam giữ phải căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, độ tuổi, giới tính, sức khỏe; bảo đảm bình đẳng giới, quyền, lợi chính đáng của phụ nữ, trẻ em và các đặc điểm nhân thân khác của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

d) Về trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam (Điều 5)

Để công tác quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam được tiến hành thuận lợi, đáp ứng được mục đích, yêu cầu của việc quản lý giam giữ, phục vụ có hiệu quả cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, Điều 5 của Luật đã quy định về trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Theo đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp và thực hiện yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật này trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam.

đ) Về kiểm sát hoạt động quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và giám sát việc thực hiện chế độ tạm giữ, tạm giam (Điều 6, Điều 7)

Việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam do Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát theo quy định của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự; mọi hoạt động của cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan; mọi hoạt động tạm giữ, tạm giam được Quốc hội, Hội đông nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát theo quy định của pháp luật.

e) Về những hành vi bị nghiêm cấm (Điều 8)

Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong quản lý giam giữ và để bảo đảm việc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam tuân thủ đúng quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Điều 8 của Luật đã quy định 07 nhóm hành vi bị nghiêm cấm như sau:

- Nghiêm cấm việc tra tấn, truy bức, dùng nhục hình; các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người hoặc bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam;

- Không chấp hành lệnh, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền về tạm giữ, tạm giam, trả tự do;

- Giam giữ người trái pháp luật; trả tự do trái pháp luật người bị tạm giữ, người bị tạm giam; vi phạm quy định trong quản lý, canh gác, áp giải người bị tạm giữ, người bị tạm giam;

- Cản trở người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền thăm gặp thân nhân, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, tiếp xúc lãnh sự, khiếu nại, tố cáo, quyền con người, quyền và nghĩa vụ khác của công dân theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan;

- Phá hủy cơ sở giam giữ, huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cơ sở giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khỏi nơi giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khi đang bị áp giải; đánh tháo người bị tạm giữ, người bị tạm giam;

- Không chấp hành nội quy của cơ sở giam giữ, chế độ quản lý giam giữ hoặc quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam;

- Thực hiện hoặc tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức, che dấu, ép buộc người khác vi phạm pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; trả thù, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác trong thi hành tạm giữ, tạm giam.

g) Về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam (Điều 9)

Trước đây quy chế tạm giữ, tạm giam chưa quy định rõ ràng, cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam đã nảy sinh nhiều vướng mắc trong thực tiễn thi hành tạm giữ, tạm giam và cũng chưa có cơ sở để bảo đảm tốt hơn quyền của người bị tạm giữ, tạm giam. Để khắc phục vướng mắc, bất cập đó, căn cứ quy định của Hiến pháp năm 2013 về việc bảo đảm hoặc hạn chế quyền con người, quyền, nghĩa vụ của công dân trong các trường hợp cần thiết vì lý do an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, Luật đã đưa nội dung quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam vào phạm vi điều chỉnh của Luật. Tuy nhiên, đây là vấn đề khó về kỹ thuật lập pháp và trong quá trình xây dựng Luật có ý kiến cho rằng Luật chỉ nên quy định các quyền cơ bản của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, còn những quyền đang được điều chỉnh bởi các luật khác thì loại bỏ để bảo đảm tính linh hoạt và tránh trùng lặp. Cũng có ý kiến cho rằng, chỉ nên quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà người bị tạm giữ, người bị tạm giam bị hạn chế, còn các quyền khác không bị hạn chế thì họ đương nhiên được hưởng theo quy định của pháp luật có liên quan. Ý kiến khác lại đề nghị quy định cụ thể trong Luật người bị tạm giữ, người bị tạm giam được hưởng những quyền gì và bị hạn chế những quyền gì; đồng thời tách riêng quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ với quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giam; bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, người bị tạm giam phải khác với quyền của người chấp hành án phạt tù theo đúng tinh thần của Bộ luật tố tụng hình sự.

Qua thảo luận, Quốc hội thấy rằng, quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam hiện nay được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau và đang có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013, như Luật khám, chữa bệnh quy định về việc không cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh cho người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự (trong đó có người bị tạm giữ, người bị tạm giam); Luật việc làm quy định về chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp đối với người đang bị tạm giam; Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân mới bổ sung quy định về quyền bầu cử của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; Luật bảo hiểm xã hội quy định về việc tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người bị tạm giam; Bộ luật dân sự quy định về quyền nhân thân, quyền tài sản của công dân (bao gồm cả người bị tạm giữ, người bị tạm giam)... Do đó, để bảo đảm tính khả thi và tránh trùng lặp, chồng chéo với các đạo luật hiện hành, linh hoạt khi phải sửa đổi, bổ sung, Luật đã quy định cụ thể những quyền cơ bản nhất của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, còn các quyền khác chỉ quy định mang tính nguyên tắc “được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam”, cụ thể như sau:

- Về quyền, người bị tạm giữ, người bị tạm giam được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam, giữ; được thực hiện quyền bầu cử theo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo Luật trưng cầu ý dân; được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu; được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự; được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý; được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự; được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam; được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật; được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật; được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam.

- Về nghĩa vụ, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có nghĩa vụ chấp hành quyết định, yêu cầu, hướng dẫn của cơ quan, người có quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; chấp hành nội quy của cơ sở giam giữ, quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.



2.3. Về hệ thống tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam

Quá trình xây dựng Luật, có ý kiến đề nghị giữ mô hình quản lý nhà tạm giữ, trại tạm giam như hiện nay nhưng có sự tách bạch tương đối độc lập về mặt tổ chức giữa cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam với cơ quan điều tra. Có ý kiến đề nghị giao bốn trại tạm giam thuộc Bộ Công an cho Tổng cục Cảnh sát và Tổng cục An ninh quản lý (hiện nay đang do Cục An ninh điều tra và Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an quản lý) để vừa phục vụ tốt cho hoạt động điều tra, vừa bảo đảm hoạt động độc lập của cơ sở giam giữ với các đơn vị điều tra của Bộ. Có ý kiến đề nghị cần giao các trại tạm giam thuộc Bộ Công an về cho Cơ quan quản lý thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Bộ Công an quản lý. Cũng có ý kiến cho rằng, cần tổ chức lại nhà tạm giữ, trại tạm giam theo hệ thống dọc do Bộ Công an quản lý từ Trung ương tới địa phương để bảo đảm tính độc lập và tính thống nhất về tổ chức, tránh việc cơ quan điều tra có thể lợi dụng việc quản lý để dẫn đến tình trạng bức cung, dùng nhục hình.

Qua khảo sát thực tiễn tại một số nhà tạm giữ, trại tạm giam cho thấy, trại tạm giam, nhà tạm giữ ở các tỉnh, huyện và ở Bộ Công an về cơ bản đã tách khỏi hệ thống Cơ quan điều tra cùng cấp. Kế thừa quy định hiện hành về hệ thống tổ chức của các trại tạm giam, nhà tạm giữ trong Công an nhân dân, trong Quân đội nhân dân và các buồng tạm giữ thuộc Đồn biện phòng, đồng thời, để phù hợp với quy định của Luật thi hành án hình sự, Quốc hội đã quy định về hệ thống tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam thuộc Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, buồng tạm giữ thuộc đồn biên phòng và nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này thành một chương riêng (Chương II), gồm 6 điều luật (từ Điều 10 đến Điều 15), cụ thể như sau:

a) Về hệ thống tổ chức cơ quan quản lý và thi hành tạm giữ, tạm giam (Điều 10, Điều 11)

- Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam trong Công an nhân dân bao gồm:

+ Cơ quan quản lý thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam trong phạm vi cả nước (gọi chung là cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam thuộc Bộ Công an);

+ Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam trong địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam cấp tỉnh);

+ Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam trong địa bàn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam cấp huyện).

- Cơ sở quản lý tạm giữ, tạm giam trong Quân đội nhân dân bao gồm:

+ Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam (gọi là cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng);

+ Cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam đối với trại tạm giam, nhà tạm giữ, khu vực thuộc phạm vi quản lý;

+ Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng cấp tỉnh thực hiện quản lý tạm giữ đối với buồng tạm giữ thuộc đồn biên phòng.

- Cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam bao gồm:

+ Trại tạm giam thuộc Bộ Công an; trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng;

+ Trại tạm giam công an cấp tỉnh; trại tạm giam thuộc quân khu và tương đương (gọi chung là trại tạm giam cấp quân khu);

+ Nhà tạm giữ công an cấp huyện; nhà tạm giữ cơ quan điều tra hình sự khu vực Quân đội nhân dân;

+ Buồng tạm giữ của đồn biên phòng ở hải đảo, biên giới xa trung tâm hành chính cấp huyện.

- Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định thành lập, giải thể, quy mô, thiết kế cơ sở giam giữ, ban hành nội quy cơ sở giam giữ trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân.

b) Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và của nhà tạm giữ, trại tạm giam (Điều 12, Điều 13)

- Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ, quyền hạn như sau: Giúp Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tổ chức triển khai thi hành pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam, quyết định việc điều chuyển người bị tạm giữ, tạm giam giữa các cơ sở giam giữ; thanh tra, kiểm tra về tạm giữ, tạm giam theo thẩm quyền, thực hiện chế độ thống kê báo cáo về thi hành tạm giữ, tạm giam, tổng kết công tác thi hành tạm giữ, tạm giam; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao.

- Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam cấp tỉnh, cấp quân khu có nhiệm vụ, quyền hạn như sau: Giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cấp quân khu quản lý công tác thi hành tạm giữ, tạm giam trên địa bàn; tổ chức thi hành pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; chỉ đạo nghiệp vụ kiểm tra công tác thi hành tạm giữ, tạm giam đối với trại trạm giam, nhà tạm giữ; quyết định điều chuyển người bị tạm giữ, người bị tạm giam giữa các cơ sở giam giữ trong phạm vi tỉnh, quân khu; tranh tra, kiểm tra việc tạm giữ, tạm giam theo thẩm quyền; tổng kết công tác thi hành tạm giữ, tạm giam và thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về công tác tạm giữ, tạm giam theo hướng dẫn của cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

- Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam thuộc Công an cấp huyện, cơ quan điều tra hình sự khu vực trong Quân đội nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn: Giúp trưởng Công an cấp huyện, thủ trưởng Cơ quan điều tra hình sự khu vực quản lý công tác tạm giữ, tạm giam trên địa bàn; chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm tra công tác thi hành tạm giữ, tạm giam đối với nhà tạm giữ; tổng kết công tác thi hành tạm giữ, tạm giam và thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo hướng dẫn của cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam cấp trên; trực tiếp quản lý nhà tạm giữ thuộc Công an cấp huyện, Cơ quan điều tra hình sự khu vực trong Quân đội nhân dân.

- Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn: Chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm tra công tác thi hành tạm giữ đối với buồng tạm giữ của đồn biên phòng; tổng kết công tác thi hành tạm giữ và thực hiện chế độ thống kê, báo cáo.

- Nhà tạm giữ, trại tạm giam có các nhiệm vụ: Tiếp nhận, nhận hồ sơ, lập danh bản, chỉ bản của người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo lệnh, quyết định của người có thẩm quyền được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự hoặc người có quyết định điều chuyển theo quy định của Luật này; thực hiện các biện pháp quản lý, giam giữ người bị tạm giữ, người bị tạm giam; áp dụng các biện pháp bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; bảo đảm cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan; giải quyết kiến nghị theo thẩm quyền hoặc chuyển kháng cáo, khiếu nại, tố cáo, yêu cầu, kiến nghị, đề nghị của người bị tạm giữ, người bị tạm giam đến người hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết; giao người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo lệnh trích xuất, quyết định điều chuyển của người có thẩm quyền; báo cáo cơ quan có thẩm quyền khi có căn cứ cho rằng lệnh, quyết định tạm giữ, tạm giam, trả tự do là trái pháp luật; phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; thông báo bằng văn bản cho cơ quan đang thụ lý vụ án 01 ngày trước khi hết thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ, 05 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, 10 ngày trước khi hết thời hạn gia hạn tạm giam và yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ án giải quyết theo pháp luật; trường hợp hết thời hạn tạm giữ, thời hạn thạm giam, cơ quan đang thụ lý vụ án không giải quyết thì kiến nghị ngay Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam xử lý; trả tự do cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền; thực hiện thống kê, báo cáo về thi hành tạm giữ, tạm giam.

Đối với nhà tạm giữ Công an cấp huyện và trại tạm giam, ngoài nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Khoản 1 Điều 13 của Luật còn có nhiệm vụ, quyền hạn tiếp nhận, quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam có nhiệm vụ, quyền hạn: Tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của nhà tạm giữ, trại tạm giam quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 13 của Luật; quyết định phân loại, tổ chức giam giữ người bị tạm giữ, người bị tạm giam; quyết định kiểm tra, thu giữ, xử lý tài liệu, đồ vật thuộc danh mục cấm; ra lệnh trích xuất để khám, chữa bệnh và phục vị công tác giam giữ; ra lệnh trích xuất hoặc quyết định cho gặp thân nhân, người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp để thực hiện một số quyển, nghĩa vụ do luật định; thực hiện lệnh trích xuất hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho người nước ngoài bị giam giữ, tạm giam tiếp xúc lãnh sự hoặc các tổ chức nhân đạo; tổ chức bảo vệ an toàn cơ sở giam giữ; bảo đảm vệ sinh môi trường; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh; thông báo cho cơ quan y tế nơi gần nhất khi có dịch bệnh xảy ra để phối hợp dập tắt dịch bệnh,

Phó Trưởng nhà tạm giữ, Phó giám thị trại tạm giam có trách nhiệm giúp Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam theo sự phân công hoặc ủy quyền của Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam và chịu trách nhiệm trong phạm vi nhiệm vụ được giao.

- Trưởng nhà tạm giữ, Phó Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam, Phó giám thị trại tạm giam, người thi hành tạm giữ, tạm giam phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình trong việc chấp hành pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; nếu vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

c) Cơ cấu, tổ chức của nhà tạm giữ, trại tạm giam (Điều 14)

- Nhà tạm giữ được tổ chức như sau: Buồng tạm giữ, buồng tạm giam, buồng kỷ luật, buồng quản lý phạm nhân; các công trình phục vụ việc quản lý, giam giữ, hoạt động tố tụng hình sự. Tùy quy mô giam giữ, nhà tạm giữ có thể có các công trình phục vụ sinh hoạt, chăm sóc ý tế, giáo dục người bị tạm giữ, người bị tạm giam, thi hành án phạt tù; có các công trình làm việc, sinh hoạt của hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức công tác tại nhà tạm giữ.

- Trại tạm giam được tổ chức như sau: Trại tạm giam có phân trại tạm giam, khu giam giữ, buồng tạm giam, buồng tạm giữ, buồng giam người chờ chấp hành án phạt tù, buồng giam người bị kết án tử hình, buồng kỷ luật, phân trại quản lý phạm nhân; các công trình phục vụ việc quản lý giam giữ, hoạt động tố tụng, thi hành án phạt tù, các công trình làm việc, sinh hoạt của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức công tác tại trại tạm giam.

- Về tổ chức bộ máy của nhà tạm giữ trong Công an nhân dân gồm có Trưởng nhà tạm giữ, Phó Trưởng nhà tạm giữ, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức làm nhiệm vụ quản giáo, trinh sát, bảo vệ, hỗ trợ tư pháp, tham mưu tổng hợp, hậu cần, kỹ thuật, giáo dục, y tế, hồ sơ. Về tổ chức bộ máy của nhà tạm giữ Cơ quan điều tra hình sự khu vực trong Quân đội nhân dân gồm có Trưởng nhà tạm giữ, Phó trưởng nhà tạm giữ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng làm nhiệm vụ quản giáo, trinh sát, bảo vệ, hỗ trợ tư pháp, tham mưu tổng hợp, hậu cần, kỹ thuật, giáo dục, y tế, hồ sơ.

- Về tổ chức bộ máy của trại tạm giam trong Công an nhân dân gồm có Giám thị, Phó giám thị, Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội trưởng, Trưởng cơ sở y tế; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức và được tổ chức thành các đội, phân trại tạm giam, phân trại quan lý phạm nhân để làm nhiệm vụ quản giáo, trinh sát, bảo vệ, hỗ trợ tư pháp, thi hành án hình sự, tham mưu tổng hợp, hậu cần, kỹ thuật, giáo dục, y tế, hồ sơ. Về tổ chức bộ máy của trại tạm giam trong Quân đội nhân dân gồm có Giám thị, Phó giám thị, Chính trị viên, Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội trưởng, Trưởng cơ sở y tế; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng có thể được tổ chức thành các đội để làm nhiệm vụ quản giáo, trinh sát, bảo vệ, hỗ trợ tư pháp, thi hành án hình sự, tham mưu tổng hợp, hậu cần, kỹ thuật, giáo dục, y tế, hồ sơ.

Luật cũng quy định Giám thị, Phó giám thị, Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội trưởng phải là người có trình độ đại học cảnh sát, đại học an ninh hoặc cử nhân luật trở lên và bảo đảm các tiêu chuẩn khác do Chính phủ quy định.

Về thiết kế buồng tạm giữ, buồng tạm giam trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, Luật quy định buồng tạm giữ, buồng tạm giam phải được thiết kế xây dựng kiên cố, có khóa cửa, có phương tiện kiểm soát an ninh, đủ ánh sáng, bảo đảm sức khỏe của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, vệ sinh môi trường, an toàn phòng cháy, chữa cháy, phù hợp với đặc điểm khí hậu của từng địa phương và yêu cầu công tác quản lý tạm giữ. Luật cũng quy định phòng làm việc của cơ quan, người tiến hành tố tụng, người bào chữa được thiết kế, xây dựng bảo đảm an toàn, đáp ứng yêu cầu điều tra, xử lý vụ án và bào chữa. Đây là quy định mới, tiến bộ của Luật so với quy định của các văn bản pháp luật trước đây nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng bức cung, dùng nhục hình.

d) Về buồng tạm giữ thuộc Đồn biên phòng (Điều 15)

Luật quy định Đồn biên phòng đóng ở vùng sâu, vùng xa có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra được tổ chức buồng tạm giữ để quản lý, thực hiện chế độ tạm giữ đối với người bị tạm giữ theo quyết định của Đồn trưởng đồn biên phòng và của người có thẩm quyền khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Buồng tạm giữ thuộc Đồn biên phòng có Trưởng buồng tạm giữ và chịu sự quản lý trực tiếp của Đồn trưởng đồn biên phòng. Trưởng buồng tạm giữ có các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý người bị tạm giữ như Trưởng nhà tạm giữ theo quy định tại khoản 3 Điều 13 của Luật. Như vậy, không phải tất cả các đồn biên phòng đều có buồng tạm giữ, mà chỉ có đồn biên phòng đóng ở vùng sâu, vùng xa có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự mới được tổ chức buồng tạm giữ để quản lý, thực hiện chế độ tạm giữ đối với người bị tạm giữ theo quyết định của Đồn trưởng đồn biên phòng và của người có thẩm quyền khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

  1   2


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương