Do Thái giáo Đạo Do Thái



tải về 23.47 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu02.09.2016
Kích23.47 Kb.
Do Thái giáo

Đạo Do Thái được chia ra làm hai thời kỳ rõ rệt: thời kỳ đầu được gọi là Đạo Do Thái trước Moises (The Pre-Mosaic Judaism) do Abraham sáng lập khoảng năm 2000 TCN. Thời kỳ sau được gọi là đạo Do Thái của Moises hay là Đạo Mai-sen (The Mosaic Judaism) do Mai-sen canh cải từ đạo Do Thái nguyên thủy của Abraham (năm 1250 TCN) mà ra.

Đối với người Do Thái, Abraham và con trai là Isaac, cùng với cháu nội là Jacob được coi là 3 vị tổ phụ lập quốc và lập đạo Do Thái. Họ gọi chung các vị này là "các thánh tổ phụ" (The Fathers).

Theo Cựu Ước, dòng họ Abraham là những người chăn cừu chuyên nghiệp cha truyền con nối. Sau này, đến đời Vua Salomon, một người cháu của dòng tộc Abraham là Job làm chủ một đàn cừu lên tới 14.000 con. Job cung cấp cho triều đình nhà vua 100 con mỗi ngày. Các chủ nhân thuê nhân công trong đám dân hạ tiện sống cô đơn ở những nơi hoang dã để chăn cừu cho họ. Vũ khí của những công nhân chăn cừu là những cái ná làm bằng da dê dùng để liệng những hòn đá to bằng nắm tay có thể giết người hoặc thú dữ (tương tự như cái ná vua David dùng để giết Goliath trong phim David and Bethsabe). Vũ khí thông thường nhất là một cây gậy dài có đóng đinh sắt ở đầu. Với cái gậy này, các người chăn cừu có thể chống cự các thú dữ ở sa mạc như sói, sư tử, gấu, linh cẩu và sơn cẩu. Thức ăn của họ là olive, chà là, phó mát, sữa và bánh mì. Vì ở sa mạc không mưa nên họ chỉ làm những mái rạ sơ sài để che nắng. Bình thường, họ ngủ ngoài trời bên cạnh bầy cừu, bầy dê của họ. Vì quen sống giữa cảnh thiên nhiên bao la, họ thường nhìn lên trời ngắm trăng sao và hay tưởng tượng đến các vị thiên thần từ trời xuống báo tin này tin nọ. Ba đạo thờ Chúa đều bị ảnh hưởng bởi đời sống của giống dân du mục Do Thái nên trong Kinh Thánh của các đạo này thường nói đến thiên thần báo tin về những điềm lạ sẽ xảy tới. Đặc biệt trong cả 3 đạo này, các vị lãnh đạo tôn giáo thường ví tín đồ của họ như những con chiên (lambs) tức cừu non. Họ thường giết dê hay cừu để làm vật hy sinh tế thờ Thiên Chúa. Sau này, những người Ki Tô Giáo coi Chúa Jesus như một vị hy sinh mạng sống để chuộc tội nhân loại nên ví ngài như một con Chiên của Đức Chúa Trời (The Lamb of God) hoặc gọi ngài là đấng Chăn chiên lành (The Good Shepherd).

Huyền thoại giáng sinh của Jesus cũng là một cảnh sống của dân du mục: Máng cỏ hang lừa, ngôi sao lạ, Jesus sinh ra giữa đêm đông lạnh lẽo được bò lừa kéo đến hà hơi sưởi ấm... Các giám mục hồng y và giáo hoàng mỗi khi làm lễ thường mang một cây gậy mạ vàng tượng trưng cho cây gậy chăn cừu của dân du mục Do Thái thời xưa. Các danh từ giám mục, linh mục hay mục sư đều có ngụ ý "chăn dắt" con chiên. Mối tương quan giữa các tu sĩ lãnh đạo và đám giáo dân là mối tương quan giữa những ông chủ và bầy súc vật vừa non nớt vừa ngu dại như bầy cừu non (chiên). Bổn phận của giáo dân là phải vâng lời các cấp lãnh đạo tinh thần của mình, nếu bất tuân sẽ bị ghép vào tội kiêu ngạo hoặc nặng hơn là "dám phản nghịch cùng Chúa"! Đó là thói quen của các tu sĩ Công Giáo La Mã đối với giáo dân trong những thế kỷ trước. Ngày nay, cách đối xử tuy có bớt xa cách nhưng trong các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam, nhiều giáo dân lớn tuổi vẫn quen với thái độ khúm núm mỗi khi tiếp xúc với các cha cố trẻ tuổi chỉ đáng tuổi con cháu của họ. Cũng như tổng thống Diệm là quốc trưởng một nước vẫn thản nhiên khom lưng cúi xuống hôn tay những Hồng y của Vatican vậy!

Những người du mục Do Thái quen sống trong vùng sa mạc Syro-Arabi có nhiều núi đá. Tự nhiên họ có lòng tôn sùng đặc biệt đối với những cột đá lớn, những đống đá cao hoặc những núi đá. Đối với họ, đá là biểu hiện của sự trường cửu và thiêng liêng. Tâm lý này được thể hiện trong đạo Do Thái và đạo Hồi. Vật thiêng liêng nhất được tôn thờ tại đền thánh Jerusalem là Bia Thánh (Sacred Stone). Nơi linh thiêng nhất của đạo Hồi là thánh địa Mecca ở Saudi Arabia, tại đây một tảng đá đen khổng lồ hình khối được gọi là Ká-Ba, tượng trưng cho Thiên Chúa, được cả thế giới Hồi Giáo ngưỡng mộ. Tảng đá đen Ká-ba được phủ lụa đen. Các người Hồi Giáo từ khắp nơi kéo đến hành hương, ít nhất một lần trong đời, chỉ cốt được chạm tay vào tảng đá này! Những người đàn ông mặc áo dài trắng hoặc đen, đàn bà phủ khăn trùm đầu, tất cả tạo thành những vòng tròn chung quanh tảng đá theo các vạch kẻ sẵn để cầu nguyện. Đoàn hành hương đi vòng quanh tảng đá 7 lần, tượng trưng cho 7 tầng của Thiên đàng. Đến hết vòng 7, họ ôm lấy tảng đá và hôn. Đó là ước vọng cao quí và thiêng liêng nhất trong đời của mọi người Hồi Giáo trên khắp thế giới.

Vị Thiên Chúa mà Abraham, Isaac và Jacob tôn thờ là thần El-Shaddai. Shaddai có nghĩa là đá. Thần El-Shaddai là vị thần của đá (El of the Rock). Khi ca hát để chúc tụng thiên chúa El, họ gọi ngài là Eloa. Dân Sumerians tôn thờ thần El từ khoảng năm 5500 trước Công Nguyên, tức trước khi có đế quốc Babylon. Tiếng Semitic (Do Thái) gọi EL là Elim. Elim là danh từ số ít, Elohim là danh từ số nhiều nhưng lại nghĩa là MỘT (Elohim is one) vì Elohim bao hàm ý nghĩa thần El là vị thần của tất cả mọi sự (The All-God). Thần El là Toàn Thể (The one who is All) gần tương tự như Toàn Năng (The Almighty-The Absolute Power). Thần El là vị thần chân thực của các thần (The one true God of gods) là vị thần được mọi người gọi bằng nhiều tên khác nhau nhưng sự thực chỉ là một (many names of the one true God). Thần El là tổng thể của mọi sự thiêng liêng (The totality of the Divine).



Các công trình nghiên cứu cổ vật đã khai quật được tại Iraq, Palestine và Syria cho thấy đạo thờ một thiên chúa đầu tiên là đạo thờ thần Elohim của Abraham. Abraham là người đầu tiên có ý kiến chỉ thờ một vị thiên chúa duy nhất. Đến đời cháu nội của ông là Jacob, đầu thế kỷ 19 TCN, toàn thể 12 bộ lạc Do Thái dưới sự lãnh đạo của Jacob đã di cư về đồng bằng sông Nil (Ai Cập) và định cư tại đây nhiều thế kỷ. Sau khi thống nhất các bộ lạc Do Thái thành một quốc gia, Jacob đặt tên nước Do Thái là Isra-El để vinh danh thần El. Jacob đã thuyết phục các bộ lạc Do Thái gạt bỏ mọi thần khác mà chỉ tôn thờ thần Elohim dưới hình tượng con bò đực. Thường là tượng bò đực mạ vàng (the gilded bull) hoặc có khi là tượng đúc bằng vàng (the molten bull). Đạo thờ bò của Do Thái kéo dài 750 năm. Đến 1250, đạo này biến thể.



Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương