Ủy ban nhân dân tỉnh an giang cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 310.07 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu27.07.2016
Kích310.07 Kb.
  1   2   3

ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc







Số: 1382/QĐ-UBND

An Giang, ngày 16 tháng 8 năm 2011

QUYẾT ĐỊNH

Ban hành Chương trình Phát triển nguồn nhân lực

tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015



ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;

Căn cứ Luật Dạy nghề ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Căn cứ Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015;

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại Tờ trình số 699/TTr-KHĐT-THQH ngày 04 tháng 8 năm 2011,



QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này, Chương trình Phát triển nguồn nhân lực tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Kế hoạch và Đầu tư, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giám đốc Sở Nội vụ, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, Thủ trưởng các đơn vị có liên quan và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.





Nơi nhận:

- Bộ KH&ĐT;

- VP Chính phủ;

- TT.TU, HĐND, UBND tỉnh (để báo cáo);

- Các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh;

- Các trường ĐH, CĐ, TCCN, TCN trong tỉnh;

- UBND các huyện, thị, thành phố;

- Lãnh đạo Văn phòng;

- Phòng: VHXH, TH, KT;

- Lưu: VT.




TM.ỦY BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

( Ðã ký )

Vương Bình Thạnh



ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG




CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc






CHƯƠNG TRÌNH

Phát triển nguồn nhân lực tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1382/QĐ-UBND

ngày 16 tháng 8 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh)

___________



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết xây dựng chương trình:

Phát triển nguồn nhân lực là nội dung hết sức quan trọng để đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) nhanh và bền vững của một quốc gia, địa phương, bên cạnh các nguồn lực quan trọng khác như tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học và công nghệ... Trong những năm qua, nguồn nhân lực ở tỉnh đã không ngừng phát triển cả về chất và lượng, có những đóng góp tích cực vào quá trình phát triển KT-XH của tỉnh với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt trên 10,3%, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt trên 21 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân gần 2%/năm...

Tuy nhiên, nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh vẫn còn khá thấp so mặt bằng chung của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và cả nước, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập, cũng như yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo đánh giá tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IX: "Nhiều chỉ tiêu xã hội của tỉnh còn thấp so với khu vực ĐBSCL; xã hội hoá lĩnh vực văn hóa - xã hội, môi trường gặp nhiều lúng túng. Quy mô, chất lượng phát triển giáo dục và đào tạo chưa tương xứng với yêu cầu phát triển; tỷ lệ huy động học sinh đến trường còn thấp, phổ cập giáo dục thiếu vững chắc. Hệ thống cơ sở dạy nghề còn thiếu và yếu...". Những hạn chế đó đã ảnh hưởng rất lớn đến phát triển nguồn nhân lực cũng như sự phát triển KT-XH của tỉnh.

Vì vậy, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND) xem việc phát triển nguồn nhân lực là một trong những khâu đột phá để đảm bảo thực hiện đạt các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX và Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2011 - 2015. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh xây dựng Chương trình Phát triển nguồn nhân lực tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015 nhằm mục tiêu tập trung các nguồn lực, giải pháp để thực hiện đạt và vượt các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra, phát huy lợi thế là tỉnh có dân số, lực lượng lao động đông nhất Khu vực ĐBSCL.



2. Mục đích của chương trình:

Cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp để tập trung nguồn lực thực hiện đạt các mục tiêu, chỉ tiêu theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IX, Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2011-2015 của tỉnh, tạo nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.



3. Những căn cứ chủ yếu xây dựng chương trình:

Căn cứ vào dự thảo Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh An Giang thời kỳ 2011-2020;

Quyết định 71/2007/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh An Giang đến năm 2020 và Dự thảo Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh An Giang đến năm 2020 đã thông qua HĐND, UBND tỉnh An Giang và đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

Quyết định số 492/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 về Phê duyệt Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL

Quyết định số 07/2006/QĐ-BLĐTBXH, ngày 02 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới trường Cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;

Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg, ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới trường Đại học và Cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020;

Căn cứ Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”;

Căn cứ Nghị quyết số 09-NQ/ĐH ngày 19 tháng 10 năm 2010 của Đại hội Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IX nhiệm kỳ 2010-2015;



Căn cứ Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 04 tháng 01 năm 2011 của UBND tỉnh về việc ban hành kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2011-2015 của tỉnh An Giang.
PHẦN THỨ NHẤT

THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2010


  1. MỘT SỐ THÀNH TỰU:

  1. Qui mô dân số:

Tổng số dân của tỉnh An Giang vào 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 là 2.144.159 người. Như vậy, An Giang là tỉnh đông dân nhất Vùng ĐBSCL và đứng thứ 6 trong số những tỉnh đông dân nhất của nước ta. Số người sống ở khu vực thành thị là 608.941 người, chiếm 28,4% và ở khu vực nông thôn là 1.535.218 người, chiếm 71,6% tổng dân số. Dân số nam là 1.064.483 người, chiếm 49,7% và nữ là 1.078.226 người, chiếm 50,3% tổng dân số.


  1. Cơ cấu dân số: (theo từng nhóm tuổi)

Cơ cấu dân số theo giới tính và nhóm tuổi phản ánh một bức tranh tổng quát về mức sinh, mức chết và tốc độ gia tăng dân số của các thế hệ sinh cho đến thời điểm tổng điều tra ngày 01 tháng 4 năm 2009. Một công cụ hữu ích để mô tả cơ cấu dân số theo giới tính và nhóm tuổi là tháp tuổi, hay còn gọi là tháp dân số. Hình 1 trình bày tháp tuổi theo số liệu tổng điều tra năm 2009.

HÌNH 1: THÁP DÂN SỐ TỈNH AN GIANG NĂM 2009


Tháp dân số năm 2009 cho thấy, các thanh từ 15-19 tuổi đến 55-59 tuổi đối với cả nam và nữ đã “nở ra” khá đều làm cho hình dạng của tháp dần dần trở thành “hình tang trống”. Điều này chứng tỏ: (1) Tỷ trọng phụ nữ bước vào các độ tuổi có khả năng sinh đẻ ngày càng tăng, đặc biệt là nhóm phụ nữ 20-24 tuổi, nhóm tuổi có tỷ suất mắn đẻ cao nhất; (2) Số người bước vào độ tuổi lao động cũng tăng nhanh, đây có thể là một lợi thế nhưng cũng là một sức ép đối với công tác giải quyết việc làm. Dân số trong độ tuổi từ 0-4 là 173.988 người chiếm 8,115% dân số; dân số trong độ tuổi từ 5-9 là 169.999 người chiếm 7,835% dân số; dân số trong độ tuổi từ 10-14 là 178.654 người chiếm 8,332% dân số; dân số trong độ tuổi từ 15-19 là 205.779 người chiếm 9,597% dân số; dân số trong độ tuổi từ 20-24 là 212.210 người chiếm 9,897% dân số; dân số trong độ tuổi từ 25-29 là 207.043 người chiếm 9,656% dân số; dân số trong độ tuổi từ 30-34 là 186.637 người chiếm 8,704% dân số; dân số trong độ tuổi từ 35-39 là 180.651 người chiếm 8,425% dân số; dân số trong độ tuổi từ 40-44 là 160.059 người chiếm 7,465% dân số; dân số trong độ tuổi từ 45-49 là 121.150 người chiếm 5,650% dân số; dân số trong độ tuổi từ 50-54 là 92.339 người chiếm 4,307% dân số; dân số trong độ tuổi từ 55-59 là 78.275 người chiếm 3,651% dân số; dân số trong độ tuổi từ 60-64 là 51.167 người chiếm 2,386% dân số; dân số trong độ tuổi từ 65-69 là 38.145 người chiếm 1,779% dân số; dân số trong độ tuổi từ 70-74 là 34.193 người chiếm 1,895% dân số; dân số trong độ tuổi từ 75-79 là 28.798 người chiếm 1,343% dân số; dân số trong độ tuổi từ 80 trở lên là 27.027 người chiếm 1,263% dân số.

Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi còn được sử dụng để tính tỷ số phụ thuộc, một chỉ tiêu biểu thị gánh nặng của dân số trong tuổi lao động. Chỉ tiêu này phản ánh tác động của mức độ sinh và mức độ chết đến cơ cấu tuổi và lực lượng lao động. Tỷ số phụ thuộc chung biểu thị phần trăm số người dưới 15 tuổi (0-14) và từ 65 tuổi trở lên trên 100 người ở nhóm tuổi 15-64. Số người trong nhóm tuổi từ 0-14 tuổi là 521.031 người chiếm 24,3% dân số; Số người trong nhóm tuổi từ 15-64 tuổi là 1.496.923 người chiếm 69,8% dân số; Số người trong nhóm tuổi trên 65 tuổi là 126.505 người chiếm 5,9% dân số.



Số liệu cho thấy, tỷ số phụ thuộc chung của tỉnh giảm nhanh trong thập kỷ qua. Sau 10 năm, tỷ số phụ thuộc chung giảm từ 60,6% (năm 1999) xuống còn 43,3% (2009). Sự giảm này hoàn toàn là do giảm tỷ lệ sinh dẫn đến tỷ số phụ thuộc trẻ em giảm. Điều đó một lần nữa khẳng định mức sinh của tỉnh liên tục giảm trong 10 năm qua. Đồng thời, chứng tỏ gánh nặng của dân số trong độ tuổi có khả năng lao động của tỉnh ngày càng được giảm đi. Do kết quả của quá trình lão hóa dân số, tỷ số phụ thuộc người già tăng nhẹ từ 8,2% (năm 1999) lên 8,5% (năm 2009).

  1. Thực trạng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân:

Theo báo cáo của Cục Thống kê thì dân số trong độ tuổi lao động, thực tế có tham gia vào lao động năm 2010 là 1.207.207 người, trong đó lao động trong khu vực nông - lâm - thủy sản là 784.685 người, chiếm 65%; khu vực công nghiệp - xây dựng là 120.721 người, chiếm 10%; khu vực dịch vụ là 301.802 người chiếm 25%; chia ra:

a) Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản:

Đơn vị tính: người

Chỉ tiêu

2005

Tỷ trọng (%)

2010

Tỷ trọng (%)

Tăng/giảm (2010-2005)

Tổng số

797.484

100

784.685

100

-12.799

Nông nghiệp

660.317

82,80

635.595

81,00

-24.722

Ngư nghiệp

127.597

16,00

141.243

18,00

13.646

Lâm nghiệp

9.570

1,20

7.847

1,00

-1.723

b) Lao động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng:

Đơn vị tính: người

Chỉ tiêu

2005

Tỷ trọng (%)

2010

Tỷ trọng (%)

Tăng/giảm

(2010-2005)

Tổng số (1) + (2)

81.933

100

120.721

100

44.250

1. Ngành công nghiệp

69.815

85,2

94.912

78,6

25.097

Khai khoáng

709

1,0

3.800

4,0

3.091

Công nghiệp chế biến, chế tạo

67.027

96,0

84.112

88,6

17.085

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí

1.579

2,3

3.000

3,2

1.421

Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

500

0,7

4.000

4,2

3.500

2. Ngành xây dựng

12.118

14,8

25.809

21,4

13.691

c) Lao động trong lĩnh vực dịch vụ:

Đơn vị tính: người

Chỉ tiêu

2005

Tỷ trọng (%)

2010

Tỷ trọng (%)

Tăng/giảm (2010-2005)

Tổng số

241.283

100

301.802

100

60.519

Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa

80.556

33,39

95.203

31,5

14.646

Dịch vụ lưu trú và ăn uống

52.433

21,73

63.087

20,9

10.654

Vận tải kho bãi

37.047

15,35

45.501

15,1

8.454

Giáo dục, đào tạo

22.730

9,42

25.883

8,6

3.153

Hoạt động của Đảng, đoàn thể, tổ chức

10.762

4,46

12.254

4,1

1.492

Thông tin và truyền thông

1.427

0,59

2.112

0,7

685

Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

2.103

0,87

5.766

1,9

3.663

Kinh doanh bất động sản

1.332

0,55

1.883

0,6

551

Khoa học và công nghệ

1.479

0,61

2.626

0,9

1.147

Y tế

7.019

2,91

7.989

2,6

970

Nghệ thuật vui chơi và giải trí

3.704

1,54

8.374

2,8

4.670

Dịch vụ hành chính, hỗ trợ

1.969

0,82

3.172

1,1

1.203

Dịch vụ làm thuê hộ gia đình

2.799

1,16

5.303

1,8

2.504

Dịch vụ khác

15.923

6,60

22.649

7,5

6.725

4. Về giáo dục - đào tạo:

a) Giáo dục mần non:

Trong giai đoạn 2006-2010, học sinh mẫu giáo phát triển khá nhanh. Số cháu đi nhà trẻ tăng 28,19%, học sinh mẫu giáo tăng 27,86% so với đầu giai đoạn. Tuy nhiên, chỉ có học sinh mẫu giáo hoàn thành kế hoạch đề ra từng năm, số cháu đi nhà trẻ còn đạt thấp 6% tỷ lệ đi học so dân số độ tuổi, mẫu giáo khoảng 50%, trong đó học sinh mẫu giáo 5 tuổi huy động đạt trên 93%. Số cháu nhà trẻ ngoài công lập chiếm khoảng 50%, mẫu giáo ngoài công lập chiếm 8,5%.

So với chỉ tiêu đến năm 2010, số cháu huy động nhà trẻ còn khá thấp (chỉ tiêu là 15% so dân số), trong khi học sinh mẫu giáo đã đạt (chỉ tiêu đến năm 2010 là 50% so dân số).

b) Giáo dục phổ thông:

- Giai đoạn 2006-2010, học sinh cấp tiểu học giảm 2,02%. Huy động học sinh ở bậc tiểu học đạt gần 100% hàng năm, trong đó đúng độ tuổi đạt xấp xĩ 85% so dân số độ tuổi, tỉ lệ huy động 6 tuổi vào lớp 1 cũng ở mức 97-98% so dân số độ tuổi. Toàn tỉnh đã hoàn thành đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, tỉ lệ bỏ học có khuynh hướng giảm chỉ còn khoảng 2-3%/năm.

Tổng số học sinh tiểu học học 2 buổi/ngày đến nay là 69.536 em (tăng 20,5% so với đầu giai đoạn), trong đó học 2 buổi/ngày ở lớp 1 là 100% (38.634 em).

- Học sinh cấp THCS giai đoạn 2006-2010 giảm khá cao, đến 13,65%, nguyên nhân giảm là tình trạng học sinh bỏ học tăng cao, bình quân 7-10%/năm, tỉ lệ huy động học sinh so dân số độ tuổi mới chỉ đạt khoảng 72%. Tổng số học sinh THCS hiện nay là 107.103 em.

- Học sinh cấp THPT giai đoạn này cũng giảm 0,79% và nguyên nhân vẫn là học sinh bỏ học với tỉ lệ hàng năm khoảng 10%. Tỉ lệ huy động so dân số độ tuổi chỉ đạt 36% so dân số độ tuổi. Tổng số học sinh THPT hiện nay là 42.839 em. Trong đó tuyển mới lớp 10 phổ thông đạt 80% so với số tốt nghiệp THCS.

Chỉ tiêu huy động đến năm 2010 ở cấp THCS là 90% và THPT là 60% so dân số độ tuổi không đạt được do tình trạng bỏ học còn cao như hiện nay. Nhằm hạn chế học sinh bỏ học do nguyên nhân học yếu, kém, năm học 2001-2011, Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) thay đổi phương thức tuyển sinh lớp 10 chỉ với hình thức thi tuyển, nhưng học sinh có đến 3 nguyện vọng, để những em có kết quả học tập trung bình trở lên có cơ hội vào trường công lập, đồng thời khuyến khích các đơn vị ngoài công lập, trung tâm Giáo dục thường xuyên áp dụng hình thức liên kết với trường THPT công lập tổ chức dạy ban ngày cho học sinh các loại hình này.



c) Giáo dục nghề nghiệp:

Các trung tâm giáo dục thường xuyên đã liên kết tổ chức đào tạo hệ trung cấp cho 22.861 lượt học viên, tăng bình quân 22%/năm. Các trung tâm học tập cộng đồng đã tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng theo chức năng (cập nhật kiến thức, kỹ năng cần thiết) đáp ứng một phần nhu cầu của nhân dân trên địa bàn. Tính đến nay, các trung tâm học tập cộng đồng trong tỉnh đã có 250.000 lượt người theo học. (các trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh đến thời điểm hiện nay, chưa có trung tâm nào đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận hoạt động dạy nghề theo quy định)

Ngoài các cấp độ A,B,C, căn cứ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và nhu cầu người học, các trung tâm Giáo dục thường xuyên liên kết mở các lớp bồi dưỡng tin học chuyên ngành, kỹ thuật viên công nghệ thông tin, kế toán tin học… Hiện nay chỉ tính ở các trung tâm giáo dục thường xuyên đã mở lớp giảng dạy 2.971 học viên tin học và 6.853 học viên ngoại ngữ.

d) Giáo dục đại học:

Tuyển sinh hệ đại học, cao đẳng có tỉ lệ trúng tuyển dao động từ 18% đến 22%/năm, hệ Trung cấp chuyên nghiệp trong tỉnh có tỉ lệ trúng tuyển bình quân 50%/năm và hệ dạy nghề có tỉ lệ trúng tuyển 65%/năm. Đến nay, số sinh viên theo học tại các trường đại học trong và ngoài tỉnh thuộc các hệ đào tạo là 18.498 sinh viên, cao đẳng là 3.311 sinh viên, trung cấp chuyên nghiệp là 6.548 sinh viên, trung cấp nghề là 1.912 sinh viên, đạt tỉ lệ 137 sinh viên đại học, cao đẳng/10.000 dân.



đ) Đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục - đào tạo:

Từ năm 2006 đến nay, ngân sách đầu tư của tỉnh để phát triển cơ sở vật chất trường học từ các nguồn đã tăng nhanh. Tỉnh đã sử dụng hầu hết nguồn thu từ quỹ xổ số kiến thiết để đầu tư cho các công trình giáo dục. Ngân sách đầu tư cho giáo dục chiếm từ 30 đến 40 % ngân sách đầu tư của tỉnh.

Các dự án đầu tư từ năm 2006 đến nay là:

+ Dự án trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: có tổng vốn đầu tư là 45.000 triệu đồng.

+ Dự án Phát triển giáo dục THCS II: 1.935 triệu đồng.

+ Đề án Mẫu giáo 5 tuổi đầu tư 63 phòng học + 21 văn phòng, vốn 15.760 triệu đồng

+ Đề án thực hiện mục tiêu mức chất lượng tối thiểu trường tiểu học đầu tư 991 phòng học, vốn 243.502 triệu đồng (ngân sách tỉnh, huyện).

+ Chương trình kiên cố hóa trường, lớp giai đoạn 1 là 146 điểm, 968 phòng, ước vốn đầu tư là 160 tỷ đồng, đã nghiệm thu đưa vào sử dụng.

+ Chương trình kiên cố hóa trường, lớp giai đoạn 2: Tổng chương trình dự kiến là 393 điểm trường (2.109 phòng học) và 57 điểm nhà công vụ (7.596 m2). Đến nay đã nghiệm thu 135 điểm (715 phòng), tỷ lệ 66,30 % (so số phòng); đang thi công 59 điểm (9337 phòng), tỷ lệ 31,20% (so số phòng), giai đoạn thầu 2 điểm (23 phòng), tỷ lệ 2,13% (so số phòng); đang lập hồ sơ 01 điểm (02 phòng), tỷ lệ 0,18% (so số phòng).

Đến nay, số phòng học kiên cố và bán kiên cố các cấp như sau: tiểu học 97,6%, THCS 97,6%, THPT 98,4%. Số lượng trường đạt chuẩn quốc gia ở các ngành học, cấp học tăng chậm và còn chiếm tỉ lệ thấp. Tổng số trường đạt chuẩn là 44 trường, trong đó mầm non có 9 trường, tiểu học có 21 trường, trung học cơ sở có 8 trường, trung học phổ thông có 6 trường. Sở Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng xong Đề án Xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2010-2020 với tổng kinh phí dự kiến trên 3.200 tỷ đồng. Hiện Đề án đang triển khai thực hiện.



5. Về đào tạo nghề:

a) Dạy nghề thường xuyên (thời gian dưới 3 tháng):

Số người được đào tạo nghề thường xuyên năm 2007 trên 8.767 người, năm 2010 trên 11.000 người và giai đoạn 2007-2010 là 44.131 người.



b) Sơ cấp nghề:

Số người được đào tạo sơ cấp nghề năm 2007 là 6.016 người, năm 2010 là 9.248 người và giai đoạn 2007 – 2010 là 28.984 người.



c) Trung cấp nghề:

Số người được đào tạo trung cấp nghề năm 2007 là 661 người, năm 2010 là 950 người và giai đoạn 2007 – 2010 là 3.417 người.



d) Cao đẳng nghề:

- Số người được đào tạo Cao đẳng nghề năm 2007 có 111 người, năm 2010 có 932 người và giai đoạn 2007 – 2010 là 2.663 người.

Từ năm 2006 trở về trước, dạy nghề phân ra 2 cấp trình độ là dạy nghề ngắn hạn và dạy nghề dài hạn. Đến năm 2007, khi có Luật Dạy nghề thì dạy nghề được chia làm 3 cấp đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, ngoài ra còn có hình thức dạy nghề thường xuyên (thời gian đào tạo dưới 3 tháng).

Kết quả tuyển sinh dạy nghề năm 2006: Dạy nghề ngắn hạn là 19.766 người, dạy nghề dài hạn có 934 người.



đ) Đầu tư cơ sở vật chất cho đào tạo nghề:

Mạng lưới dạy nghề, giới thiệu việc làm phát triển đúng theo quy hoạch. Số cơ sở dạy nghề tăng nhanh từ 17 cơ sở năm 2006, nâng lên 33 cơ sở năm 2010 (tăng trên 94%). Hệ thống các trường dạy nghề được đầu tư xây dựng và từng bước thực hiện đào tạo theo 03 cấp trình độ (sơ cấp, trung cấp và cao đẳng nghề) nhằm thúc đẩy cơ cấu đào tạo theo hướng hợp lý, hiệu quả hơn.

Tổng nguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị dạy nghề từ năm 2006 đến 2010 là 189 tỷ 517 triệu đồng. Trong đó, kinh phí trung ương hỗ trợ từ Dự án “Tăng cường năng lực dạy nghề” và bổ sung kinh phí để thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” gần 102 tỷ đồng (trong đó: đầu tư CSVC 43 tỷ 500 triệu đồng, mua trang thiết bị 38 tỷ 500 triệu đồng); kinh phí địa phương là 87 tỷ 577 triệu đồng, chủ yếu đầu tư xây dựng CSVC cho các trường và trung tâm dạy nghề.

e) Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề:

Số cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề được bổ sung tăng thêm hàng năm. Tính đến cuối năm 2010 có 850 người, tăng 421 người so với năm 2006 (năm 2006 có 429 người). Trong đó có 575 người tham gia dạy nghề (năm 2006 có 273 người), tăng 110 % so với năm 2006. Trong tổng số giáo viên tham gia dạy nghề có 373 người là giáo viên cơ hữu, tăng 49% (năm 2006 có 251 người).

Hiện nay, số giáo viên cơ hữu chủ yếu tập trung ở các trường như: Cao đẳng nghề (215 người), Trung học Y tế, các trung tâm cấp tỉnh và ở một số cơ sở dạy nghề ngoài công lập. Đối với các trung tâm dạy nghề huyện do không có bố trí biên chế giáo viên nên hầu hết áp dụng hình thức thỉnh giảng, hợp đồng giáo viên theo tiến độ mở lớp. Mặc dù theo Quyết định 1956/QĐ-TTg có quy định “… mỗi nghề có ít nhất một giáo viên cơ hữu …” và “ … mỗi huyện có 01 biên chế chuyên trách quản lý công tác dạy nghề ở cấp huyện ...” nhưng do hiện nay biên chế của tỉnh không còn nên chưa thực hiện được các quy định trên. Thời gian qua, Trường Cao đẳng nghề đã hỗ trợ tích cực lực lượng giáo viên dạy nghề cho các trung tâm theo hình thức thỉnh giảng, ký hợp đồng theo tiến độ mở lớp trong khi các trung tâm dạy nghề huyện chưa có giáo viên cơ hữu.

6. Thực trạng cán bộ công chức viên chức tỉnh: (tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2010):

a) Cấp tỉnh:

Công chức trong cơ quan hành chính:

Tổng số là 1.287 người, trong đó: Tiến sỹ 04 người (0,31%), thạc sĩ 68 người (5,28%), đại học 915 người (71,10%), cao đẳng 16 người (1,24%), trung cấp 138 người (10,72%), còn lại 146 người (11,34%). (chi tiết đính kèm Biểu 1)



Sự nghiệp cấp tỉnh:

Tổng số là 11.055 người, trong đó: Tiến sỹ 12 người (0,11%), thạc sĩ 436 người (3,94%), đại học 5.457 người (49,4%), còn lại 5.150 người (46,59%). (chi tiết đính kèm Biểu 2)



b) Cấp huyện:

Công chức trong cơ quan hành chính:

Tổng số là 1.248 người, trong đó: Thạc sĩ 12 người (0,96%), đại học 910 người (72,92%), cao đẳng 23 người (1,84%), trung cấp 202 người (16,19%), còn lại 101 người (8,09%). (chi tiết đính kèm Biểu 3)



Sự nghiệp cấp huyện:

Tổng số là 22.180 người, trong đó: Thạc sĩ 04 người (0,02%), đại học 7.452 người (33,69%), còn lại 14.724 người (66,38%). (chi tiết đính kèm Biểu 4)



c) Cấp xã:

Cán bộ chuyên trách cấp xã:

Tổng số là 1.701 người, trong đó: Thạc sĩ 08 người (0,47%), đại học 498 người (29,28%), cao đẳng là 37 người (2,18%), trung cấp 682 người (40,09%), sơ cấp 38 người (2,23%), chưa qua đào tạo 438 người (25,75%). (chi tiết đính kèm Biểu 5)



Công chức cấp xã:

Tổng số là 1.453 người, trong đó: Đại học 282 người (19,41%), cao đẳng là 19 người (1,31%), trung cấp 930 người (64,01%), sơ cấp 63 người (4,34%), chưa qua đào tạo 159 người (10,94%). (chi tiết đính kèm Biểu 6)



Cán bộ không chuyên trách cấp xã:

Tổng số 5.364 người, trong đó: Đại học 197 người (3,67%), cao đẳng là 17 người (0,32%), trung cấp 1.248 người (23,27%), sơ cấp 480 người (8,95%), chưa qua đào tạo 3.422 người (63,8%). (chi tiết đính kèm Biểu 7)



7. Thực trạng đội ngũ cán bộ (CB), công chức (CC), viên chức (VC) các ngành, lĩnh vực:

a) Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn:

Tổng số nhân lực của ngành 1.012 người. Trong đó trình độ thạc sỹ 31 người, đại học 604 người, cao đẳng 46 người, trung cấp 264 người và trình độ khác là 67 người.



b) Ngành công thương:

- Tổng số nhân lực của ngành Công thương là 223 cán bộ, công chức, viên chức. Trong đó tốt nghiệp thạc sỹ 02 người, đại học 157 người, cao đẳng 01 người, trung cấp 44 người và chưa qua đào tạo chuyên môn là 19 người.

- Trình độ chuyên môn:

+ Tốt nghiệp thạc sỹ, đại học, cử nhân, kỹ sư các ngành: Kinh tế, Ngân hàng, Tài chính Kế toán, Công nghệ Thông tin, Anh văn, Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Sinh học, Luật, Quản lý Công nghiệp, Tài chính Doanh nghiệp, Địa chất, Cơ khí, Hóa, Môi trường, Điện Công nghiệp, Điện – Điện tử, Quản trị Kinh doanh, Thống kê Tin học….

+ Tốt nghiệp cao đẳng ngành Sư phạm.

+ Tốt nghiệp trung cấp các ngành: Kế toán, Hành chính, Nghiệp vụ kinh doanh Xuất Nhập khẩu.



c) Ngành xây dựng:

Tổng số nhân lực của ngành xây dựng là 67 cán bộ, công chức, viên chức. Trong đó tốt nghiệp thạc sỹ 04 người, đại học 53 người, trung cấp 04 người và chưa qua đào tạo chuyên môn là 6 người.



d) Ngành kế hoạch và đầu tư:

Tổng số cán bộ, công chức, viên chức của ngành 106 người, trong đó, có 8 người có trình độ trung cấp, 02 người có trình độ cao đẳng, 93 đại học và 2 thạc sỹ còn lại là sơ cấp.



đ) Ngành thống kê:

Tổng số cán bộ, công chức, viên chức của ngành là 88 người. Trình độ chuyên môn đại học và cao đẳng là 56 người, trung cấp 31 người.


e) Ngành tài chính:

- Tổng số cán bộ, công chức, viên chức của ngành 244 người (bao gồm: CBCCVC các phòng, Trung tâm Thẩm định Tài chính thuộc Sở Tài chính và Phòng tài chính huyện, thị xã, thành phố).

- Trình độ chuyên môn: Trên đại học 03 người, 180 đại học, 03 cao đẳng, 44 trung cấp, khác 14 người.

f) Ngành tư pháp:

- Tổng số cán bộ, công chức, viên chức của ngành 78.

- Trình độ chuyên môn: 01thạc sĩ, 65 đại học, 06 trung cấp.

g) Ngành giao thông vận tải:

Tổng số nhân lực của ngành là 7.774 người (gồm có: 2.873 người là công nhân kỹ thuật, lao động trực tiếp, 3.887 người là cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, cán bộ kỹ thuật và chuyên gia và 1.014 người là cán bộ lãnh đạo, quản lý). Trong đó: Cao học là 169 người, đại học 4.732 người, trung cấp 2.028 người, sơ cấp là 845 người.



h) Ngành thông tin và truyền thông:

- Tổng số CBCC của ngành (Sở Thông tin và Truyền thông và các cán bộ phụ trách lĩnh vực thông tin và truyền thông Phòng Văn hóa Thông tin huyện, thị xã, thành phố): 70 CBCCVC.

- Trình độ chuyên môn: 02 thạc sĩ, 60 đại học, cao đẳng, 08 trung cấp và trình độ khác.

i) Ngành khoa học công nghệ:

- Tổng số cán bộ, công chức, viên chức của ngành 68.

- Trình độ chuyên môn: 01 tiến sĩ, 77 thạc sĩ, 46 đại học và cao đẳng, 06 trung cấp, 02 sơ cấp.

k) Ngành giáo dục và đào tạo:

Cán bộ quản lý toàn ngành có 1.732 người. Trong đó đảng viên đạt 93,16%; 100% đạt chuẩn, 78,30% trên chuẩn. Giáo viên toàn ngành có 19.687 người. Trong đó đảng viên đạt 40,66%, có 100% đạt chuẩn, 52,17% trên chuẩn.

Tỷ lệ cô nuôi nhà trẻ bình quân các nhóm hiện nay là 16,67 cháu/cô, mặc dù đã có nhiều cải thiện so với đầu giai đoạn nhưng vẫn còn rất cao so với quy định, số giáo viên/lớp mẫu giáo tương đối đủ là 1,08%, trong đó lớp bán trú đạt 2 giáo viên/lớp, lớp một buổi đạt 1 giáo viên/lớp. Tuy nhiên, tỷ lệ giáo viên/lớp ở các cơ sở ngoài công lập còn thấp, lại chưa đủ chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ (nhà trẻ chưa đạt chuẩn 58,25%, mẫu giáo chưa đạt chuẩn 51,23%).

Giáo viên tiểu học cả tỉnh đạt tỷ lệ 1,2 giáo viên/lớp và đã đạt chuẩn quy định; chỉ số học sinh /lớp giảm nhanh và đạt khoảng 29 em.

Số giáo viên trung học đã cơ bản đáp ứng yêu cầu giảng dạy, đã được chuẩn hóa. Tỷ lệ giáo viên/lớp ở cấp THCS trên 2,00; cấp THPT trên 2,30 (cao hơn quy định).

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn thiếu giáo viên ở ngành học mầm non, giáo viên tiểu học (phục vụ yêu cầu dạy 2 buổi/ngày và giáo viên chuyên dạy các môn chuyên biệt), đối với giáo viên trung học mặc dù vượt tỉ lệ quy định, nhưng chưa đồng bộ.



l) Ngành y tế:

Về nhân lực ngành y tế, đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có 6.108 CBCCVC, trong đó có 930 bác sỹ (trong đó có 05 Tiến sỹ, 35 thạc sỹ, 18 bác sỹ chuyên khoa 2, 309 bác sỹ chuyên khoa 1), 704 cán bộ dược (trong đó 72 DSĐH), 1.474 điều dưỡng và y tá, 632 nữ hộ sinh, 1.243 y sỹ các loại, 127 kỹ thuật viên. Tỷ lệ CB y tế/10.000 dân (chỉ tính cán bộ chuyên môn) là 23,74; Tỷ lệ bác sỹ/ 10.000 dân là 5,14; Tỷ lệ DSĐH/10.000 dân là 0,93; (các số liệu này còn thấp so với mức bình quân chung của cả nước (bình quân chung cả nước năm 2010: tỷ lệ BS/ 10.000 dân là 7; tỷ lệ DSĐH/10.000 dân là 1).



m) Ngành văn hóa, thể thao và du lịch:

- Tổng số CBCCVC ngành văn hóa, thể thao và du lịch (VHTTDL) từ tỉnh đến huyện là 745 người (quản lý nhà nước 155 người; sự nghiệp 590 người) trong đó có 02 tiến sĩ (chiếm 0,26%), 09 thạc sỹ (1,2%), 224 Đại học (30%), 20 cao đẳng (2,6%), trung cấp 101 (13,6%), sơ cấp và trình độ phổ thông chủ yếu là viên chức năng khiếu nghệ thuật và hướng dẫn viên TDTT, … 389 (52,2%).

+ Trình độ ngoại ngữ tập trung chủ yếu là Anh văn, gồm: 20 đại học (2,6%), chứng chỉ A trở lên 167 (22,4%), chưa có bằng cấp, chứng chỉ 558 (74,8%)

+ Trình độ tin học: Số CBCC biết sử dụng máy tính trong công việc là 461/745 đạt 61,8%, còn lại 38,2% chưa biết sử dụng máy tính hoặc không có điều kiện sử dụng máy tính (chủ yếu là CBCC lớn tuổi và những đơn vị chưa có điều kiện trang bị đầy đủ máy tính).

- Cán bộ VHTTDL- Đài truyền thanh, cán bộ gia đình – trẻ em cấp xã hiện có 516 người trong đó được đào tạo (quản lý VHTDTT, báo chí, hành chính…) 186 trung cấp chiếm 36%, 20 đại học 3,9%, 310 lao động năng khiếu, phổ thông chiếm 60%.

n) Ngành lao động, thương binh và xã hội:

Tổng số cán bộ, công chức, viên chức của ngành là 310 người.

Trình độ chuyên môn: 145 người có trình độ đại học, 88 người có trình độ trung cấp, còn lại là sơ cấp và chưa qua đào tạo.

p) Ngành tài nguyên và môi trường:

- Tổng số cán bộ, công chức, viên chức của ngành là 732 cán bộ, công chức, viên chức và lao động với 696 người đã được đào tạo các chuyên ngành Đất đai, Môi trường, Đo đạc bản đồ, Địa chất – khoáng sản, Nước - thủy lợi, tin học, chính trị và các chuyên ngành khác ở trình độ từ trung cấp đến sau đại học (chiếm 95,08% so với tổng số cán bộ)

- Trình độ chuyên môn: Trong tổng số cán bộ, công chức, viên chức có 07 Thạc sĩ, chiếm 0,86% thuộc các ngành môi trường, địa chất, kinh tế; 410 người có trình độ đại học chiếm 58,91%; 12 người trình độ cao đẳng chiếm 1,72%; 274 cán bộ trình độ trung cấp, chiếm 39,37%; về chính trị có 18 trường hợp đạt trình độ cử nhân và cao cấp, 61 trình độ trung cấp; về tin học có 14 trường hợp đạt trình độ đại học, cao đẳng và 415 trường hợp có chứng chỉ; về ngoại ngữ có 351 trường hợp có chứng chỉ từ trình độ A đến C.

- Hiện có 01 trường hợp đang học Tiến sĩ chuyên ngành Khoa học đất tại Đại học Cần thơ và Thạc sĩ môi trường tại Trung Quốc.



q) Các ban Đảng, Mặt trận và các đoàn thể:

Tổng số cán bộ, công chức khối đảng, đoàn thể cấp tỉnh hiện có là 1.350 người. Trong đó: Tiến sỹ 5 người, thạc sỹ 31 người, đại học 845 người, cao đẳng 39 người, trung cấp 214 người, còn lại 216 người.

Trong tổng số 1.350 người, chia ra:

+ Cấp tỉnh là 496 người. Trong đó: Tiến sỹ 4 người, thạc sỹ 27 người, đại học 322 người, cao đẳng 7 người, trung cấp 57 người, còn lại 79 người.

+ Cấp huyện là 854 người. Trong đó: Tiến sỹ 1 người, thạc sỹ 4 người, đại học 523 người, cao đẳng 32 người, trung cấp 157 người, còn lại 137 người.

8. Chất lượng nguồn nhân lực:

Nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh còn thấp so với mặt bằng chung của Vùng ĐBSCL và rất thấp so với cả nước, số người đủ 15 tuổi chưa đi học còn chiếm trên 10%, xếp thứ 11/13, chưa tốt nghiệp tiểu học chiếm trên 32%, xếp thứ 13/13, số người chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm trên 94% tổng số đứng thứ 11/13, trình độ trung cấp chỉ chiếm 1,8%, xếp thứ 11/13, trình độ cao đẳng chỉ chiếm 0,7%, xếp thứ 10/13 so các tỉnh trong Vùng ĐBSCL, cụ thể:



a) Về trình độ học vấn:

Theo kết quả tổng điều tra dân số ngày 01 tháng 4 năm 2009 của cả nước, thì số người đủ 15 tuổi trở lên của tỉnh An Giang là 1.623.518 người, trong đó chưa đi học 166.061 người (chiếm 10,3% trên dân số đủ 15 tuổi trở lên), xếp hạng thứ 11/13 so với các tỉnh trong vùng ĐBSCL (trên Sóc Trăng và Trà Vinh); chưa tốt nghiệp tiểu học 511.080 người (chiếm 31,7%), xếp hạng thứ 13/13 so các tỉnh trong vùng ĐBSCL; tốt nghiệp tiểu học 519.142 người (chiếm 32,2%), xếp hạng thứ 13/13 so các tỉnh trong vùng ĐBSCL; tốt nghiệp trung học cơ sở là 230.550 người (chiếm 14,3%), xếp hạng thứ 13/13 so các tỉnh trong Vùng ĐBSCL; tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên 185.408 người (chiếm 11,5%), xếp hạng thứ 10/13 so các tỉnh trong vùng ĐBSCL (trên Cà Mau, Đồng Tháp, Kiên Giang)


b) Về chuyên môn kỹ thuật:

Trong tổng số 1.623.518 người từ 15 tuổi trở lên thì số người chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của tỉnh là 1.518.731 người (chiếm 94,2% tổng số người từ 15 tuồi trở lên), xếp hạng thứ 9/13 so các tỉnh trong vùng ĐBSCL (trên Sóc Trăng, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang); trình độ sơ cấp có 20.959 người (chiếm 1,5%), xếp hạng thứ 8/13 so các tỉnh trong vùng ĐBSCL (trên Cà Mau, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bến Tre); trình độ trung cấp là 29.020 người (chiếm 1,8%), xếp hạng thứ 11/13 so các tỉnh trong vùng ĐBSCL (trên Hậu Giang và ngang với Đồng Tháp); trình độ cao đẳng là 6.755 người (chiếm 0,7%), xếp hạng thứ 10/13 so các tỉnh trong vùng ĐBSCL (trên Cà Mau và ngang với Kiên Giang, Bạc Liêu); trình độ đại học trở lên là 11.263 người (chiếm 2%), xếp hạng thứ 3/13 so các tỉnh trong vùng ĐBSCL (dưới Cần Thơ, Vĩnh Long và ngang với Kiên Giang, Bạc Liêu)



- Về lao động qua đào tạo:

Qua kết quả điều tra năm 2009, trình độ chuyên môn kỹ thuật chia theo khu vực thành thị và nông thôn có khoảng cách khá lớn về số người được đào tạo chuyên môn kỹ thuật ở tất cả các trình độ đào tạo. Tỷ lệ được đào tạo từ trình độ trung cấp trở lên ở khu vực thành thị khoảng 8,6%, cao gấp hơn 3 lần khu vực nông thôn khoảng 2,9%. Trong nhiều năm qua, việc phát triển đào tạo chuyên môn kỹ thuật đã có những bước cải thiện, tuy nhiên sự mất cân đối trong cơ cấu đào tạo nghề thực sự là vấn đề và cần có chính sách điều chỉnh phù hợp. Trong thời gian tới, yêu cầu phát triển KT-XH đòi hỏi nhu cầu về lao động chất lượng cao và lành nghề, nhưng rõ ràng lượng cung hiện tại không thể đáp ứng được nhu cầu đó. Cần có các giải pháp hữu hiệu của Tỉnh để giải quyết tình trạng mất cân đối trong đào tạo hiện nay, đồng thời cần có giải pháp kết nối cung - cầu giữa hệ thống GD&ĐT và người sử dụng lao động nhằm đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng của thị trường lao động.

Kết quả tổng điều tra năm 2009 cho thấy tỷ trọng lao động đã qua đào tạo ở tỉnh An Giang vẫn còn thấp. Năm 2009 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 30,03%, nhưng chỉ có 7,1% lao động được cấp chứng chỉ, còn lại 23,2% lao động qua đào tạo ngắn hạn (dưới 3 tháng và không có cấp chứng chỉ). Năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh chỉ đạt 34% (còn 66% chưa qua đào tạo). Như vậy, nguồn nhân lực của tỉnh An Giang trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật chuyên môn kỹ thuật còn khá thấp. Con số này đặt ra nhiệm vụ nặng nề cho những cố gắng nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế của Tỉnh.


: VBPQ -> vbdh.nsf
vbdh.nsf -> Số: 1044/ubnd-th long Xuyên, ngày 08 tháng 4 năm 2010
vbdh.nsf -> Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh an giang độc lập Tự do Hạnh phúc
vbdh.nsf -> Về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 134/ct-ttg ngày 20 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ chủ TỊch ủy ban nhân dân tỉnh an giang
vbdh.nsf -> UỶ ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh an giang độc lập Tự do Hạnh phúc
vbdh.nsf -> Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh an giang độc lập Tự do Hạnh phúc
vbdh.nsf -> V/v: đề xuất các cơ chế chính sách và rà soát danh mục dự án đầu tư trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh đến năm 2020
vbdh.nsf -> Ủy ban nhân dân tỉnh an giang số: 1512/QĐ-ubnd cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
vbdh.nsf -> Ủy ban nhân dân tỉnh an giang cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
vbdh.nsf -> TỈnh an giang cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc Số: 1822 /QĐ-ubnd an Giang, ngày 14 tháng 10 năm 2011 quyếT ĐỊnh về việc ban hành Kế
vbdh.nsf -> TỈnh an giang cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam


  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương