Ủy ban nhân dân tỉnh đỒng nai



tải về 0.52 Mb.
trang1/5
Chuyển đổi dữ liệu05.08.2016
Kích0.52 Mb.
  1   2   3   4   5

ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI



Số: 4454/KH-UBND


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc





Đồng Nai, ngày 21 tháng 6 năm 2012


KẾ HOẠCH

Hành động về bảo tồn đa dạng và an toàn sinh học trên địa bàn

tỉnh Đồng Nai đến năm 2015, định hướng đến năm 2020




I. KHÁI QUÁT CHUNG

Đồng Nai là một trung tâm đa dạng sinh học phồn thịnh nhất của khu vực Đông Nam Bộ và là tỉnh có những đặc trưng đa dạng sinh học mà ít nơi có được: Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên có sự đa dạng sinh học vào hàng cao nhất Đông Nam Bộ, các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất trong đó chứa đựng nguồn gen phong phú về số lượng, thành phần loài động thực vật, đặc biệt là thành phần loài động thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và trên thế giới khá phong phú. Những khu đất ngập nước khá đặc thù với quần cư các loài chim phổ biến, đặc thù. Các hệ sinh thái tiêu biểu từ các quần xã trên cạn cho đến rừng ngập mặn, hệ sinh thái cửa sông là những khu vực quan trọng trong chiến lược bảo tồn và phát triển về đa dạng sinh học và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ các giống loài động thực vật trước nguy cơ tuyệt chủng. Lãnh đạo tỉnh và các sở, ban, ngành liên quan của Đồng Nai đã sớm nhận ra tầm quan trọng của đa dạng và an toàn sinh học nên đã thực hiện nhiều hoạt động liên quan đến bảo tồn đa dạng và an toàn sinh học. Nhờ vậy mà hiện trạng đa dạng và an toàn sinh học Đồng Nai đã có những chuyển biến tích cực, cụ thể:

1. Về đa dạng sinh học

a) Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học trên cạn

- Vườn Quốc gia Cát Tiên: Nằm trên địa bàn 03 tỉnh Đồng Nai, Bình Phước và Lâm Đồng. Diện tích VQG Cát Tiên bao gồm diện tích vùng trung tâm 71.350 ha (trong đó 40.708,5 ha nằm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai) và vùng đệm có diện tích 251.445 ha.

Tính đa dạng sinh học:

+ Đa dạng về quần xã thực vật: Gồm 05 kiểu rừng chính và 07 kiểu phụ.

+ Đa dạng về loài:

* Về thành phần loài thực vật: Đã xác định được tổng số 1.615 loài trong đó có 35 loài thực vật quý hiếm, 23 loài thực vật đặc hữu, 28 loài thực vật ghi trong danh lục Đỏ IUCN.

* Về thành phần loài động vật: Đã thống kê được tổng số 1.521 loài động vật. Trong đó có 48 loài đặc hữu, 95 loài nguy cấp.

- Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai: Tổng diện tích của KBTTN là 64.761,4 ha. Trong đó bao gồm 59.821 ha rừng đặc dụng và 4.940,4 ha rừng sản xuất. KBTTN - VH Đồng Nai có vị trí hành chính thuộc các huyện Tân Phú, Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Định Quán.

Tính đa dạng sinh học:

+ Đa dạng loài thực vật: Có 1.401 loài thực vật. Trong đó có 30 loài có tên trong sách Đỏ VN, 84 loài đặc hữu của Việt Nam.

+ Đa dạng loài động vật: Ghi nhận tổng số 1.621 loài. Trong đó có 30 loài thú, 21 loài chim, 27 loài bò sát ếch nhái, 08 loài côn trùng quý hiếm.

- Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp La Ngà: Trực thuộc Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam với tổng diện tích khu vực là 27.666 ha.

Tính đa dạng sinh học:

+ Đa dạng về quần xã thực vật: Bao gồm 05 kiểu thảm thực vật (kiểu nửa thường xanh trên đất thấp cây họ Dầu, Bằng lăng; kiểu rừng tre xen gỗ; kiểu rừng tre; kiểu trảng cây bụi; kiểu trảng cỏ).

+ Đa dạng loài thực vật: có 570 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 318 chi thực vật của 97 họ thực vật, trong đó có 08 loài thực vật trong sách đỏ.

+ Đa dạng loài động vật: Đã thống kê được 29 loài thú, 120 loài chim, 37 loài bò sát, 13 loài lưỡng cư và 191 loài bướm.

- Rừng phòng hộ Tân Phú: Có diện tích 12.135,04 ha thuộc xã Gia Canh và Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Tính đa dạng sinh học: Đây là khu vực rừng phòng hộ nhưng vẫn mang trên mình tính đa dạng sinh học. Tuy chưa được nghiên cứu kỹ nhưng theo một số nghiên cứu đã chỉ ra được:

+ Có khoảng 200 loài cây gỗ thuộc 50 họ thực vật.

+ Có khoảng 175 loài chim.

+ Có khoảng 19 loài thú.

+ Có khoảng 84 loài lưỡng cư bò sát.

+ Có khoảng 56 loài cá.

+ Có khoảng 162 loài bướm.

+ Có khoảng 31 loài nhuyễn thể.

- Rừng phòng hộ Xuân Lộc: Rừng phòng hộ Xuân Lộc có diện tích 10.393,78 ha, trong đó rừng trồng chiếm 9.256,01 ha, rừng tự nhiên chiếm 62,33 ha và đất chưa có rừng chiếm 1.019,39 ha thuộc địa giới hành chính 05 xã; Xuân Thành, Xuân Trường, Xuân Hưng, Xuân Tâm và Xuân Hòa thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Đây là khu vực ít nhiều cũng mang tính đa dạng sinh học nhưng chưa được phát hiện.

- Khu Di tích lịch sử - danh thắng núi Chứa Chan: Núi Chứa Chan có diện tích 20.250.000m2 với độ cao 837m tiềm ẩn tính đa dạng sinh học, trong đó, diện tích khu bảo vệ nghiêm ngặt là 500.000m2, diện tích dành cho du lịch sinh thái là 19.750.000m2 (BQL Khu Di tích lịch sử - danh thắng núi Chứa Chan năm 2010). Đây là khu vực tiềm ẩn tính đa dạng sinh học phân bố theo gradiant độ cao.

b) Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học các vùng đất ngập nước

- Bàu Sấu: Là khu vực đất ngập nước nằm trong Vườn Quốc gia Cát Tiên.

Tính đa dạng sinh học:

+ Thực vật ở vùng đất ngập nước bao gồm các loài Hydnocarpus anthelmintica cùng với loài Ficus benjamica chiếm ưu thế. Ngoài ra có các loài Saccharum spontaneum, S. Arundinaceum, Mimosa pudica, Imperata cilyndrica, Neyraudia arundinacea. Xung quanh bàu là loài tre là ngà chịu được ngập nước trong mùa mưa.

+ Động vật: Có 60 loài chim, 130 loài cá.

+ Nơi đây đã và đang phục hồi loài cá sấu nước ngọt đặc trưng cho hệ sinh thái đất ngập nước.

- Rừng phòng hộ Long Thành - Nhơn Trạch: Nằm trên địa phận hành chính huyện Nhơn Trạch và huyện Long Thành với tổng diện tích rừng thuộc Ban Quản lý Rừng phòng hộ Long Thành là 8.611,1 ha.

Tính đa dạng sinh học:

+ Đa dạng về quần xã thực vật: Gồm các kiểu sinh thái: Quần xã cây bụi, quần xã Mấm, quần xã Đước, quần xã Dừa nước.

+ Đa dạng loài thực vật: Đã thống kê được 97 loài thực vật, thuộc 81 chi.

+ Đa dạng loài động vật: Đã xác định 06 loài thú, 52 loài chim, 14 loài bò sát, 08 loài lưỡng cư. Còn nhiều loài động vật chưa được phát hiện.

c) Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học tại các thủy vực

- Khu bảo tồn vùng nước nội địa Trị An - Đồng Nai: Nằm trong phạm vi huyện Vĩnh Cửu có diện tích 285 km² bao gồm các hồ Bà Hào, Mo Nang và 03 đập Ông Hường, Thạnh Phú và Bến Xúc có chức năng điều tiết nước phục vụ nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, nuôi trồng và khai thác nguồn lợi thủy sản, có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái.

Từ năm 1983 đến nay có 06 công trình nghiên cứu về cá của Mai Đình Yên (1985 và 2001), Hoàng Đức Đạt (2003), Nguyễn Xuân Hiếu và CS (2003), Nguyễn Văn Du và CS (2009), Bùi Hữu Mạnh (2010) đã phát hiện 199 loài cá cho thấy thành phần loài có mức đa dạng cao.

- Sông Đồng Nai: Thành phần giống loài cá ở sông Đồng Nai thống kê đến năm 1998 là: 122 loài, thuộc 15 họ. Tôm nước ngọt có 12 loài, thuộc họ Palamonidae.

- Thành phần loài phiêu sinh thực vật, phiêu sinh động vật và động vật đáy tại một số thủy vực điển hình.

+ Đã quan trắc được 73 loài thực vật nổi, 17 loài động vật nổi và 19 loài động vật đáy (8/2010) tại khu vực sông Thị Vải (báo cáo quan trắc khu hệ thủy sinh vật sông Thị Vải (2006 - 2010) năm 2010).

+ Theo báo cáo quan trắc khu hệ thủy sinh vật và chất lượng nước sinh học hồ Trị An các năm 2008, 2009 (Viện Sinh học nhiệt đới năm 2008, 2009, thành phần loài thực vật nổi khá phong phú, trong đó ngành tảo lục chiếm ưu thế nhất trong khu hệ thực vật nổi, kế tiếp là tảo Silic, tảo Lam và tảo Mắt, tảo Giáp, tảo Vàng Ánh có thành phần loài thấp nhất. Nhóm Luân trùng có thành phần loài đa dạng nhất trong số 06 nhóm loài động vật nổi, tiếp đến là nhóm giáp xác Râu ngành, nhóm giáp xác Copepoda tương đối đa dạng, các nhóm còn lại số lượng loài ghi nhận được dao động từ 2 - 5 loài. Về khu hệ động vật đáy, nhóm ấu trùng côn trùng (Insecta) chiếm tỷ lệ lớn, tiếp đến là nhóm Hai mảnh vỏ (Bivalvia), các nhóm còn lại có số loài từ 1 - 2 loài.

+ Theo báo cáo quan trắc khu hệ thủy sinh vật và chất lượng nước sinh học sông Đồng Nai 2009 (Viện Sinh học nhiệt đới năm 2009), các ngành tảo Silic, tảo Lục, tảo Lam chiếm ưu thế nhất trong khu hệ thực vật nổi, các ngành còn lại đều có số loài tương đối thấp, trong đó thấp nhất là ngành tảo Vàng Ánh chỉ từ 1 - 3 loài. Trong khu hệ động vật nổi, nhóm giáp xác chân chèo (Copepoda) có số loài cao nhất, tiếp đến là nhóm giáp xác Râu ngành (Cladocera). Nhóm ấu trùng Larva, Luân trùng Rotatoria cũng có số lượng loài tương đối cao, các nhóm còn lại, chỉ dao động từ 1 - 4 loài, đặc biệt, nhóm Luân trùng Rotatoria tăng đột biến trong năm 2009. Đối với khu hệ động vật đáy, kết quả phân tích mẫu động vật đáy ở sông Đồng Nai qua các năm 2007, 2008, 2009 đã ghi nhận được 07 lớp, 03 ngành: Lớp Giun nhiều tơ (Polychaeta) và Giun ít tơ (Oligochaeta) thuộc ngành Giun đốt (Annelida); lớp Chân bụng (Gastropoda) và lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) của ngành Thân mềm (Mullusca); lớp Giáp xác (Crustacea) và lớp Côn trùng (Insecta) ngành Chân khớp (Arthropoda) và nhóm Ấu trùng, động vật còn non (Larva).

d) Bảo tồn đa dạng sinh học trong nông nghiệp

Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, tập quán canh tác nông nghiệp nhìn chung là theo truyền thống bảo vệ cây trồng mục đích, tận diệt các loài cây cỏ khác cạnh tranh dinh dưỡng với cây trồng nên không có một mô hình cụ thể nào bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp. Do vậy, các thành phần loài thực vật hoang dại đều bị xóa bỏ. Các loài động vật côn trùng, bò sát, ếch nhái cũng bị săn bắt gần như cạn kiệt. Tuy nhiên, các hội đoàn thực vật theo chân cây trồng, các hội đoàn thực vật trên đất hoang hóa vẫn tồn tại theo thời gian. Nhưng không có nghiên cứu nào quan tâm đến một cách triệt để để bảo vệ sự đa dạng của hệ sinh thái nông nghiệp. Vì lẽ các loài động thực vật trên đồng ruộng đa phần là loài phổ biến không bị đe dọa tuyệt chủng. Trong các chương trình khảo sát về cây thuốc thì phần nào các loài thảo dược có được quan tâm nhưng ở góc độ nghiên cứu sinh thái cá thể. Tuy vậy, đây là lĩnh vực ít bị đe dọa về mặt đa dạng sinh học do các giống loài không thuộc đối tượng bảo tồn đa dạng sinh học.

Đến nay, Sở Khoa học và Công Nghệ tỉnh Đồng Nai đã tổ chức triển khai thực hiện 15 đề tài, dự án liên quan đến hoạt động bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp, trong đó đã có 3/15 đề tài thuộc lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học.

2. Về an toàn sinh học

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh chưa có loài ngoại lai xâm lấn du nhập theo hình thức nhập khẩu và hiện chưa phát hiện loài ngoại lai xâm lấn theo hình thức nhập khẩu trái phép và chưa phát hiện các giống loài chuyển đổi gen. Các chương trình di thực cây trồng đã được cơ quan chức năng của tỉnh khảo nghiệm giống, bố trí thí nghiệm trồng thực nghiệm trước khi đưa ra sản xuất. Do làm tốt công tác này nên an toàn sinh học cây trồng được bảo đảm.

Dù vậy, những tác động không mong muốn vẫn xảy ra. Một số giống loài du nhập do cư dân tự phát đưa vào không có chủ đích đã có ảnh hưởng đến an toàn sinh học. Các giống loài này chưa được nghiên cứu đánh giá là loài du nhập có xâm hại đến đa dạng sinh học hay không là vẫn còn đang bỏ ngõ.

Hiện nay, loài ngoại lai đang gây đe dọa lớn đối với đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh là cây Mai Dương, loài cây này đã xâm lấn hầu hết tại các khu vực ngập nước thuộc Vườn Quốc gia Cát Tiên, Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Văn hóa Đồng Nai, một số địa bàn thuộc các huyện Thống Nhất, Tân Phú và Vĩnh Cửu và gây tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học nơi đây.

Một số loài cá ngoại lai trên sông Đồng Nai do cư dân vô tình làm chúng xâm nhập vào thủy vực nên có ảnh hưởng đến các loài bản địa. Vấn đề loài ngoại lai đang được nghiên cứu tìm giải pháp khắc phục.

II. CĂN CỨ PHÁP LÝ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG

Các cơ sở pháp lý để xây dựng kế hoạch hành động bao gồm:

- Công ước Ramsar về bảo tồn các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng Quốc tế năm 1971.

- Công ước Quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) năm 1973.

- Công ước về đa dạng sinh học năm 1992.

- Công ước về chống sa mạc hóa năm 1992.

- Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học năm 2000.

- Luật Tài nguyên nước số 08/1998/QH10 ngày 20/5/1998.

- Luật Phòng cháy và chữa cháy số 27/2001/QH10 ngày 29/6/2001.

- Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26/11/2003.

- Luật Thủy sản số 17/2003/QH11 ngày 26/11/2003.

- Luật Bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày 03/12/2004.

- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005.

- Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008.

- Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30/12/1999 của Chính phủ quy định việc thi hành Luật Tài nguyên nước.

- Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy.

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.

- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

- Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Đa dạng sinh học.

- Nghị định số 69/2010/NĐ-CP ngày 21/6/2010 của Chính phủ về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen.

- Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam).

- Quyết định 79/2007/QĐ-TTg ngày 31/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Kế hoạch hành động Quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học”.

- Quyết định số 102/2007/QĐ-TTg ngày 10/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "Đề án tổng thể tăng cường năng lực quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen và sản phẩm, hàng hóa có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen từ nay đến năm 2010 thực hiện Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học".

- Quyết định số 2421/QĐ-BTNMT ngày 21/11/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành thực hiện “Kế hoạch hành động Quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học”.

- Quyết định số 2293/QĐ-BTNMT ngày 30/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về phê duyệt chương trình thực hiện Luật ĐDSH của Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2009 - 2015.

- Tài liệu hướng dẫn thực hiện Kế hoạch hành động Quốc gia về đa dạng sinh học cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Cục Bảo vệ môi trường ban hành năm 2008.

- Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/4/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.

- Thông tư số 01/2008/TT-BTC ngày 29/4/2008 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn lập quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách Nhà nước đối với việc thực hiện kế hoạch hành động Quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học.

- Thông tư Liên tịch số 01/2008/TTLT-BTNMT-BTC ngày 29/4/2008 của liên Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tài chính về việc hướng dẫn lập dự toán công tác bảo vệ môi trường thuộc nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường.

- Thông tư Liên tịch số 45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 30/3/2010 của liên Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường.

- Nghị quyết 195/2010/NQ-HĐND ngày 09/12/2010 của HĐND tỉnh Đồng Nai về điều chỉnh, bổ sung một số điều Nghị quyết số 125/2008/NQ-HĐND ngày 05/12/2008 của HĐND tỉnh về việc thông qua Đề án Bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

- Chỉ thị số 06/CT-UBND ngày 28/02/2006 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc tăng cường quản lý các hoạt động gây nuôi, kinh doanh động vật hoang dã.

- Chỉ thị số 18/CT-UBND ngày 16/9/2010 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc tăng cường quản lý các hoạt động gây nuôi, chế biến, kinh doanh động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

- Quyết định số 2516/QĐ.CT.UBT của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai ngày 22/9/2000 về việc phê duyệt “Kế hoạch hành động bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 - 2010”.

- Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND ngày 25/02/2008 của UBND tỉnh Đồng Nai quy định về chế độ công tác phí, chế độ tổ chức các cuộc hội nghị đối với cơ quan Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập trong tỉnh.

Quyết định số 3699/QĐ-UBND ngày 10/12/2009 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc giao chỉ tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2010.

- Quyết định số 80/QĐ-TNMT ngày 20/01/2010 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường về việc giao dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước năm 2010.

- Quyết định 81/QĐ-TNMT ngày 20/01/2010 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai về việc giao chỉ tiêu kế hoạch năm 2010 cho Chi cục Bảo vệ Môi trường.

- Quyết định số 224/QĐ-TNMT ngày 29/3/2010 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt chương trình công tác năm 2010 của Chi cục Bảo vệ môi trường.

- Quyết định số 2699/QĐ-UBND ngày 14/10/2010 của UBND tỉnh Đồng Nai về phê duyệt đề cương nhiệm vụ và dự toán kinh phí dự án tổng thể về bảo tồn đa dạng và an toàn sinh học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.

- Văn bản số 1166/TNMT-CCBVMT ngày 04/5/2010 của Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai về việc lập dự thảo đề cương dự án tổng thể bảo tồn đa dạng và an toàn sinh học giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng 2020.

- Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và của tỉnh Đồng Nai.



III. NHỮNG THÁCH THỨC VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC MÀ KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG CẦN GIẢI QUYẾT

1. Các thách thức chung

Đồng Nai là một tỉnh giàu đa dạng sinh học. Từ rất sớm, Lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đã thực hiện chủ trương từ Trung ương trong phân cấp các Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn Thiên nhiên, rừng phòng hộ theo các cấp bảo tồn khác nhau tùy thuộc vào tình trạng của tài nguyên. Các đơn vị chịu trách nhiệm quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học trên tỉnh Đồng Nai đã kiện toàn tổ chức; hoạt động theo cơ chế, quy định chung của Quốc gia. Tài nguyên đa dạng sinh học đã được gìn giữ cho đến ngày nay là kết quả sau nhiều năm lãnh đạo sâu sát của Lãnh đạo tỉnh và các sở, ban, ngành. Các mối đe dọa về đa dạng sinh học hình thành từ phía tự nhiên đang ngày càng được nghiên cứu bảo vệ và phát triển lớn mạnh qua các nghiên cứu có yếu tố hợp tác Quốc tế. Các mối đe dọa từ phía cư dân liền kề xung quanh các khu vực đa dạng sinh học đã được giải quyết triệt để và trong tầm kiểm soát thông qua các văn bản pháp luật về bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm.

a) Các tác động của phát triển kinh tế - xã hội

Trong hiện tại, sự phát triển về kinh tế - xã hội đưa đến sự phát triển khu dân cư, đô thị, công nghiệp tạo nên những thách thức đối với đa dạng sinh học và an toàn sinh học nhưng đồng thời cũng là hướng mở nâng tầm và vị thế của Đồng Nai buộc Lãnh đạo tỉnh Đồng Nai phải có những nỗ lực mới để hạn chế những ảnh hưởng nhất định đến tài nguyên sinh học. Một thắng lợi lớn trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học là sự gia tăng diện tích đất lâm nghiệp trong khi bối cảnh chung của đất nước là diện tích rừng bị suy giảm. Gìn giữ được đất lâm nghiệp đã khó nhưng mở rộng đất lâm nghiệp càng khó hơn. Đất lâm nghiệp được gìn giữ và phát triển là tiền đề cho bảo vệ tính đa dạng sinh học của tỉnh. Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ người dân vẫn chưa ý thức và thiếu hiểu biết về luật nên tình trạng lén lút xâm hại tài nguyên vẫn còn xảy ra. Nguyên nhân là trình độ dân trí thấp, đa phần là những người dân di cư tự do từ nơi khác đến, không có phương thức mưu sinh bền vững đã tạo nên một vệt tối trên bức tranh sáng màu của tỉnh. Cơ cấu lực lượng bảo vệ rừng theo chủ trương chung của Nhà nước hiện nay là chưa đáp ứng với diện tích rừng hiện tại của Đồng Nai. Mặt khác, các tài trợ nghiên cứu khoa học, cộng đồng, các chương trình nghiên cứu đối với cư dân vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên được tài trợ Quốc tế là không đủ và chỉ xảy ra ngắn hạn nên không bền vững. Trong khi đó, tiềm lực chung của đất nước còn hạn hẹp nên công tác bảo vệ rừng còn nhiều khó khăn và khó triệt để. Bằng giải pháp phát triển bền vững, phát triển có quan tâm ngăn chặn ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học là bước đi đúng nhưng không tránh khỏi cần thiết phải tháo gỡ những thách thức trong quá trình thực hiện công cuộc phát triển kinh tế - xã hội.

Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 cũng đặt ra những thách thức lớn đối với tài nguyên đa dạng sinh học nói riêng và những thách thức về bảo vệ môi trường nói chung. Tuân thủ chỉ đạo từ Trung ương về tầm nhìn chiến lược trong tương lai là sẽ có Cảng Hàng không lớn nhất phía Nam đặt tại Long Thành và khu vực này sẽ trở thành Cửa khẩu Quốc tế. Tính hiện đại và quy mô của các Cụm hàng không, cụm cảng, khu đô thị Nhơn Trạch là những thách thức không nhỏ đồng thời là cơ hội phát triển đối với Đồng Nai trong tương lai. Số lượng về nhu cầu dịch vụ phục vụ các Cảng Hàng không, Cảng Nước sâu, khu đô thị sẽ vô cùng lớn là hướng mở cho lao động có kỹ thuật cao, được đào tạo. Chỉ việc chuẩn bị nhân lực cung cấp dịch vụ tại khu vực Long Thành - Nhơn Trạch trong tương lai là thách thức và cơ hội không nhỏ. Kéo theo đó là sự gia tăng số lượng của các cán bộ, công nhân, viên chức phục vụ nơi đây. Mặc dù áp lực từ gia tăng mật độ dân cư xảy ra nhưng phải tuân thủ theo lối sống văn minh, hiện đại là bài toán khó nếu không có quy hoạch ban đầu thật tốt. Tuy vậy, cũng không quá khó để đạt được do tầm nhìn của lãnh đạo các ban, ngành tỉnh đã chọn giải pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học bằng con đường phát triển bền vững. Phát triển nhưng có chú trọng quan tâm đến việc không gây nguy hại cho môi trường, không gây nguy hại cho các vùng nhạy cảm về đa dạng sinh học.

b) Tác động của biến đổi khí hậu

Một trong những vấn đề cần quan tâm khi thực hiện công tác bảo tồn đa dạng sinh học là những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học. Một số ảnh hưởng có thể xảy ra đối với đa dạng sinh học tại Đồng Nai có thể liệt kê như sau:

- Nguồn lâm sản

Theo báo cáo kết quả kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Đồng Nai năm 2010, đến năm 2020, diện tích đất lâm nghiệp của Đồng Nai khoảng 181.578,34 ha, bao gồm: Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Trong các loại rừng kể trên, rừng đặc dụng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn thiên nhiên, nguồn gen sinh vật rừng, phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, cùng một vài chức năng khác. Cùng với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ có chức năng bảo vệ nguồn nước, đất, chống xói mòn, sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu và góp phần bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004). Rừng đặc dụng hiện tại tập trung tại các huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú, một phần nhỏ tại huyện Trảng Bom do Trường Đại học Nông Lâm quản lý, phục vụ mục đích nghiên cứu.

Nhận thức được tầm quan trọng của rừng đặc dụng và rừng phòng hộ nên diện tích các loại rừng này đang được chính quyền tỉnh Đồng Nai chỉ đạo tăng diện tích qua các giai đoạn. Như đã đề cập, diện tích các loại rừng này được chú trọng là một tín hiệu tốt trong việc giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu Đồng Nai. Tuy nhiên, diện tích rừng đã giảm đáng kể vào những năm 1996 khó có khả năng phục hồi lại các nguồn gen quý và đa dạng sinh học.

Trữ lượng rừng giảm đáng kể trong thời kỳ trước 1996. Từ 1996 đến nay tỉnh Đồng Nai thực hiện chủ trương đóng cửa rừng, nên trữ lượng rừng có xu hướng tăng và đến năm 2002 đạt khoảng 05 triệu m3 và 64 triệu cây tre nứa. Thực vật rừng tự nhiên của Đồng Nai khá đa dạng với 185 loài, trong đó có 54 loài gỗ quý, 24 loài cây thuốc (08 loài cây chứa vitamin), 11 loài cây dầu và quả,...; thực vật rừng trồng chủ yếu là tràm, bạch đàn (Sở NN & PTNT năm 2005).

- Quần xã sinh vật và hệ sinh thái

Báo cáo mới nhất của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cảnh báo rằng gần 1/4 số loài có thể sẽ tuyệt chủng do sự nóng lên toàn cầu. Ước tính của IPCC (2007) dựa trên các nghiên cứu về môi trường sống của loài. Các nhà khoa học tính toán những điều kiện mà một loài phải thích nghi - nhiệt độ, lượng mưa,… và từ đó dự đoán môi trường sống của loài trong tương lai. Trong một số trường hợp, môi trường thay đổi nhanh hơn khả năng di cư loài. Và ở một số trường hợp khác, môi trường phù hợp bị thu hẹp. Song với trường hợp nào thì một loài cũng sẽ bị kìm hãm trong môi trường đang dần thu hẹp và rất có thể bị tuyệt chủng.

Hiện tại, rừng ngập mặn Đồng Nai, chủ yếu tập trung ở Long Thành và Nhơn Trạch. Nhiệt độ môi trường tăng cao có thể làm cho rừng ngập mặn dịch chuyển lên những vùng vĩ độ cao hơn và thậm chí rừng sẽ không thể quang hợp được nếu nhiệt độ tăng quá cao. Nồng độ CO2 tăng cao cũng khiến cho các rạn san hô ven bờ bị suy thoái, từ đó ảnh hưởng đến rừng ngập mặn do không thiếu mất hàng rào chắn sóng tự nhiên từ các rạn san hô này. Biến đổi khí hậu còn liên quan đến việc tăng số lượng cũng như cường độ các cơn bão vào mùa mưa và hạn hán kéo dài vào mùa hè. Các cơn bão kèm theo sóng lớn sẽ đe dọa trực tiếp các cánh rừng ngập mặn ven bờ.

Mực nước biển dâng được cho là sẽ gây ra tác động lớn nhất cho rừng ngập mặn. Có một loạt các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái rừng ngập mặn và do đó có thể làm thay đổi tác động của mực nước biển dâng đến rừng ngập mặn như: Dạng cơ chất, các quá trình bờ, hoạt động kiến tạo địa phương, lượng nước ngọt và trầm tích, độ mặn của đất và nước ngầm. Thủy triều và lượng trầm tích là hai chỉ thị quan trọng nhất về khả năng thích ứng của rừng ngập mặn đối với mực nước biển dâng. Khu vực triều quanh rừng ngập mặn Long Thành và Nhơn Trạch được đánh giá là mật độ trầm tích cao vì thế khả năng thích ứng của các khu vực này sẽ tốt hơn các nơi khác. Mặc dù trầm tích là một điều kiện thiết yếu để rừng ngập mặn có thể thích ứng với mực nước biển dâng, nhưng quá nhiều trầm tích cũng sẽ làm cây bị ngạt. Các nguồn trầm tích bổ sung có thể từ nông nghiệp và từ nước thải các khu công nghiệp khu vực này.

Đối với rừng đầu nguồn thuộc các huyện Tân Phú, Vĩnh Cửu, xu hướng lượng mưa tăng giảm bất thường trong những năm gần đây có nguy cơ làm thay đổi cấu trúc và hệ sinh thái rừng. Một số loài do không thích nghi được nên số lượng và chất lượng giảm sút làm rối loạn chuỗi thức ăn, gây mất cân bằng sinh thái. Ngược lại, một số loài phát triển quá mức đặc biệt là các loài sâu bệnh cũng gây tổn hại to lớn cho hệ động thực vật rừng. Tại những vùng c­ường độ mưa tăng cao, diện tích rừng thưa thớt thì nước mưa sẽ làm tăng xói mòn đất, lũ lụt, sụt lở đất đá gây ra các tác động dây chuyền đến rừng hiện hữu. Hạn hán vào mùa hè sẽ làm tăng nguy cơ cháy rừng.

- Hệ thủy sinh

Việc tăng nồng độ các khí nhà kính (CO2, NOx, SO2) trong không khí góp phần làm giảm pH của nước mặt, đặc biệt xảy ra ở các trận mưa trái mùa làm pH nước mặt giảm đột ngột, gây tổn hại đến thủy sinh khu vực. Như đã biết, mưa acid sẽ làm pH môi trường nước mặt <5,6, chủ yếu do các chất khí SO2 và NOx(1). Mức pH < 6,0 gây ra các tác động đến hệ thủy sinh. Các tác động từ việc giảm pH đến thủy sinh có thể được tóm tắt trong Bảng 1.

Bảng 1: Các ảnh hưởng của pH đến hệ thủy sinh vật



Mức pH

Các tác động

pH < 6,0

Các sinh vật bậc thấp của chuỗi thức ăn bị chết (như phù du, stonefly), đây là nguồn thức ăn quan trọng của cá.

pH < 5,5

Cá không thể sinh sản được; cá con rất khó sống sót; cá lớn bị dị dạng do thiếu dinh dưỡng; cá bị chết do ngạt.

pH < 5,0

Quần thể cá bị chết.

pH < 4,0

Xuất hiện các sinh vật mới khác với các sinh vật ban đầu.

Nguồn: Việt năm 2009.

Tại khu vực Nam Bộ, mưa acid xuất hiện với tần suất từ 24 - 100% (Lan và Lai năm 2003). Ngoài ra, nhiệt độ không khí tăng làm cho khả năng phân tầng nhiệt độ rõ rệt trong môi trường nước mặt. Nhiệt độ tầng nước mặt tăng cao thúc đẩy quá trình phân hủy các hợp chất diễn ra nhanh hơn, hô hấp tăng cường tiêu tốn nhiều năng lượng dẫn đến chất lượng thủy sản thấp. Theo ước tính, diện tích sử dụng nuôi trồng thủy sản của Đồng Nai khoảng 27.332 ha vào năm 2005 và tăng lên 33.268 ha vào năm 2010, chiếm hơn 90% diện tích mặt nước trên địa bàn toàn tỉnh (Sở NN & PTNN Đồng Nai năm 2005 và năm 2010). Vì vậy, chất lượng nguồn nước mặt bị ảnh hưởng từ mưa acid sẽ gây tổn hại đến kinh tế tỉnh, đặc biệt là ngành thủy sản.

- Đa dạng sinh học trong nông nghiệp

+ Năng suất cây trồng

Đồng Nai với hơn 73.000 ha diện tích đất trồng lúa và gần 18.000 ha diện tích đất trồng cây có củ, chỉ tính riêng chất lượng thu hoạch đã giảm từ 10 - 14% chưa tính đến các vấn đề về sâu hại, dịch bệnh và thời tiết khắc nghiệt. Tuy nhiên, không phải các thay đổi đều xấu, chẳng hạn hàm lượng Cadmium trong lúa mì giảm 14% ở điều kiện nồng độ CO2 là 500ppm2.

Trong hai thập kỷ trở lại đây, các đợt không khí lạnh tràn vào Việt Nam giảm rõ rệt, thời tiết ngày càng trở nên nóng và oi bức hơn. Các nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp Đồng Nai có thể thấy qua thời tiết bất thường, sinh trưởng của cây trồng bị đảo lộn, sức đề kháng giảm, dịch bệnh xuất hiện nhiều hơn, năng suất giảm mạnh. Trên thực tế so với thời điểm năm 1958, nhiệt độ hiện nay đã tăng lên từ 0,5 - 0,7oC và chỉ cần nhiệt độ tăng từ 1 - 2oC thì năng suất lúa, bắp sẽ giảm 10 - 20% và giảm 60% khi nhiệt độ tăng thêm 4oC. Trong điều kiện nhiệt độ tăng thêm 1oC thì nhu cầu tưới nước cho cây trồng tăng 10%. Tuy nhiên, như đã đề cập lượng nước phục vụ tưới tiêu từ các sông hồ thượng nguồn sẽ rất thiếu vào mùa khô.

Các đợt hạn hán mùa khô năm 2010 trên địa bàn huyện Xuân Lộc làm cho hàng trăm hécta bắp ở xã Lang Minh và Xuân Phú giảm năng suất do thiếu nguồn nước tưới. Tại huyện Tân Phú và Thống Nhất, nhiều vùng cao, xa nguồn nước cũng xảy ra tình trạng thiếu nước tưới cho cây lúa, bắp, rau, đậu, cây lâu năm và nông dân3.

Ngoài các vấn đề về nước biển dâng tác động trực tiếp đến khu vực sinh sống của các loài động thực vật vùng nước mặn và lợ thuộc vùng có cao độ thấp hơn mực nước biển, nước biển dâng còn làm cho một số loài thủy sản nước ngọt cũng bị ảnh hưởng do vấn đề xâm mặn. Khu vực có nguy cơ chịu tác động nặng nhất tập trung ở huyện Nhơn Trạch, phần diện tích có cao độ dưới 1,5m chiếm đến 37,5% diện tích toàn huyện.

+ Thay đổi loại, vùng hoạt động của sâu bệnh

Mưa trái mùa xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn trong các năm gần đây. Những trận mưa trái mùa này làm tăng thêm khả năng nhiễm bệnh của các loại cây trồng chủ lực ở Đồng Nai như cà phê, chôm chôm và điều. Theo Chi cục Bảo vệ thực vật Đồng Nai (2009) toàn tỉnh có trên 17.000 ha cà phê nhưng có gần 2.000 ha bị sâu bệnh, trong đó nhiều nhất là rệp sáp 650 ha, bệnh rỉ sắt 514 ha, khô cành 423 ha và nấm hồng 210 ha. Diện tích cà phê bị nhiễm bệnh tập trung ở các huyện: Thống Nhất, Định Quán, Cẩm Mỹ và Trảng Bom. Cũng do ảnh hưởng của mưa trái vụ dài ngày, có khoảng 4.000 trong tổng số 12.000 ha chôm chôm và gần 20.000 ha điều trong tổng số 45.000 ha điều trong toàn tỉnh bị nhiễm bệnh, trong đó có 7.000 ha nhiễm bệnh thán thư, hơn 5.000 ha nhiễm bệnh nấm hồng, gần 3.000 ha nhiễm bọ trĩ và 2.500 ha bị bọ xít.

+ Nguồn lợi thủy sản và ngư dân

Những cơn mưa trái mùa xuất hiện sẽ làm thay đổi, xáo trộn mọi hoạt động của tôm, cá, tình trạng sức khỏe, tốc độ phát triển, chu kỳ sinh sản của chúng,… vì môi trường nước rất dễ bị ảnh hưởng bởi những cơn mưa trái mùa. Hoạt động của thủy động thực vật, sự biến động đột ngột các thông số môi trường tất cả đều biến đổi nhanh sau những cơn mưa trái mùa. Như đã đề cập, độ pH trong ao sẽ thay đổi nhanh chóng do nước mưa kéo theo các chất khí mang tính acid xuống ao, đồng thời nước mưa rửa trôi mang theo những chất bẩn trên bờ xuống ao làm ao đục, hạn chế quá trình quang hợp của tảo, mất cân đối tỷ lệ tảo trong ao nuôi (tảo cần được duy trì ở mức từ 80.000 - 100.000 tế bào tảo khuê/ml nước ao nuôi nhằm tạo điều kiện cho tôm, cá ít bị shock, ngăn cản sự phát triển tảo độc tầng đáy và duy trì nguồn thức ăn cho tôm, cá4). Tóm lại, mưa trái mùa không chỉ gây các thiệt hại đối với ngành trồng trọt mà cho cả thủy sản khu vực.

2. Những thách thức về đa dạng sinh học đối với các hệ sinh thái trên cạn

Vấn đề suy thoái về đa dạng sinh học ở Đồng Nai đã không xảy ra. Cụ thể là diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng mang tính đa dạng sinh học, đa mục tiêu ngày càng được gia tăng củng cố góp phần nâng thêm diện tích rừng vào hệ thống đất lâm nghiệp (Bảng 2).

Bảng 2: Tổng hợp về diện tích đất rừng và đất lâm nghiệp qua các năm

TT

Năm

Tổng DT

tự nhiên


Tổng DT

đất lâm nghiệp (ha)



Trong đó (ha)

Đất chưa có rừng

Độ che phủ

(%)


Rừng tự nhiên

Rừng trồng

1

1999

590.215,0

150.274,3

110.678,0

39.596,3

28.133,6

25,46

2

2002

590.215,0

151.909,7

110.088,3

41.821,5

26.823,1

25,73

3

2003

590.215,0

153.585,9

110.293,5

43.292,4

24.570,4

26,02

4

2004

590.215,0

154.873,7

110.121,9

44.751,8

22.979,9

26,24

5

2005

590.215,0

155.224,8

110.016,9

45.207,9

22.454,6

26,30

6

2006

590.215,0

156.364,3

110.054,8

46.309,5

21.241,2

26,50

7

2008

590.215,0

167.295,6

110.668,5

56.627,1

23.707,5

28,34

8

2009

590.215,0

167.629,95

111.636,2

55.993,74

24.035,63

28,40

Nguồn: Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai năm 2010.

Hiện nay, thách thức về đa dạng sinh học ở Đồng Nai không còn là giai đoạn nóng ngăn chặn tình trạng mất tài nguyên thiên nhiên, mất diện tích rừng. Từ năm 1999 đến năm 2009, diện tích rừng ở Đồng Nai gia tăng hàng năm. Các khu vực xung yếu được phát hiện đã được quan tâm đưa vào hệ thống quản lý. Vì vậy, hệ thống bảo tồn thiên nhiên ở Đồng Nai đã hình thành vững chắc, bảo đảm bảo vệ tốt tính đa dạng sinh học. Thách thức về đa dạng sinh học ở Đồng Nai hiện nay là những thách thức để phát triển và lớn mạnh.

a) Những thách thức về đa dạng sinh học thường xuyên xảy ra đối với các hệ sinh thái trên cạn

Những thách thức thường xuyên đe dọa tính đa dạng sinh học trên toàn tỉnh Đồng Nai, trên từng KBTTN vẫn thường xuyên xảy ra và hiện tại đã trong tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng. Các thách thức đó bao gồm:

- Cháy rừng: Là nguyên nhân đe dọa thường xuyên trên khắp các khu rừng trong những mùa khô. Nhất là đối với những khu rừng trồng thuần loại, đồng cỏ mùa khô trở thành mồi lửa. Những khu vực mà lớp thảm mục dễ bắt lửa. Do vậy, không thể bỏ qua kế hoạch phòng chống cháy rừng hàng năm. Vì vậy, phải chủ động con người và đầu tư phương tiện để ứng phó với tình hình xảy ra cháy rừng hàng năm.

- Nạn lấn chiếm đất rừng để sản xuất nông nghiệp: Do áp lực của dân sinh kinh tế nên cư dân vùng gần rừng thường lén lút khai hoang đất rừng để sản xuất nông nghiệp. Do vậy, cần tuyên truyền giáo dục cộng đồng cư dân vùng rừng đồng thời tránh tái định cư cư dân vào những khu vực gần rừng hoặc những khu vực nhạy cảm về đa dạng sinh học.

- Nạn khai thác lâm sản và săn bắt thú rừng trái phép: Dù Luật Bảo vệ rừng đã có quy định nghiêm cấm hành vi khai thác trái phép lâm sản nhưng các vụ lén lút khai thác lâm sản; lén lút đặt bẫy, săn bắn thú rừng vẫn xảy ra. Mặc dù đã có nhiều biện pháp xử lý tích cực, nhưng nguyên nhân chính là do nhận thức pháp luật của người dân về vấn đề trên còn hạn chế.

- Chăn thả gia súc: Đây được coi là một hướng phát triển kinh tế của người dân địa phương. Tuy nhiên, người dân trong vùng còn có tập quán chăn nuôi trâu, bò thả tự do kiếm ăn trong rừng. Ở góc độ bảo tồn và phát triển rừng, hoạt động chăn thả này đã ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên rừng vì hiện tượng này đã gây nên sự tàn phá trên diện rộng các loài cây tái sinh, cạnh tranh nguồn thức ăn với nhóm thú móng guốc sống trong VQG và tăng nguy cơ lan truyền bệnh từ vật nuôi sang động vật hoang dã. Nhận diện được tác động này, các cơ quan hữu quan đã tuyên truyền giáo dục và giới hạn những khu vực chăn thả nhằm quản lý tốt tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái.

- Khai thác lâm sản phụ quá mức: Hầu hết do dân địa phương khai thác để đáp ứng những nhu cầu cần thiết (tre, măng, cây thuốc, mật ong,…). Mặc dù việc thu hái lâm sản hiện có tác động không lớn, nhưng hoạt động này có nguy cơ dễ gây ra sự suy thoái sinh cảnh nếu không được tuân thủ nguyên tắc bền vững và giám sát chặt chẽ. Người dân có xu hướng khai thác cạn kiệt lâm sản ngoài gỗ ở những địa điểm mà họ phát hiện; do đó, việc khuyến khích các chính sách thu hái theo mùa vụ sẽ góp phần quan trọng trong việc hạn chế sự xâm hại tài nguyên.

b) Những thách thức về đa dạng sinh học đối với các hệ sinh thái trên cạn quan trọng

Tùy theo đặc thù của từng KBTTN mà phát sinh những thách thức về bảo tồn đa dạng sinh học khác nhau. Từng địa phương, từng kiểu thảm thực vật có những mối đe dọa khác nhau. Qua tìm hiểu, có thể xác định những thách thức đó theo từng đơn vị bảo tồn đa dạng sinh học như sau:

- Những thách thức về đa dạng sinh học đối với Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai

+ Hồ sơ nâng cấp Khu Dự trữ Sinh quyển Cát Tiên thành Khu DTSQ Đồng Nai đã được thành lập và đang đệ trình với các cơ quan chức năng phê duyệt. Sau khi được phê duyệt thì đây sẽ là khu vực đa dạng sinh học quan trọng của Đồng Nai. Theo khuyến cáo của MAB/UNESCO, các khu bảo vệ thuộc mạng lưới bảo tồn Quốc gia như Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn Thiên nhiên phải là những vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển và tuân thủ những hướng dẫn của các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương về bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì vẻ đẹp cảnh quan cho phát triển du lịch sinh thái và du lịch bền vững. Việc đưa thêm 02 vùng lõi là Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai (Khu BTTN & DT Vĩnh Cửu) và Khu Bảo tồn Vùng đất ngập nước nội địa hồ Trị An - Đồng Nai (cùng với Vườn Quốc gia Cát Tiên - vùng lõi đã đề cử trước tạo nên 03 vùng lõi làm thành vùng hành lang bảo tồn mang tính tổng thể, toàn vẹn của các hệ sinh thái đặc trưng cho vùng nhiệt đới mà tỉnh Đồng Nai đang sở hữu. Được sự giúp đỡ của Trung tâm Nghiên cứu và giáo dục môi trường thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trong năm 2010 tỉnh Đồng Nai đã hoàn thành hồ sơ nâng cấp Khu DTSQ Cát Tiên thành Khu DTSQ Đồng Nai trình UB UNESCO Việt Nam xem xét và thẩm định trước khi đệ trình UB UNESCO Thế giới xem xét, phê duyệt và công nhận.

+ Đây là khu dự trữ nguồn gen phong phú nhất thuộc các tỉnh phía Nam. Tính đa dạng sinh học cao. Việc phát triển mở rộng là cần thiết khi mà những kết quả nghiên cứu khoa học từ trước đến nay cho thấy tính ổn định và gia tăng về số lượng cũng như chất lượng môi trường sống đối với sinh vật cư trú trong khu vực. Đây cũng là vinh dự của tỉnh khi được quản lý một khu vực được Quốc tế đánh giá cao. Vì vậy, bảo tồn, tôn tạo, mở rộng trong hiện tại và cả trong tương lai là ở khu vực này là một việc làm có cân nhắc đến việc phát triển nâng tầm vóc và vị thế của nó.

+ Với vị thế mới này Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai phải đảm đương nhiều chức năng hơn là đơn thuần bảo vệ đa dạng sinh học. Điều này cũng mang lại tầm vóc xứng đáng cho khu dự trữ sinh quyển này. Các chức năng đó là bảo tồn nguồn gen động thực vật quý hiếm; bảo tồn Vùng nước nội địa Trị An - Đồng Nai, Bảo tồn Di tích lịch sử Chiến khu D. Khối lượng công việc ban đầu cần thực hiện đối với Khu Dự trữ Sinh quyển mới nâng cấp này là không nhỏ. Đó là sự chuẩn bị cho cơ chế hành chính, phương tiện tuần tra giám sát mặt nước cùng các thể chế liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học. Tiếp đến là đánh giá về đa dạng sinh học của Vùng nước nội địa Trị An - Đồng Nai. Điều tra, đánh giá, thu thập tư liệu khoa học về các loài thủy sinh trên vùng nước này làm dẫn liệu ban đầu để phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên. Sau đó, cần thiết có những nghiên cứu khoa học nhằm phân định tập tính sinh thái của các loài thủy sinh vật nhằm có giải pháp bảo tồn các giống loài quý hiếm một cách hữu hiệu song hành với biện pháp diệt trừ các loài ngoại lai xâm hại. Hiện tại chưa có hướng nghiên cứu bảo tồn rõ rệt nào đã áp dụng với vùng nước nội địa này. Quần cư những loài cá quý hiếm cần bảo vệ chưa có giải pháp và các loài cá ngoại lai mà trong đó chưa được đánh giá đâu là loài ngoại lai xâm hại cũng chưa có giải pháp loại bỏ. Vấn đề an toàn sinh học cần thiết được đặt ra đối với vùng nước nội địa này. Mặc khác, vấn đề bảo vệ lưu vực đối với hồ Trị An chưa được quan tâm thật đầy đủ. Ngoài Vườn Quốc gia Cát Tiên, Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai bao bọc 03 mặt Bắc, Đông, Tây của hồ. Riêng phía Nam giáp với huyện Thống Nhất là thiếu vành đai cây xanh bảo vệ. Hiện tại có một diện tích rừng phòng hộ hẹp vào khoảng 277,8 ha và rừng sản xuất là 98,7 ha. Như vậy là chưa đủ bảo vệ hồ Trị An về phía Nam. Trong kế hoạch hành động bảo tồn đa dạng sinh học 2001 đến 2010 đã đề nghị một diện tích lớn hơn nhằm bảo vệ hồ. Nhưng căn cứ vào tình hình thực tế thì có thể ưu tiên trồng rừng nơi đây nhằm nâng hành lang rừng bảo vệ hồ lên đến khoảng 750 ha vào năm 2020. Việc trồng rừng nên chú trọng trồng ở vùng đất dốc và ven hồ trong lưu vực của hồ Trị An.

+ Đối với việc mở rộng diện tích 10.000 ha rừng tre thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp La Ngà sáp nhập vào Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai nhằm hạn chế xung đột giữa voi rừng với cư dân liền kề. Tuy nhiên, thách thức này là do đàn voi rừng mở rộng lãnh địa sinh sống. Mặt khác, tập quán trồng trọt của người dân thường trồng những loài cây mà voi ưa thích dùng làm thức ăn nên sản phẩm trồng trọt như là chất dẫn dụ voi đã đưa đến xung đột. Do đó, cần tái định cư dân cư xa khỏi khu vực voi sinh sống và đề xuất loài cây trồng nông nghiệp của cư dân liền kề là các loài cây không nằm trong thực đơn của voi rừng để xung đột không tái diễn.

+ Mặc khác, vị thế của Khu Dự trữ Sinh quyển trong tương lai còn có thể mở rộng thêm. Do vậy, việc lập hồ sơ xin nâng cấp chỉ là bước khởi điểm. Trong tương lai, khi đa dạng sinh học của Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai phát triển lớn mạnh hơn thì nhu cầu mở rộng về diện tích sẽ xuất hiện. Để thực hiện tầm nhìn đó và để lồng ghép với mục tiêu phát triển rừng theo hướng sử dụng hợp lý tài nguyên cần cân nhắc bảo vệ tốt trên 10.000 ha rừng nghèo kiệt còn lại của Công ty TNHH MTV La Ngà làm vốn đất dự trữ trong tương lai xa cho Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai. Trên mảnh đất 10.000 ha rừng nghèo kiệt này còn mang ít nhiều tính đa dạng sinh học, là nơi cư trú của một số loài thú nhỏ và một số loài chim quý hiếm là lý do hợp lý để định hướng bảo tồn. Do vậy, trên diện tích này được xem như là một phân khu phục hồi sinh thái, không nên bố trí dân cư. Vấn đề là nếu thực hiện tầm nhìn trong tương lai xa, phần đất này nên bảo tồn rừng để trong vòng 10 hoặc 20 năm sau lại sáp nhập vào Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai.

+ Trong khu vực của Khu Dự trữ Sinh quyển Đồng Nai còn có một vùng đất ngập nước ở Bàu Sấu là vùng đất ngập nước tham gia Công ước Ramsar đang bị loài Mai Dương đe dọa xâm chiếm làm mất đi tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù. Vì vậy, cần thiết có ngay một giải pháp diệt trừ loài ngoại lai xâm hại này. Điều này cũng thuộc chủ trương bảo vệ đa dạng sinh học và an toàn sinh học. Tuy nhiên, để tiêu diệt cây Mai Dương, cần nhìn một cách tổng thể trên toàn bộ lưu vực sông Đồng Nai và các chi lưu của sông. Dòng chảy khuyếch tán hạt của cây rộng khắp nên giải pháp tiêu diệt loài này trên diện hẹp là chưa đủ.

+ Nhờ vị thế của một Khu Dự trữ Sinh quyển mà các nghiên cứu khoa học trên thế giới đã tề tựu lại nơi đây. Kết quả là những nghiên cứu chuyên sâu về nhiều giống loài cư trú trên mảnh đất này đã góp phần tôn thêm giá trị khoa học của Khu Dự trữ Sinh quyển. Sự phát triển, mở rộng Khu Dự trữ Sinh quyển là tiền đề thu hút đầu tư Quốc tế về lĩnh vực nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái, du lịch truyền thống văn hóa cách mạng, du lịch trên hồ là những hướng mở rộng tạo những cơ hội tích cực cho nơi đây.

- Những thách thức về đa dạng sinh học đối với rừng thuộc Núi Chứa Chan huyện Xuân Lộc

+ Khu Di tích Núi Chứa Chan huyện Xuân Lộc có diện tích 2.025 ha, có độ cao 837m, tiềm ẩn tính đa dạng sinh học cao. Về mặt quản lý tài nguyên thì Núi Chứa Chan đã được quản lý và vận hành theo cấp Di tích lịch sử - danh thắng Núi Chứa Chan. Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có tài liệu điều tra khoa học nào về đa dạng sinh học nào được xúc tiến ở Núi Chứa Chan. Sau một thời gian dài bảo vệ, hệ sinh thái Núi Chứa Chan đã có dấu hiệu hồi phục. Vì vậy, cần xúc tiến thẩm định, đánh giá nguồn tài nguyên về đa dạng sinh học ngõ hầu sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Khu vực này có thể bị lãng quên do động thái rừng sau nhiều năm đã thay đổi và đã hồi phục. Như vậy, đa dạng sinh học sẽ không được phát hiện là một sự lãng phí tài nguyên. Nếu xét về gradiant cao độ thì trên tỉnh Đồng Nai không có khu vực nào có gradiant cao độ như ở Núi Chứa Chan. Các quần xã sinh học ở đây là có khác biệt với các nơi khác ở Đồng Nai và như vậy thành phần loài thực, động vật cũng có thay đổi. Dù chưa có điều tra nghiên cứu nhưng chắc rằng kết quả sẽ bổ sung cho tính đa dạng sinh học của Đồng Nai ở góc độ các quần xã thực vật có ở các gradiant cao độ khác nhau. Mặc khác, khu hệ chim, bò sát, thú cũng có những khác biệt nhất định làm tăng giá trị đa dạng sinh học của tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, cần thiết có một công cuộc điều tra về đa dạng sinh học để bảo tồn thêm một khu vực mang tính đa dạng sinh học đang bị lãng quên.


: Lists -> Vn%20bn -> Attachments
Attachments -> CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
Attachments -> Ubnd tỉnh yên báI
Attachments -> Ủy ban nhân dân tỉnh đỒng nai
Attachments -> Ủy ban nhân dân tỉnh đỒng nai
Attachments -> Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh đỒng nai độc lập Tự do Hạnh phúc
Attachments -> Phụ lục 1: quyếT ĐỊnh thành lập tổ CÔng tác cai nghiện ma túY
Attachments -> TỈnh đỒng nai số: 2037/QĐ-ubnd cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> TỈnh yên bái số: 115/kh-ubnd cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> Ủy ban nhân dân tỉnh đỒng nai
Attachments -> TỈnh yên bái số: 1193/QĐ-ubnd cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam


  1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương