Ủy ban giáo dâN trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam giáo dân tập dài 2012 lhnb



tải về 0.91 Mb.
trang1/11
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.91 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


ỦY BAN GIÁO DÂN

trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam
GIÁO DÂN





Tập dài 2012

LHNB
Giáo dân hưởng ứng Năm Đức Tin (tập dài)

In lần thứ nhất: 2012



This document may not be copied, photocopied, reproduced, translated or reduced to any electronic medium or machine readable form, without prior consent from the author.

LỜI NÓI ĐẦU

Tài liệu Hướng dẫn mục vụ cho Năm Đức Tin cho biết Năm Đức Tin sẽ là cơ hội tốt cho các tín hữu:1 (1) học hỏi kỹ lưỡng hơn những văn kiện của Công đồng Vaticanô II;2 và (2) nghiên cứu ứng dụng nhiều hơn về nội dung sách Giáo lý Giáo hội Công giáo.3

Trong tinh thần phục vụ, dưới sự hướng dẫn và khích lệ rất ân cần của Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu, Chủ tịch Ủy ban Giáo dân trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, một số thành viên Ủy ban Giáo dân đã nỗ lực góp phần biên soạn tập sách: Giáo dân hưởng ứng Năm Đức Tin (tập dài).

Theo đó, để tiện dụng cho các khóa huấn luyện ngắn hạn dành riêng cho giáo dân, tập sách mỏng cũng được biên soạn, bao gồm chủ yếu những trích dẫn từ các chương đầu trong tập tài liệu dài nêu trên. Do vậy, sách có cùng tên Giáo dân hưởng ứng Năm Đức Tin (tập ngắn).

Tin tưởng rằng cả hai tập sách “dài cũng như ngắn” đều muốn góp phần giúp độc giả hướng nhìn về Chúa Giêsu Kitô “là nguồn gốc và là tận điểm của đức tin”,4 nhóm biên soạn xin được chung tay cổ võ các việc làm thích hợp với đức tin, bởi: “Đức tin không có hành động là đức tin chết”.5 

Sài Gòn, ngày 01 tháng 10 năm 2012



VP. Ủy ban Giáo dân (HĐGMVN)

Bảng các từ viết tắt


AA

Apostolicam actuositatem (Sắc lệnh về tông đồ giáo dân)

AG

Ad gentes (Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo hội)

BGL

Bộ giáo luật 1983 (Codex Iuris Canonici 1983)

CD

Christus Dominus (Sắc lệnh về nhiệm vụ mục vụ của các giám mục trong Giáo hội)

CL

Christifideles laici (Tông huấn Kitô hữu giáo dân)

DH

Dignitatis humanae (Tuyên ngôn về tự do tôn giáo)

DV

Dei Verbum (Hiến chế tín lý về mạc khải của Thiên Chúa)

đ.

Điều (Bộ giáo luật 1983)

GE


Gravissimum educationis (Tuyên ngôn về giáo dục Kitô giáo)

GLGHCG


Giáo lý Giáo hội Công giáo (Catechismus Catholicae Ecclesiae)

GS

Gaudium et spes (Hiến mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay)


IM

Inter mirifica (Sắc lệnh về các phương tiện truyền thông xã hội)


LG

Lumen gentium (Hiến chế tín lý về Giáo hội)

NA

Nostra aetate (Tuyên ngôn về liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo)

OE

Orientalium ecclesiarum (Sắc lệnh về các giáo hội Công giáo Đông phương)

OT

Optatam totius (Sắc lệnh về đào tạo linh mục)

PDV

Pastores dabo vobis (Tông huấn Hậu thượng Hội đồng Pastores dabo vobis)

PC

Perfectae caritatis (Sắc lệnh về canh tân thích nghi đời sống dòng tu)

PF

Porta fidei (Tông thư tụ sắc Cửa Đức Tin)

PO

Presbyterorum ordinis (Sắc lệnh về chức vụ và đời sống các linh mục)

SC

Sacrosanctum concilium (Hiến chế tín lý về phụng vụ thánh)

UR

Unitatis redintegratio (Sắc lệnh về hiệp nhất)

Chương I

BẢN VĂN

TÔNG THƯ TỰ SẮC PORTA FIDEI

HƯỚNG DẪN MỤC VỤ CHO NĂM ĐỨC TIN

    1. Nguyên văn Tông thư tự sắc Porta fidei về Năm Ðức Tin của Ðức Thánh cha Bênêđictô XVI6

TÔNG THƯ

TỰ SẮC PORTA FIDEI7



1. “Cánh cửa đức tin” (x. Cv 14,27) dẫn vào đời sống hiệp thông với Thiên Chúa và vào Giáo hội vẫn luôn mở rộng cho chúng ta. Chúng ta có thể bước qua ngưỡng cửa đó khi Lời Chúa được loan báo và để cho tâm hồn được ân thánh biến đổi. Việc bước qua cánh cửa ấy kèm theo sự dấn thân trong một hành trình kéo dài suốt đời. Hành trình này bắt đầu với bí tích Rửa Tội (x. Rm 6,4), nhờ đó chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là Cha, và kết thúc với sự tiến qua cái chết đi vào sự sống đời đời, thành quả sự phục sinh của Chúa Giêsu, Ðấng đã muốn cho tất cả những người tin nơi Ngài (x. Ga 17,22) được tham dự cùng vinh quang của Ngài, nhờ hồng ân của Thánh Linh. Tuyên xưng niềm tin nơi Chúa Ba Ngôi - Cha, Con và Thánh Linh - cũng có nghĩa là tin nơi một Thiên Chúa duy nhất là Tình Thương (x. 1Ga 4,8): Chúa Cha đã sai Con của Ngài đến, khi thời gian viên mãn, để cứu độ chúng ta; Chúa Giêsu Kitô đã cứu chuộc trần thế trong mầu nhiệm cái chết và sống lại của Ngài; Chúa Thánh Linh dẫn đưa Giáo hội qua dòng thời gian trong khi chờ đợi Chúa tái lâm trong vinh quang.

2. Ngay từ khi bắt đầu sứ vụ như Người Kế Vị Thánh Phêrô, tôi đã nhắc nhở về sự cần thiết phải tái khám phá hành trình đức tin để ngày càng làm nổi bật niềm vui và lòng hăng say phấn khởi được đổi mới nhờ được gặp gỡ Chúa Giêsu. Trong bài giảng Thánh Lễ khai mạc triều đại Giáo Hoàng, tôi đã nói: “Giáo hội nói chung và các vị Mục Tử trong Giáo hội, giống như Chúa Kitô, phải lên đường, để dẫn đưa con người ra khỏi sa mạc, tiến đến sự sống, hướng về tình bạn với Con Thiên Chúa, về Ðấng ban cho chúng ta sự sống, sự sống sung mãn” (1). Nhưng xảy ra là nhiều khi các tín hữu Kitô bận tâm nhiều hơn tới những hậu quả xã hội, văn hóa và chính trị trong sự dấn thân của họ, họ tiếp tục nghĩ tới đức tin như một điều giả thiết hiển nhiên của cuộc sống chung. Trong thực tế, giả thiết ấy không còn hiển nhiên như vậy nữa, nhưng thậm chí nhiều khi còn bị phủ nhận (2). Trong quá khứ người ta có thể nhận ra một hệ thống văn hóa nhất thống, được đa số chấp nhận, có tham chiếu nội dung đức tin và các giá trị được đức tin gợi hứng, nhưng ngày nay, trong phần lớn các lãnh vực xã hội không còn như thế nữa, vì có cuộc khủng hoảng đức tin sâu xa nơi nhiều người.

3. Chúng ta không thể chấp nhận để cho muối trở nên nhạt và ánh sáng bị che kín (x. Mt 5,13-16). Cả con người ngày nay cũng có thể tái cảm thấy nhu cầu như người phụ nữ xứ Samaria đến giếng nước để lắng nghe Chúa Giêsu, Ðấng mời gọi hãy tin nơi Người và kín múc nơi nguồn mạch của Ngài vọt lên dòng nước sự sống (x. Ga 4,14). Chúng ta phải tìm lại sở thích nuôi dưỡng mình bằng Lời Chúa được Giáo hội trung thành truyền lại, và bằng Bánh Sự Sống, được trao ban để nâng đỡ các môn đệ của Chúa (x. Ga 6,51). Thực vậy, giáo huấn của Chúa Giêsu vẫn còn vang dội mạnh mẽ ngày nay như trước đây: “Các con hãy cố gắng làm việc không phải để được lương thực mau qua, nhưng là lương thực tồn tại mãi mãi” (Ga 6,27). Câu hỏi mà những người nghe Chúa nêu lên cũng là thắc mắc đối với chúng ta ngày này: “Chúng tôi phải làm gì thể thi hành những công việc của Thiên Chúa?” (Ga 6,28). Chúng ta biết câu trả lời của Chúa Giêsu: “Công việc của Thiên Chúa là: Anh em hãy tin nơi Ðấng mà Ngài đã sai đến” (Ga 6,29). Vì thế, tin nơi Chúa Giêsu Kitô là con đường để có thể đạt tới ơn cứu độ một cách vĩnh viễn.

4. Dưới ánh sáng tất cả những điều đó, tôi quyết định ấn định Năm Ðức Tin. Năm này sẽ bắt đầu từ ngày 11 tháng 10 năm 2012, kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng chung Vatican II, và sẽ kết thúc vào lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, ngày 24 tháng 11 năm 2013. Ngày 11 tháng 10 năm 2012 chúng ta cũng kỷ niệm 20 năm “Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo”, được vị Tiền Nhiệm của tôi, Ðức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 (3) công bố, với mục đích trình bày cho tất cả các tín hữu sức mạnh và vẻ đẹp của đức tin. Văn kiện này, thành quả đích thực của Công đồng chung Vatican II, đã được Thượng HÐGM khóa đặc biệt năm 1985 mong ước như một dụng cụ để phục vụ việc huấn giáo (4) và được thực hiện với sự cộng tác của toàn thể hàng Giám Mục của Giáo hội Công Giáo. Và chính Thượng HÐGM đã được tôi triệu tập vào tháng 10 năm 2012 về đề tài “Tái truyền giảng Tin mừng để thông truyền đức tin Kitô”. Ðó sẽ là một dịp thích hợp để dẫn đưa toàn thể cộng đoàn Giáo hội tiến vào một thời điểm để đặc biệt suy tư và tái khám phá đức tin. Ðây không phải lần đầu tiên Giáo hội được kêu gọi cử hành Năm Ðức Tin. Vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi, Vị Tôi Tớ Chúa Phaolô VI cũng đã ấn định Năm Ðức Tin như thế hồi năm 1967, để tưởng niệm 1.900 năm cuộc tử đạo của thánh Phêrô và Phaolô Tông Ðồ khi làm chứng tá tột đỉnh. Người đã nghĩ đến năm đó như một thời điểm long trọng để trong toàn thể Giáo hội có “một sự tuyên xưng cùng đức tin ấy một cách đích thực và chân thành”; ngoài ra, Người muốn rằng đức tin được củng cố “cá nhân và tập thể, tự do và ý thức, trong nội tâm cũng như bên ngoài, khiêm tốn và chân thành” (5). Qua đó, Ðức Cố Giáo Hoàng đã nghĩ rằng toàn thể Giáo hội có thể “tái ý thức chính xác về đức tin của mình, để làm cho đức tin được tái sinh động, thanh tẩy, củng cố, để tuyên xứng đức tin” (6). Những đảo lộn lớn xảy ra trong năm Ðức Tin ấy, càng làm cho sự cần thiết cử hành như thế trở nên hiển nhiên hơn. Việc cử hành Năm Ðức Tin ấy đã kết thúc với “Bản tuyên xưng Ðức Tin của Dân Chúa” (7), để làm chứng rằng các nội dung thiết yếu từ bao thế kỷ vốn là gia sản của mọi tín hữu, đang cần được củng cố, hiểu biết và đào sâu một cách ngày càng mới mẻ để làm chứng tá hợp với cuộc sống trong những hoàn cảnh lịch sử khác với quá khứ.

5. Dưới một số khía cạnh, vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi đã coi Năm Ðức Tin ấy như “một hệ luận và là một đòi hỏi sau Công đồng” (8), Ngài ý thức rõ về những khó khăn lớn của thời ấy, nhất là về việc tuyên xưng đức tin chân thực và giải thích đúng đắn. Tôi cho rằng việc khởi sự Năm Ðức Tin trùng với dịp kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng chung Vatican II có thể là một cơ hội thích hợp để hiểu rằng các văn kiện Công đồng, được các Nghị Phụ để lại như gia sản, “không bị mất giá trị, cũng như vẻ tươi sáng”. Cần đọc các văn kiện ấy một cách thích hợp, cần biết rõ và hấp thụ các văn kiện ấy như những văn bản giá trị và có tính chất qui phạm của Huấn Quyền Hội thánh, giữa lòng Truyền Thống của Giáo hội.. Hơn bao giờ hết tôi cảm thấy nghĩa vụ phải nêu cao Công đồng như “hồng ân lớn lao mà Giáo hội được hưởng trong thế kỷ 20”: trong đó chúng ta được một địa bàn chắc chắn để định hướng trong con đường của thế kỷ đang mở ra” (9). Tôi cũng muốn mạnh mẽ lập lại điều tôi đã quả quyết về Công đồng vài tháng sau khi tôi được bầu kế vị Thánh Phêrô, rằng: “Nếu chúng ta đọc và đón nhận Công đồng, với sự giải thích đúng đắn, thì Công đồng ngày càng có thể và trở thành sức mạnh lớn để thực hiện sự canh tân Giáo hội ngày càng cần thiết” (10).

6. Sự canh tân Giáo hội cũng tiến hành qua chứng tá cuộc sống của các tín hữu, qua chính cuộc sống giữa trần thế, các tín hữu được mời gọi làm cho Lời Chân lý mà Chúa Giêsu để lại cho chúng ta được chiếu sáng rạng ngời. Chính Công đồng, trong Hiến chế tín lý Lumen gentium, Ánh sáng muôn dân, đã quả quyết: “Trong khi Chúa Kitô, 'là đấng thánh, vô tội, không tỳ ố' (Dt 7,26) không hề biết tội (x. 2Cr 5,21), đã đến để đền tội bù tội lỗi của dân (Dt 2,17), thì Giáo hội, có cả những người tội lỗi trong cộng đoàn của mình, và vì thế Giáo hội vừa thánh thiện đồng thời cũng luôn cần được thanh tẩy, vẫn liên tục tiến bước trên con đường thống hối và canh tân. Giáo hội “tiếp tục cuộc lữ hành giữa những cuộc bách hại của trần thế và những an ủi của Thiên Chúa”, loan bao cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa cho đến khi Ngài đến (x. 1Cr 11,26). Từ sức mạnh của Chúa phục sinh, Giáo hội kín múc năng lực để kiên trì và yêu thương khắc phục những sầu muộn và khó khăn, đến từ bên trong cũng như bên ngoài, và để tỏ lộ mầu nhiệm về Chúa, giữa lòng thế giới, một cách trung thực, tuy không hoàn hảo, cho đến khi mầu nhiệm ấy được tỏ lộ trong ánh sáng sung mãn vào cuối thời gian” (11). Trong viễn tượng đó, Năm Ðức Tin là một lời mời gọi thực hiện một cuộc trở về cùng Chúa là Ðấng duy nhất cứu độ thế giới, một cách chân thực và mới mẻ. Trong mầu nhiệm sự chết và sống lại, Thiên Chúa đã biểu lộ trọn vẹn Tình Thương cứu độ và kêu gọi con người hoán cải cuộc sống nhờ ơn tha thứ tội lỗi (x. Cv 5,31). Ðối với thánh Phaolô Tông Ðồ, Tình Thương ấy dẫn con người đến cuộc sống mới: “Nhờ phép rửa, chúng ta cùng được chôn táng với Chúa trong cái chết, để như Chúa Kitô sống lại từ cõi chết nhờ vinh quang của Chúa Cha, cả chúng ta cũng có thể bước đi trong sự sống mới” (Rm 6,4). Nhờ đức tin, sự sống mới này hình thành toàn thể cuộc sống con người theo sự mới mẻ tuyệt đối của sự sống lại. Tùy theo mức độ tự nguyện sẵn sàng, các tư tưởng và tình cảm, tâm thức và thái độ của con người dần dần được thanh tẩy và biến đổi, trên con đường không bao giờ được hoàn tất ở đời này. Ðức tin “được năng động nhờ đức mến” (Gl 5,6) trở thành một tiêu chuẩn mới để hiểu biết và hành động, thay đổi toàn thể cuộc sống của con người (x. Rm 12,2; Cl 3,9-10; Ep 4,20-29; 2Cr 5,17).

7. “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta” (2Cr 5,14): chính tình yêu Chúa Kitô làm đầy tâm hồn chúng ta và thúc đẩy chúng ta loan báo Tin mừng. Ngày nay cũng như xưa kia, Chúa sai chúng ta ra đi trên các nẻo đường thế giới để công bố Tin mừng của Ngài cho mọi dân tộc trên trái đất (x. Mt 28,19). Chúa Giêsu Kitô yêu thương, lôi kéo con người thuộc mọi thế hệ đến với Ngài: trong mọi thời đại, Ngài triệu tập Giáo hội, ủy thác cho Giáo hội việc loan báo Tin mừng, với một mệnh lệnh luôn luôn mới mẻ. Vì thế, ngày nay cũng cần có một sự dấn thân xác tín hơn nữa của Giáo hội, thực hiện công cuộc tái truyền giảng Tin mừng để tái khám phá niềm vui đức tin và tìm lại sự hăng say thông truyền đức tin. Việc dấn thân truyền giáo của các tín hữu - vốn là điều không thể thiếu - kín múc được sức mạnh và năng lực trong sự khám phá hằng ngày tình yêu của Chúa. Thực vậy, đức tin tăng trưởng khi được sống như một cảm nghiệm về tình yêu đã nhận lãnh và khi được thông truyền như một kinh nghiệm về ơn thánh và niềm vui. Ðức tin phong phú hóa, vì mở rộng con tim trong niềm hy vọng và giúp mang lại một chứng tá có khả năng sinh sản: nó mở rộng tâm trí của những người lắng nghe và đón nhận lời Chúa mời gọi gắn bó với Lời Ngài để trở thành môn đệ của Ngài. Thánh Augustino làm chứng rằng các tín hữu “trở nên vững mạnh hơn nhờ tin tưởng” (12). Thánh Giám Mục thành Hippone đã có lý khi nói như vậy. Như chúng ta biết, cuộc sống của thánh nhân là một cuộc không ngừng tìm kiếm vẻ đẹp của đức tin cho đến khi tâm hồn ngài được nghỉ an trong Thiên Chúa (13). Nhiều tác phẩm của Người, trong đó có giải thích tầm quan trọng của đức tin và chân lý đức tin, cho đến nay vẫn còn là một gia sản phong phú khôn sánh và giúp bao nhiêu người tìm kiếm Thiên Chúa thấy được hành trình đúng đắn để tiến tới “cánh cửa đức tin”.

Vì vậy, chỉ nhờ tin tưởng mà đức tin tăng trưởng và vững mạnh; không có cách khác để đạt tới sự chắc chắn về chính cuộc sống của mình nếu không liên tục phó thác trong tay của một tình yêu ngày càng được cảm nghiệm lớn lao hơn vì bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa.



8. Trong dịp kỷ niệm tốt đẹp này, tôi muốn mời gọi các anh em giám mục trên toàn thế giới hãy hiệp với Người Kế Vị Thánh Phêrô, trong thời điểm ân phúc thiêng liêng mà Chúa ban cho chúng ta, để tưởng niệm hồng ân đức tin quí giá. Chúng ta hãy cử hành Năm Ðức Tin này một cách xứng đáng và phong phú. Cần gia tăng suy tư về đức tin để giúp tất cả các tín hữu của Chúa Kitô ý thức hơn và củng cố lòng gắn bó với Tin mừng, nhất là trong lúc có những thay đổi sâu xa mà nhân loại đang trải qua như hiện nay. Chúng ta sẽ có dịp tuyên xưng đức tin nơi Chúa Phục Sinh trong các nhà thờ chính tòa của chúng ta và các thánh đường trên toàn thế giới; trong các gia cư và gia đình chúng ta, để mỗi người mạnh mẽ cảm thấy nhu cầu cần biết rõ hơn về đức tin ngàn đời và thông truyền cho các thế hệ trẻ. Các cộng đoàn dòng tu cũng như các giáo xứ, và toàn thể các tổ chức Giáo hội cũ cũng như mới, hãy tìm cách làm cho việc tuyên xưng Kinh Tin Kính một cách công khai trong Năm Ðức Tin này.

9. Chúng ta mong muốn rằng Năm Ðức Tin khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng đức tin trọn vẹn và với xác tín được đổi mới, trong niềm tín thác và hy vọng. Năm này sẽ là một cơ hội thích hợp để tăng cường việc cử hành đức tin trong phụng vụ, đặc biệt là trong Thánh Thể, vốn là “tột đỉnh mà hoạt động của Giáo hội hướng tới và đồng thời cũng là nguồn mạch từ đó phát sinh toàn thể năng lực của Giáo hội” (14). Ðồng thời, chúng ta mong muốn rằng cuộc sống chứng tá của các tín hữu tăng trưởng trong sự đáng tín nhiệm. Tái khám phá nội dung đức tin được tuyên xưng, cử hành, sống và cầu nguyện (15), và suy tư về chính hành động đức tin, đó là một sự quyết tâm mà mỗi tín hữu phải biến thành của mình, nhất là trong Năm Ðức Tin này.

Không phải tình cờ mà trong những thế kỷ đầu tiên, các tín hữu Kitô phải học thuộc lòng kinh Tin Kính. Kinh này được dùng như kinh nguyện hằng ngày của họ để không quên quyết tâm đã nhận khi chịu phép rửa. Với những lời xúc tích đầy ý nghĩa, thánh Augustino nhắc nhở điều đó khi ngài nói trong một bài giảng về việc trao Kinh Tinh Kính: “Kinh Tin Kính về mầu nhiệm thánh mà tất cả anh chị em cùng nhận lãnh nhận và ngày nay anh chị em từng người đọc lên, là những lời đức tin của Mẹ Giáo hội được xây dựng vững chắc trên nền tảng vững bền là Chúa Kitô. Vì vậy, anh em đã nhận lãnh và đọc Kinh ấy, nhưng trong tâm trí anh chị em phải luôn giữ cho Kinh ấy hiện diện, anh chị em phải lặp lại Kinh này trên giường, nghĩ đến Kinh này nơi đường phố và đừng quên Kinh này khi ăn; cả khi anh chị em ngủ, con tim của anh chị em vẫn phải tỉnh thức trong Kinh này” (16).



10. Ðến đây, tôi muốn vạch ra một hành trình giúp hiểu một cách sâu xa hơn nội dung đức tin, nhưng cùng với nội dung này còn có hành động qua đó chúng ta quyết định hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa, trong tự do trọn vẹn. Thực vậy, có sự hiệp nhất sâu xa giữa hành vi tin tưởng và nội dung đức tin mà chúng ta chấp nhận. Thánh Phaolô Tông đồ giúp đi vào thực tại này khi ngài viết: “Với con tim ta tin, và bằng miệng ta tuyên xưng đức tin” (Rm 10,10). Con tim chỉ rằng hành vi đầu tiên ta đạt đến đức tin là một hồng ân của Thiên Chúa và tác động của ơn thánh hành động và biến đổi con người ngay từ nội tâm.

Tấm gương của bà Lidia về vấn đề này hùng hồn hơn bao giờ hết. Thánh Luca kể lại rằng Thánh Phaolô, trong lúc ở thành Philiphê, vào ngày thứ bẩy ngài đi rao giảng Tin mừng cho vài phụ nữ; trong số họ có bà Lidia và Chúa “mở lòng cho bà tin lời thánh Phaolô” (Cv 16,14). Ý nghĩa cô đọng trong câu ngày thực là quan trọng. Thánh Luca dạy rằng việc hiểu biết nội dung đức tin không đủ nếu con tim, - vốn là cung thánh đích thực của con người,- không cởi mở đối với ơn thánh, giúp ta có đôi mắt để nhìn sâu xa và hiểu rằng điều được loan báo chính là Lời Chúa.

Rồi việc tuyên xưng ngoài miệng cho thấy đức tin bao gồm việc làm chứng và dấn thân công khai. Kitô hữu không bao giờ được nghĩ rằng đức tin là một điều riêng tư. Ðức tin là quyết định đứng về phía Chúa để sống với Ngài. Và thành ngữ “ở với Chúa” giúp hiểu biết những lý do tại sao ta tin. Chính vì đức tin là một hành vi tự do, nên cũng đòi hỏi một trách nhiệm xã hội về những gì ta tin. Giáo hội, trong ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, đã chứng tỏ rõ ràng chiều kích công khai ấy của việc tin tưởng và loan báo không chút sợ hãi về niềm tin của mình cho mỗi người. Ðó là một hồng ân của Chúa Thánh Linh làm cho ta có khả năng thi hành sứ mạng và củng cố việc làm chứng tá của chúng ta, biến chứng tá ấy thành điều thẳng thắn và can đảm.

Chính việc tuyên xưng đức tin là một hành vi bản thân và đồng thời cũng có tính chất cộng đoàn. Thực vậy, chính Giáo hội là chủ thể đầu tiên của đức tin. Trong đức tin của cộng đoàn Kitô, mỗi người lãnh nhận bí tích Rửa tội, là dấu chỉ hữu hiệu về sự gia nhập cộng đoàn các tín hữu để được ơn cứu độ. Như Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo làm chứng: “Tôi tin”; là đức tin của Giáo hội được mỗi tín hữu tuyên xưng cá nhân, nhất là trong lúc chịu phép Rửa tội. “Chúng tôi tin” là đức tin của Giáo hội được các Giám Mục họp nhau trong Công đồng, hoặc tổng quát hơn, được cộng đồng phụng vụ các tín hữu tuyên xưng. “Tôi tin” cũng là Giáo hội Mẹ chúng ta, đáp lại Thiên Chúa bằng đức tin của mình và dạy chúng ta nói “Tôi tin”, “Chúng tôi tin” (17).

Như ta có thể nhận xét, việc hiểu biết nội dung đức tin là điều thiết yếu để chấp nhận tin, nghĩa là hoàn toàn gắn bó trong tâm trí với những gì Giáo hội đề nghị. Việc hiểu biết đức tin dẫn vào toàn bộ mầu nhiệm cứu độ được Thiên Chúa mạc khải. Vì vậy sự chấp nhận ấy được biểu lộ bao hàm điều này là, khi ta tin, ta tự nguyện chấp nhất toàn thể mầu nhiệm đức tin, vì vị bảo đảm tính chất xác thực của điều ta tin là chính Thiên Chúa, Ðấng tự mạc khải và cho phép được biết mầu nhiệm tình thương của Ngài (18).

Ðàng khác, chúng ta không thể quên rằng trong bối cảnh văn hóa của chúng ta ngày nay, bao nhiêu người, tuy không nhìn nhận hồng ân đức tin nơi mình, nhưng họ chân thành tìm kiếm ý nghĩa chung kết và chân lý chung cục về cuộc sống của họ và về thế giới. Sự tìm kiếm này thực là một “tiền đề” của đức tin, vì nó thúc đẩy con người trên con đường dẫn đến mầu nhiệm Thiên Chúa. Thực thế, chính lý trí con người mang trong mình một đòi hỏi về “điều có giá trị và tồn tại mãi mãi” (19). Ðòi hỏi ấy là một lời mời gọi trường kỳ, được ghi khắc không hề phai mờ trong tâm hồn con người, kêu gọi con người lên đường để tìm thấy Ðấng mà chúng ta sẽ không tìm kiếm nếu Ngài đã không đến gặp chúng ta (20). Chính đức tin mời chúng ta đi tới cuộc gặp gỡ ấy và mở cho chúng ta sự viên mãn.



11. Ðể hiểu biết một cách hệ thống về nội dung đức tin, tất cả mọi người đều có thể tìm thấy trong Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo một trợ lực quí giá và không thể thiếu được. Sách này là một trong những thành quả quan trọng nhất của Công Ðồng chung Vatican II. Trong Tông Hiến “Fidei depositum” (Kho tàng đức tin), không phải tình cờ được ký vào ngày kỷ niệm 30 năm khai mạc Công đồng chung Vatican II, Ðức Chân phước Gioan Phaolô II đã viết: “Sách Giáo lý này sẽ mang lại một đóng góp quan trọng cho công trình canh tân toàn thể đời sống Giáo hội. Tôi nhìn nhận Sách này như một dụng cụ giá trị và hợp pháp phục vụ tình hiệp thông của Giáo hội và như một qui luật chắc chắn để giảng dạy đức tin” (21).

Trong viễn tượng đó, Năm Ðức Tin phải biểu lộ sự dấn thân chung tái khám phá và học hỏi nội dung cơ bản của đức tin ở trong Sách Giáo Lý này, trong đó có một tổng hợp có hệ thống. Thực vậy, ở đây, ta thấy nổi bật sự phong phú của giáo huấn mà Giáo hội đã đón nhận, gìn giữ và trao tặng trong hai ngàn năm lịch sử của mình. Từ Thánh kinh tới các Giáo Phụ, từ các vị Tôn Sư thần học cho đến cách Thánh qua các thế kỷ, Sách Giáo Lý cống hiến một ký ức trường kỳ về bao nhiêu cách thức Giáo hội suy niệm về đức tin và tạo nên sự tiến triển trong đạo lý để mang lại sự chắc chắn cho các tín hữu trong đời sống đức tin của họ.

Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo, qua cấu trúc của mình, trình bày sự phát triển đức tin và đề cập đến cả những đề tài chính của đời sống hằng ngày. Trang này sang trang khác, chúng ta khám phá thấy rằng điều được trình bày trong Sách Giáo Lý không phải là một lý thuyết, nhưng là một cuộc gặp gỡ với Ðấng sống trong Giáo hội. Thực vậy, sau khi tuyên xưng đức tin, Sách này đi đến phần giải thích đời sống bí tích, trong đó Chúa Kitô hiện diện, hoạt động và tiếp tục xây dựng Giáo hội của Ngài. Nếu không có phụng vụ và các bí tích thì việc tuyên xưng đức tin sẽ không hiệu quả, vì thiếu ơn thánh nâng đỡ chứng tá của các tín hữu Kitô. Cũng vậy, giáo huấn của Sách Giáo Lý về đời sống luân lý có một ý nghĩa quan trọng nếu được đặt trong tương quan với đức tin, phụng vụ và kinh nguyện.

12. Vì thế, trong Năm Ðức Tin, Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo có thể là một dụng cụ đích thực nâng đỡ đức tin, nhất là những người quan tâm đến việc huấn luyện các tín hữu Kitô, một điều rất quan trọng trong bối cảnh văn hóa ngày nay. Với mục đích đó, tôi đã mời gọi Bộ giáo lý đức tin, thỏa thuận với các Cơ quan trung ương khác của Tòa Thánh, soạn một Văn kiện, để cống hiến cho Giáo hội và các tín hữu một số chỉ dẫn để sống Năm Ðức Tin này một cách hiệu quả và thích hợp hơn, phục vụ sự tin tưởng và rao giảng Tin mừng.

“Thực vậy, so với quá khứ, đức tin ngày nay đang phải chịu một loạt những vấn nạn đến từ não trạng thay đổi, đặc biệt là ngày nay não trạng này thu hẹp lãnh vực những điều chắc chắn hợp lý vào lãnh vực những chinh phục của khoa học và kỹ thuật. Nhưng Giáo hội không bao giờ sợ chứng minh rằng giữa đức tin và khoa học chân chính không hề có xung đột, vì cả hai đều hướng về sự thật, tuy là bằng những con đường khác nhau (22).



13. Một điều quan trọng trong Năm Ðức tin là duyệt lại lịch sử đức tin của chúng ta, trong đó có một mầu nhiệm khôn lường giữa sự thánh thiện và tội lỗi. Lịch sử thánh thiện cho thấy sự đóng góp lớn lao của những người nam nữ để làm tăng trưởng và phát triển cộng đoàn bằng chứng tá cuộc sống của họ, còn lịch sử tội lỗi phải thúc giục mỗi người hoán cải chân thành và trường kỳ để cảm nghiệm lòng từ bi của Chúa Cha Ðấng đến gặp tất cả mọi người.

Trong thời điểm này, chúng ta hãy luôn hướng nhìn về Chúa Giêsu Kitô, “là nguồn gốc và là tận điểm của đức tin” (Dt 12,2): nơi Ngài mọi sóng gió và khát vọng của tâm hồn con người được hoàn tất. Niềm vui của tình yêu, lời đáp trả thảm trạng đau khổ, sức mạnh của tha thứ trước sự xúc phạm phải chịu, và chiến thắng của sự sống trước cái trống rỗng của sự chết, tất cả đều tìm được sự hoàn tất trong mầu nhiệm nhập thể của Chúa, mầu nhiệm Chúa làm người, chia sẻ sự yếu đuối của chúng ta để biến đổi nó bằng quyền năng sự phục sinh của Ngài. Trong Ngài, là Ðấng đã chết và sống lại để cứu độ chúng ta, những tấm gương đức tin được tràn đầy ánh sáng, những tấm gương đã ghi dấu 2 ngàn năm lịch sử cứu độ chúng ta.

Nhờ đức tin Mẹ Maria đã đón nhận lời thiên thần và tin nơi lời loan báo Mẹ sẽ trở thành Mẹ Thiên Chúa trong sự tuân phục tận tụy của Mẹ (x. Lc 1,38). Khi viếng thăm bà Elisabeth, Mẹ cất bài ca chúc tụng Ðấng Tối Cao vì những kỳ công Chúa thực hiện nơi những người tín thác nơi Ngài (x. Lc 1,46-55). Mẹ vui mừng và hồi hộp sinh hạ Con duy nhất, mà vẫn giữ nguyên sự đồng trinh (...) (x. Lc 2,6-7). Tín nhiệm nơi Thánh Giuse hôn phu, Mẹ mang Chúa Giêsu sang Ai Cập để cứu con khỏi cuộc bách hại của Hêrôđê (x. Mt 2,13-15). Với cùng đức tin Mẹ theo Chúa trong thời gian giảng đạo và ở với Chúa cho đến tận đồi Golgota (x. Ga 19,25-27). Với đức tin, Mẹ Maria niếm hưởng những thành quả đầu tiên của cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, và cẩn giữ mọi kỷ niệm trong lòng (x. Lc 2,19.51), Mẹ thông truyền kỷ niệm ấy cho 12 Tông Ðồ tụ họp với Mẹ trong Nhà Tiệc Ly để lãnh nhận Thánh Linh.

Nhờ đức tin, các Tông Ðồ đã từ bỏ mọi sự để theo Thầy (x. Mc 10,28). Các vị tin nơi lời Chúa loan báo Nước Trời hiện diện và thể hiện nơi bản thân Ngài (x. Lc 11,20. Các Tông đồ sống hiệp thông với Chúa Giêsu Ðấng dạy dỗ các vị qua lời giáo huấn, để lại cho các vị qui luật sống mới mẻ qua đó người ta nhận ra họ là môn đệ của Ngài sau khi Ngài qua đời (Cx Ga 13,34-35). Nhờ đức tin, các vị đi các nơi trên thế giới, theo mệnh lệnh mang Tin mừng cho mọi thụ tạo (x. Mc 16,15) và không chút sợ hãi, các vị loan báo cho mọi người niềm vui Phục sinh mà các vị đã chứng kiến.

Nhờ đức tin các môn đệ họp thành cộng đoàn đầu tiên, tụ tập quanh giáo huấn của các Tông Ðồ, trong kinh nguyện, trong việc cử hành Thánh Thể, để làm của chung những gì họ sở hữu để cứu giúp những anh chị em túng thiếu (x. Cv 2,42-47).

- Nhờ đức tin các vị tử đạo hiến mạng sống của mình để làm chứng về chân lý Phúc Âm đã biến cải và làm cho họ có khả năng đi tới hồng ân tính yêu lớn nhất với việc tha thứ cho những kẻ bách hại họ.

- Nhờ đức tin những người nam nữ đã dâng hiến cuộc sống mình cho Chúa Kitô, bỏ mọi sự để sống, trong sự đơn sơ theo tinh thần Phúc Âm, sự vâng phục, thanh bần và khiết tịnh, những dấu chỉ cụ thể về sự chờ đợi Chúa sắp đến. Nhờ đức tin bao nhiêu Kitô hữu đã thăng tiến những hoạt động bênh vực công lý để cụ thể hóa Lời Chúa, Ðấng đã đến để loan báo sự giải thoát khỏi sự áp bức và năm hồng ân cho mọi người (x. Lc 4,18-19).

- Nhờ đức tin qua các thế kỷ, những người nam nữ thuộc mọi lứa tuổi, và tên họ được ghi trong Sách Sự Sống (x. Kh 7,9; 13,8), đã tuyên xưng vẻ đẹp của sự theo Chúa Giêsu tại nơi họ được kêu gọi làm chứng về cuộc sống Kitô của họ: trong gia đình, nghề nghiệp, trong đời sống công khai, trong việc thi hành các đoàn sủng và sứ vụ mà họ được kêu gọi thi hành.

- Nhờ đức tin cả chúng ta cũng đang sống: để nhìn nhận Chúa Giêsu hiện diện trong cuộc sống chúng ta và trong lịch sử.

14. Năm Ðức Tin cũng sẽ là cơ hội thuận tiện để tăng cường chứng tá bác ái. Thánh Phaolô nhắc nhở: “Vì vậy giờ đây còn lại ba điều là đức tin, đức cậy và đức mến. Nhưng lớn hơn cả là đức mến (1Cr 13,13). Và Thánh Giacôbê Tông Ðồ, với những lời càng mạnh hơn nữa, luôn thúc đẩy các tín hữu Kitô, quả quyết rằng: “Hỡi anh chị em, nếu một người nói mình có đức tin mà lại không có việc làm thì ích gì? Ðức tin ấy có thể cứu họ được không? Nếu một người anh em, chị em, không có y phục và lương thực hằng ngày và một người trong anh chị em nói: “Hãy đi bình an, hãy sưởi ấm và ăn no” nhưng lại không cho họ những gì cần thiết cho thân thể họ, thì hỏi có ích gì? Ðức tin cũng vậy, nếu không có việc làm đi kèm, thì tự nó là đức tin chết. Trái lại một người có thể nói: “Anh có đức tin và tôi có việc làm; hãy tỏ cho tôi đức tin không có việc làm của anh, và tôi, qua việc làm tôi chứng tỏ cho anh đức tin của tôi” (Gc 2,14-18).

Ðức tin không có đức mến thì không mang lại thành quả và đức mến không có đức tin thì sẽ là một tình cảm luôn tùy thuộc sự nghi ngờ. Ðức tin và đức mến cần có nhau, đức này giúp đức kia thực hiện hành trình của mình. Có nhiều Kitô hữu yêu thương tận tụy dành cuộc đời phục vụ những người lẻ loi, bị gạt ra ngoài lề hoặc bị loại trừ, coi họ như những người đầu tiên cần đi tới và như người quan trọng nhất cần được nâng đỡ, vì chính nơi người ấy có phản ánh khuôn mặt của Chúa Kitô. Nhờ đức tin, chúng ta có thể nhận ra tôn nhan Chúa phục sinh nơi những người đang xin tình thương của chúng ta. “Tất cả những gì các con đã làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Thầy đây, tức là các con đã làm cho Thầy” (Mt 25,40): những lời này là một lời cảnh giác không nên quên, và là một lời mời gọi trường kỳ hãy đáp trả tình yêu mà Chúa đã chăm sóc chúng ta. Ðó là đức tin giúp nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thúc đẩy cứu giúp Chúa mỗi khi Ngài trở thành người thân cận của chúng ta trong cuộc sống. Ðược đức tin nâng đỡ, chúng ta hy vọng hướng nhìn sự dấn thân của chúng ta trong thế giới, trong khi chờ đợi “trời mới đất mới, trong đó có công lý cư ngụ” (2Pr 3,13; x. Kh 21,1).



15. Vào cuối đời, thánh Phaolô tông đồ yêu cầu môn đệ Timôthê hãy “tìm kiếm đức tin” (x. 1Tm 2,22), với cùng một sự bền chí như hồi còn nhỏ (x. 2Tm 3,15). Chúng ta cảm thấy lời mời gọi này được gửi đến mỗi người chúng ta, để không ai trong chúng ta trở nên lười biếng trong đức tin. Ðức tin là bạn đồng hành trong cuộc sống, giúp nhận thức với một cái nhìn luôn mới mẻ về những kỳ công mà Thiên Chúa thực hiện nơi chúng ta. Ðức tin nhắm đón nhận những dấu chỉ thời đại trong hiện tại của lịch sử, và thúc đẩy mỗi người chúng ta trở thành dấu chỉ sinh động về sự hiện diện của Ðấng Phục Sinh trong thế giới. Ðiều mà thế giới ngày nay đặc biệt cần đến, đó là chứng tá đáng tin cậy của những người được Lời Chúa soi sáng trong tâm trí, có khả năng mở tâm trí của bao nhiêu người mong ước Thiên Chúa và sự sống chân thực, sự sống không tàn lụi.

“Ước gì Lời Chúa hoàn tất hành trình của mình và được tôn vinh” (2Tx 3,1): ước gì Năm Ðức Tin này làm cho quan hệ với Chúa Kitô ngày càng vững chắc hơn, vì chỉ trong Ngài mới có sự chắc chắn để hướng nhìn về tương lai và bảo đảm một tình yêu chân thực và lâu bền. Những lời thánh Phêrô Tông đồ chiếu dọi một tia sáng cuối cùng trên đức tin: “Vì thế, anh chị em tràn đầy vui mừng, cho dù hiện nay anh chị em còn phải chịu ưu sầu ít lâu, bị nhiều thử thách, để đức tin của anh chị em được tôi luyện, quí hơn vàng, vàng là thứ sẽ phải hư nát mà còn được thanh luyện bằng lửa, mang lại lời ngợi khen, vinh quang và vinh dự cho anh em khi Chúa Giêsu Kitô tỏ hiện. Tuy không thấy Ngài, nhưng anh chị em vẫn yêu mến Ngài, và tuy không thấy Ngài, anh chị em vẫn tin nơi Ngài. Vì thế, anh chị em hãy vui mừng khôn tả và vinh quang, trong khi đạt tới mục đích đức tin của anh chị em là ơn cứu độ các linh hồn” (1Pr 1,6-9). Cuộc sống của các tín hữu Kitô cảm nghiệm niềm vui và đau khổ. Bao nhiêu vị thánh đã sống nỗi cô đơn! Bao nhiêu tín hữu, kể cả ngày nay, bị thử thách vì sự im lặng của Thiên Chúa trong khi họ muốn nghe lời an ủi của Ngài! Những thử thách của cuộc sống, trong khi giúp hiểu mầu nhiệm Thập Giá, và tham gia vào đau khổ của Chúa Kitô (x. Cl 1,24), là tiền đề báo trước niềm vui và hy vọng mà đức tin dẫn đến: “Khi tôi yếu đuối, đó là lúc tôi mạnh mẽ” (2Cr 12,10). Chúng ta mạnh mẽ tin chắc rằng Chúa Giêsu đã chiến thắng sự ác và sự chết. Với niềm tín thác chắc chắn ấy, chúng ta tín thác nơi Ngài: Chúa hiện diện giữa chúng ta, chiến thắng quyền lực của ác thần (x. Lc 11,20) và Giáo hội, cộng đồng hữu hình của lòng từ bi Chúa, ở lại trong Chúa như dấu hiệu hòa giải chung kết với Chúa Cha. Chúng ta hãy phó thác thời điểm hồng phúc này cho Mẹ Thiên Chúa, được tuyên xưng là “người có phúc” vì Mẹ 'đã tin' (Lc 1,45).

Ban hành tại Rôma, ngày 11 tháng 10 năm 2011, năm thứ 7 triều đại Giáo Hoàng của tôi.

Bênêđictô XVI, Giáo Hoàng



    1. Hướng dẫn mục vụ cho Năm Đức Tin của Bộ Giáo Lý Đức Tin8

HƯỚNG DẪN MỤC VỤ

CHO NĂM ĐỨC TIN9



Dẫn nhập

Ngày 11 tháng 10 năm 2011, Đức Thánh cha Bênêđictô XVI đã ban hành Tông thư tự sắc Porta fidei công bố Năm Đức Tin. Năm Đức Tin sẽ bắt đầu vào ngày 11 tháng 10 năm 2012 để kỷ niệm 50 năm lễ Khai mạc Công đồng Vaticanô II và sẽ kết thúc vào ngày 24 tháng 11 năm 2013, lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ.

Năm Đức Tin sẽ giúp mọi tín hữu có cơ hội thuận lợi tìm hiểu sâu hơn nền tảng đức tin Kitô giáo là “gặp gỡ một sự kiện, gặp gỡ một Người, Đấng mở ra một chân trời mới cho cuộc sống và qua đó đưa ra định hướng dứt khoát cho mình”.10 Nhờ gặp gỡ Đức Giêsu Kitô phục sinh, có thể tái khám phá đức tin với tất cả sự toàn vẹn và vẻ rạng ngời. “Cũng vậy, ngày nay đức tin là ơn Chúa ban, giúp chúng ta tái khám phá, vun trồng và làm chứng về đức tin”, để Chúa “ban cho mỗi người chúng ta tận hưởng vẻ đẹp và niềm vui được làm người Kitô hữu”.11

Ngày khai mạc Năm Đức Tin trùng với dịp kỷ niệm tạ ơn hai sự kiện lớn mang dấu ấn gương mặt của Giáo hội ngày nay: Kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng Vaticanô II là công đồng do Chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII triệu tập, và kỷ niệm 20 năm ban hành Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo (11-10-1992), một cống hiến lớn cho Giáo hội của Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II.

Theo Đức Giáo hoàng Gioan XXIII, Công đồng muốn “truyền đạt giáo lý tinh ròng và toàn vẹn, không thêm bớt chẳng thay đổi”, cố gắng làm thế nào để “giáo lý vững bền, bất di bất dịch này phải được tôn trọng cách trung thành, được đào sâu và trình bày sao cho đáp ứng được những yêu cầu của thời đại chúng ta”.12

Về vấn đề này, phần mở đầu của Hiến chế tín lý Lumen gentium rõ ràng đã có một tầm quan trọng: “Đức Kitô là ánh sáng muôn dân, nên Công đồng, được quy tụ trong Chúa Thánh Thần, thiết tha mong được soi dẫn mọi người bằng ánh quang của Đức Kitô phản chiếu trên gương mặt Hội thánh, bằng việc loan báo Tin mừng cho mọi thụ tạo (x. Mc 16,15)”.13 Từ ánh sáng của Đức Kitô, Đấng thanh tẩy, soi sáng và thánh hóa trong các cử hành phụng vụ thánh và với Lời Chúa, Công đồng muốn nói đến bản chất sâu xa của Giáo hội và mối quan hệ của Hội thánh với thế giới ngày nay.14 Với bốn hiến chế cột trụ và các tuyên ngôn, sắc lệnh, Công đồng đối diện với một số vấn đề chính yếu của thời đại.

Sau Công đồng, Giáo hội bắt tay vào việc đón nhận và áp dụng những giáo huấn phong phú của Công đồng, duy trì tính liên tục đối với truyền thống, dưới sự hướng dẫn chắc chắn của huấn quyền. Để thúc đẩy sự lĩnh hội Công đồng cách đúng đắn, các đức giáo hoàng đã nhiều lần triệu tập thượng hội đồng giám mục được tôi tớ Chúa, Đức Giáo hoàng Phaolô VI thiết lập năm 1965, mang lại cho Giáo hội những định hướng sáng suốt qua các tông huấn hậu thượng hội đồng.15 Thượng hội đồng giám mục sắp tới vào tháng 10 năm 2012 sẽ mang chủ đề: Tân Phúc âm hóa nhằm thông truyền đức tin Kitô giáo.

Ngay từ đầu triều đại giáo hoàng của mình, Đức Thánh cha Bênêđictô XVI đã quyết dấn thân làm cho Công đồng được hiểu đúng, đẩy lùi sự sai trái của cái gọi là “chú giải về tính đứt quãng và sự cắt lìa”, đồng thời cổ võ cho điều được ngài gọi là “chú giải về sự cải cách”, sự đổi mới trong kế thừa nơi một chủ thể duy nhất là Hội thánh được Chúa ban cho chúng ta. Hội thánh là “chủ thể lớn lên trong thời gian, và có sự phát triển, nhưng vẫn luôn là chính mình, chủ thể dân Chúa duy nhất đang tiến bước”.16

Trong chiều hướng vừa đề cập, sách Giáo lý Giáo hội Công giáo một mặt là “thành quả đích thực của Công đồng”17 mặt khác giúp cho việc lĩnh hội Công đồng được thuận lợi. Thượng hội đồng giám mục ngoại thường vào năm 1985, được triệu tập nhằm kỷ niệm 20 năm bế mạc Công đồng Vaticanô II, đồng thời thực hiện việc tổng kết sự lĩnh hội của mình đối với Công đồng, đã đề nghị soạn thảo sách giáo lý này nhằm cung cấp cho dân Chúa bản toát yếu toàn bộ giáo thuyết Công giáo và là bản tham khảo chắc chắn giúp cho các tài liệu giáo lý của địa phương.

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đón nhận đề nghị này như một mong muốn “đáp ứng hoàn toàn nhu cầu thật sự của Giáo hội toàn cầu và các giáo hội địa phương”.18 Được biên soạn với sự cộng tác của hàng giám mục Giáo hội Công giáo khắp thế giới, sách giáo lý này thực sự nói lên “điều có thể gọi là ‘bản giao hưởng’ của đức tin”.19



Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo bao gồm “cả cái mới lẫn cái cũ” (x. Mt 13,52), đức tin cũng vẫn thế nhưng lại là nguồn sáng luôn mới mẻ. Nhằm đáp ứng yêu cầu kép này, một mặt Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo dùng lại trình tự “cũ”, truyền thống, được sách Giáo lý của Thánh Piô V sử dụng, sắp xếp nội dung thành bốn phần: Kinh Tin kính; Phụng vụ thánh với các bí tích được trình bày trước tiên; Cuộc sống của người Kitô hữu, bắt đầu từ các điều răn; và cuối cùng là việc Cầu nguyện của người Kitô hữu. Nhưng đồng thời, nội dung lại được trình bày theo cách “mới”, nhằm trả lời những thắc mắc của thời nay.20 Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo là “khí cụ hữu hiệu và chính thức nhằm phục vụ sự hiệp thông trong Giáo hội” và là “chuẩn mực chắc chắn cho việc giáo dục đức tin”.21

Những nội dung đức tin được trình bày trong sách này chính là “một sự tổng hợp mang tính hệ thống và gắn bó hữu cơ. Quả thật, ở đây chúng ta thấy sự phong phú của giáo huấn mà Giáo hội đã đón nhận, gìn giữ và giới thiệu trong hai ngàn năm lịch sử của mình. Từ Thánh kinh tới các giáo phụ, từ các bậc thầy về thần học cho đến các thánh qua các thế kỷ, Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo là bản ghi nhớ vĩnh viễn về biết bao cách thức Giáo hội suy ngẫm về đức tin và tạo sự tiến triển trong giáo thuyết, nhằm giúp các tín hữu được vững vàng trong đời sống đức tin.22

Năm Đức Tin mong được góp phần canh tân việc trở về với Chúa Giêsu và khám phá lại đức tin, để chúng ta, là mọi người trong Giáo hội, biết vui mừng làm chứng cho Chúa phục sinh một cách đáng tin trong thế giới hôm nay, biết chỉ cho mọi người tìm được “cửa dẫn vào đức tin”. “Cánh cửa” này mở rộng tầm nhìn cho con người hướng về Chúa Giêsu Kitô đang ở giữa chúng ta “mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Người chỉ cho chúng ta học biết “nghệ thuật sống” trong “mối liên hệ mật thiết với Người”.23 “Chúa Giêsu Kitô dùng tình yêu thu hút con người thuộc mọi thế hệ đến với Người: trong mọi thời đại, Người gọi Giáo hội đến và trao nhiệm vụ loan báo Tin mừng, với một mệnh lệnh luôn luôn mới mẻ.

Vì thế, ngày nay Giáo hội phải dấn thân cách thuyết phục hơn nữa cho công cuộc Tân Phúc âm hóa, để tái khám phá niềm vui vì có đức tin và tìm lại niềm hăng say thông truyền đức tin”.24

Thừa lệnh Đức Thánh cha Bênêđictô XVI,25 Bộ Giáo Lý Đức Tin, được sự đồng thuận của các bộ thẩm quyền thuộc Tòa thánh và sự đóng góp của Ủy ban Chuẩn bị Năm Đức Tin,26 đã soạn thảo bản Hướng dẫn giúp sống thời gian ân sủng này, không loại trừ những sáng kiến được Chúa Thánh Thần khơi lên cho các mục tử và tín hữu khắp nơi trên thế giới.

Những chỉ dẫn

“Tôi biết tôi đã tin vào ai” (2Tm 1,12): lời Thánh Phaolô giúp chúng ta hiểu đức tin “trước hết là sự gắn bó mang tính cá nhân của con người với Thiên Chúa; đồng thời cũng là tự nguyện chấp nhận tất cả chân lý Thiên Chúa đã mặc khải”.27

Đức tin như niềm tin tưởng mang tính cá nhân vào Chúa và đức tin chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin kính không thể tách rời nhau. Cả hai cùng hướng về nhau và cần đến nhau. Giữa kinh nghiệm sống đức tin và nội dung đức tin có mối liên hệ sâu đậm: đức tin của những chứng nhân và các tín hữu bị cầm tù vì đức tin cũng là đức tin của các tông đồ và những bậc tiến sĩ Hội thánh.

Vì vậy, những hướng dẫn sau đây cho Năm Đức Tin nhằm thúc đẩy việc gặp gỡ Đức Kitô qua các chứng nhân đích thực của đức tin cũng như việc hiểu biết nội dung đức tin ngày một hơn. Những đề nghị trong bản hướng dẫn này được gợi ra như những mẫu hình nhằm cổ võ việc sẵn sàng đáp lại lời mời gọi của Đức Thánh cha sống Năm Đức Tin, “thời gian đặc biệt của ân sủng”, một cách trọn vẹn.28 Niềm vui được khám phá lại đức tin cũng sẽ góp phần củng cố sự hiệp nhất và hiệp thông giữa các thành phần khác nhau đang làm nên đại gia đình Hội thánh.



I. Ở cấp Giáo hội hoàn cầu

1. Sự kiện chính của Giáo hội vào đầu Năm Đức Tin sẽ là Thượng Hội đồng Giám mục thường kỳ lần thứ XIII, do Đức Thánh cha Bênêđictô triệu tập vào tháng 10 năm 2012, với đề tài Tân Phúc âm hóa nhằm thông truyền đức tin Kitô giáo. Trong thời gian thượng hội đồng nhóm họp, vào ngày 11 tháng 10 năm 2012, sẽ diễn ra lễ Khai mạc trọng thể Năm Đức Tin, kỷ niệm 50 năm ngày khai mạc Công đồng Vaticanô II.

2. Trong suốt Năm Đức Tin, nên khích lệ các tín hữu hành hương viếng Ngai Tòa Phêrô, để tuyên xưng niềm tin vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, bằng cách hiệp nhất với Đấng ngày nay được kêu gọi để củng cố anh em mình trong đức tin (x. Lc 22,32). Cũng cần khuyến khích những cuộc hành hương viếng Thánh Địa, nơi đầu tiên được chứng kiến sự hiện diện của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế, và mẹ Người là Đức Maria.

3. Trong Năm Đức Tin, cũng sẽ sinh ích lợi nếu biết mời gọi các tín hữu đem lòng sùng mộ cách riêng kêu cầu cùng Đức Mẹ, mẫu gương của Hội thánh, Đấng “đang quy tụ và phản chiếu nơi mình những đòi hỏi cao cả nhất của đức tin”.29 Vì vậy, cần khuyến khích mọi sáng kiến giúp các tín hữu nhận ra vai trò đặc biệt của Đức Maria trong mầu nhiệm cứu độ, đem hết tình con thảo yêu mến Mẹ và noi theo đức tin và các nhân đức của Mẹ. Tóm lại, sẽ sinh nhiều ích lợi nếu tổ chức được những cuộc hành hương, các buổi cử hành và những cuộc gặp gỡ tại các đền thánh chính dâng kính Đức Mẹ.

4. Ngày Giới trẻ Thế Giới tại Rio de Janeiro vào tháng 7 năm 2013 sẽ đem lại cho giới trẻ một cơ hội đặc biệt được sống niềm vui phát sinh từ lòng tin vào Chúa Giêsu, và hiệp thông cùng đức thánh cha, trong đại gia đình Hội thánh.

5. Mong sao sẽ tổ chức được nhiều hội nghị, hội thảo và những cuộc hội tụ quy mô lớn, kể cả ở tầm mức quốc tế, để thúc đẩy việc gặp gỡ những chứng nhân đích thực về đức tin và việc hiểu biết những nội dung giáo lý Công giáo. Khi minh chứng ngày nay làm thế nào Lời Chúa vẫn tiếp tục phát triển và phổ biến, cần đưa ra chứng cứ cho thấy nơi Chúa Giêsu Kitô “mọi khổ đau và khát vọng của tâm hồn con người được hoàn tất”30 và đức tin “trở thành một chuẩn mực mới giúp thông hiểu và hành động, làm thay đổi toàn thể cuộc sống con người”.31 Đặc biệt sẽ dành ra một số cuộc hội thảo cho việc khám phá lại những giáo huấn của Công đồng Vaticanô II.

6. Đối với mọi tín hữu, Năm Đức Tin sẽ đem lại một cơ hội tốt để học hỏi kỹ lưỡng những văn kiện chính của Công đồng Vaticanô II và nghiên cứu sách Giáo lý Giáo hội Công giáo. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các ứng sinh đang hướng đến chức linh mục, nhất là trong các năm dự bị hoặc những năm đầu học thần học, đối với tập sinh thuộc các hội dòng và các tu đoàn tông đồ, cũng như đối với những người đang sống thời kỳ thử trước khi gia nhập một hiệp hội hoặc phong trào thuộc Giáo hội.

7. Năm Đức Tin sẽ là cơ hội thuận lợi để chú tâm hơn nữa trong việc lĩnh hội các bài giảng, các bài giáo lý, những huấn từ và các phát biểu khác của đức thánh cha. Các mục tử, tu sĩ và các tín hữu giáo dân được mời gọi bắt tay vào việc canh tân nhằm gắn bó tích cực và thân tình với giáo huấn của đấng kế vị Thánh Phêrô.

8. Trong Năm Đức Tin, cộng tác với Hội đồng Giáo hoàng cổ võ sự hiệp nhất các Kitô hữu, ước mong có được nhiều sáng kiến đại kết nhằm nài xin và thúc đẩy “tiến trình tái lập sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu”, là “một trong những mục tiêu chính của Thánh Công đồng chung Vaticanô II”.32 Đặc biệt sẽ tổ chức một cuộc cử hành đại kết trọng thể để mọi người đã được rửa tội tái khẳng định niềm tin vào Đức Kitô.

9. Sẽ thiết lập một ban thư ký đặc biệt bên cạnh Hội đồng Tòa Thánh cổ võ Tân Phúc âm hóa, nhằm phối hợp các sáng kiến khác nhau liên quan đến Năm Đức Tin, do các bộ của Giáo hội xúc tiến, hoặc các sự kiện có tầm quan trọng nhất định đối với Giáo hội hoàn cầu. Cần kịp thời thông báo cho ban thư ký biết về việc tổ chức những sự kiện nổi bật, đồng thời ban thư ký cũng có thể đưa ra những gợi ý cho những sáng kiến thích hợp. Nhân dịp này, ban thư ký sẽ mở một trang mạng nhằm đưa mọi thông tin hữu ích, giúp cho việc sống Năm Đức Tin đạt hiệu quả tích cực.

10. Đức thánh cha sẽ cử hành thánh lễ bế mạc Năm Đức Tin, mừng kính Chúa Kitô Vua Vũ Trụ trong thánh lễ sẽ long trọng tái tuyên xưng đức tin.

II. Ở cấp hội đồng giám mục33

1. Các giám mục là những người có nhiệm vụ riêng biệt là thầy dạy và là “sứ giả của đức tin”, vì thế các hội đồng giám mục cần dành một ngày suy tư về đức tin, về việc làm chứng cho đức tin của mỗi người và về việc thông truyền đức tin cho thế hệ trẻ.34

2. Khuyến khích việc tái bản các văn kiện của Công đồng Vaticanô II, sách Giáo lý Giáo hội Công giáo, bản Toát yếu giáo lý dưới hình thức các ấn phẩm bỏ túi giá rẻ, đồng thời dùng các phương tiện điện tử và công nghệ hiện đại để phổ biến rộng rãi hơn.

3. Khuyến khích dịch các văn kiện của Công đồng Vaticanô II, sách Giáo lý Giáo hội Công giáo sang những ngôn ngữ chưa có bản dịch các tài liệu này. Khuyến khích những sáng kiến nhằm giúp đỡ bác ái cho việc dịch thuật các văn kiện tại các xứ truyền giáo và tại những giáo hội địa phương không đủ khả năng cho chi phí chuyển ngữ. Việc này cần được đặt dưới sự hướng dẫn của Bộ Loan báo Tin mừng cho các Dân tộc.

4. Các mục tử nên hết sức cổ võ việc sử dụng ngôn ngữ mới của truyền thông, khuyến khích sử dụng truyền hình, phát thanh, điện ảnh, xuất bản sách báo – ở mức độ đại chúng, dễ phổ biến – hướng vào đề tài đức tin, những nguyên lý và nội dung đức tin, cũng như tầm ý nghĩa quan trọng đối với Giáo hội của Công đồng Vaticanô II.

5. Các thánh và các chân phước là những chứng nhân đích thực của đức tin.35 Các hội đồng giám mục nên sử dụng các phương tiện hiện đại của truyền thông xã hội, giúp cho các tín hữu được hiểu biết hơn nữa về các vị thánh của nước mình.

6. Thế giới ngày nay nhạy bén về mối quan hệ giữa đức tin và nghệ thuật. Do đó đề nghị các hội đồng giám mục vận dụng thích hợp nguồn di sản nghệ thuật tại địa phương thuộc trách nhiệm mục vụ của mình, đồng thời với sự hợp tác đại kết, để hướng vào việc giảng dạy giáo lý.

7. Các nhà giáo dục đang tham gia giảng dạy tại các trung tâm nghiện cứu thần học, các trường đại học Công giáo được mời gọi đưa vào nội dung giảng huấn tầm quan trọng và những liên quan mật thiết của Giáo lý Giáo hội Công giáo đối với môn mình phụ trách.

8. Với sự giúp đỡ của các nhà thần học và các tác giả có thẩm quyền, nên soạn những tài liệu làm việc mang tính chất hộ giáo. Nhờ đó các tín hữu có thể trả lời hữu hiệu hơn những vấn đề đặt ra cho họ trong những môi trường văn hóa khác nhau, liên quan đến sự thách thức của các giáo phái, các vấn đề về thế tục hóa, về chủ nghĩa tương đối, những thắc mắc do một não trạng đang đổi khác; đặc biệt, ngày nay não trạng ấy cho rằng chỉ có những khám phá khoa học và công nghệ mới đáng tin”,36 cũng như những khó khăn đặc thù khác.

9. Khuyến khích việc xem lại các sách giáo lý địa phương và các tài liệu giáo lý khác được dùng tại các giáo hội địa phương, nhằm bảo đảm sự phù hợp hoàn toàn với sách Giáo lý Giáo hội Công giáo.37 Trong trường hợp sách giáo lý địa phương hoặc các tài liệu giáo lý không hoàn toàn phù hợp với sách Giáo lý Giáo hội Công giáo hoặc có những thiếu sót, cần phải được biên soạn lại, dựa theo bản mẫu và sự giúp đỡ của các hội đồng giám mục khác vốn đã biên soạn các tài liệu này cách cẩn thận.

10. Cần cộng tác với Bộ Giáo dục Công giáo, nơi có thẩm quyền, để minh xác các nội dung trong sách Giáo lý Giáo hội Công giáo được dùng trong bản Ratio (Quy chế) về việc đào tạo linh mục và trong chương trình giảng dạy thần học.

III. Ở cấp giáo phận

1. Mong sao, mỗi giáo phận cũng sẽ tổ chức trọng thể lễ khai mạc và bế mạc Năm Đức Tin, để “tuyên xưng niềm tin vào Chúa Phục sinh tại các nhà thờ chính tòa cũng như tại các nhà thờ giáo xứ trên toàn thế giới”.38

2. Năm Đức Tin cũng là cơ hội thích hợp cho các giáo phận trên khắp thế giới tổ chức một ngày học hỏi về sách Giáo lý Giáo hội Công giáo, đặc biệt mời các linh mục, tu sĩ và giáo lý viên tham dự ngày học hỏi này. Nhân dịp này, các giáo phận Công giáo Đông phương, chẳng hạn, nên quy tụ các linh mục để nêu lên các chứng từ về một niềm tin duy nhất vào Đức Kitô qua những kinh nghiệm đặc thù và qua truyền thống phụng vụ của mình. Cũng vậy, các giáo hội trẻ trung trong các miền truyền giáo cũng được mời gọi đưa ra một chứng từ mới mẻ về niềm vui Đức Tin của riêng mình.

3. Mỗi vị giám mục nên dành một thư mục vụ viết về đức tin, dựa vào hoàn cảnh mục vụ cụ thể liên quan đến các tín hữu được trao phó cho mình, trong đó nhắc lại tầm quan trọng của Công đồng Vaticanô II và sách Giáo lý Giáo hội Công giáo.

4. Dưới sự dẫn dắt của đức giám mục giáo phận, mỗi giáo phận nên tổ chức những buổi dạy giáo lý dành cho giới trẻ cũng như cho những ai đang đi tìm ý nghĩa cho đời mình, để những người tham dự nhận ra được vẻ đẹp đức tin của Giáo hội, đồng thời nên tổ chức những cuộc gặp gỡ các chứng nhân đức tin có uy tín.

5. Năm Đức Tin cũng là cơ hội thích hợp để xem xét việc lĩnh hội Công đồng Vaticanô II và Giáo lý Giáo hội Công giáo trong đời sống cũng như trong việc thực thi sứ vụ của từng giáo hội tại địa phương, nhất là trong lĩnh vực dạy giáo lý. Để thực hiện điều này, mong rằng, được sự hỗ trợ của ban giáo lý trực thuộc hội đồng giám mục, các ban giáo lý của giáo phận sẽ có những nỗ lực mới trong việc đào tạo giáo lý viên về nội dung đức tin.

6. Trong Năm Đức Tin, việc thường huấn dành cho hàng giáo sĩ nên đặc biệt tập trung vào các văn kiện Công đồng Vaticanô II, sách Giáo lý Giáo hội Công giáo và trình bày các đề tài, chẳng hạn như: “Loan báo Đức Kitô Phục sinh”, “Giáo hội, bí tích cứu độ”, “Sứ mạng truyền giáo trong thế giới ngày nay”, “Tin và không tin”, “Đức tin, đại kết và đối thoại liên tôn”, “Đức tin và sự sống đời đời”, “Hiểu thế nào về cải tổ và tiếp nối truyền thống”, “Giáo lý của Giáo hội trong trách vụ mục vụ thường xuyên”.

7. Ước mong các giám mục giáo phận tổ chức những buổi cử hành thống hối, nhất là vào Mùa Chay, để xin Chúa tha thứ tội lỗi, đặc biệt tội nghịch lại đức tin. Năm Đức Tin cũng là thời gian thích hợp để đến với bí tích hòa giải cách xác tín hơn và thường xuyên hơn.

8. Khuyến khích giới học thuật và văn hóa hướng đến những cơ hội mới, mang tính sáng tạo, cho cuộc đối thoại giữa đức tin và lý trí, qua việc tổ chức những hội nghị chuyên đề, thảo luận và những ngày học hỏi, đặc biệt tại các trường đại học Công giáo, nhằm cho thấy “giữa đức tin và khoa học đích thực không thể có bất kỳ xung đột nào, bởi cả hai, dù đi trên những con đường khác nhau vẫn hướng đến chân lý”.39

9. Cần thúc đẩy những cuộc gặp gỡ những người “tuy không nhìn nhận mình có ơn đức tin, nhưng vẫn chân thành tìm kiếm ý nghĩa tối hậu và sự thật cuối cùng về hiện hữu của mình và về thế giới”40 như hình thức gặp gỡ đối thoại Sân Chư dân theo sáng kiến của Hội đồng Giáo hoàng về Văn hóa.

10. Năm Đức Tin là dịp để lưu tâm hơn nữa đến các trường Công giáo, nơi đem lại cho học sinh một chứng từ sống động về Chúa và là nơi trau dồi đức tin của các em với những công cụ dạy giáo lý hữu hiệu, chẳng hạn như Toát yếu Giáo lý Giáo hội Công giáo hoặc Youcat: Giáo lý giới trẻ.

IV. Ở cấp giáo xứ, cộng đoàn, hiệp hội và phong trào

1. Mọi tín hữu được mời gọi chuẩn bị Năm Đức Tin bằng cách chuyên chú đọc và suy ngẫm Tông thư tự sắc Porta fidei (Cửa Đức Tin) của Đức Thánh cha Bênêđictô XVI.

2. Năm Đức Tin “sẽ là một cơ hội thích hợp để tăng cường việc cử hành đức tin trong phụng vụ, nhất là trong phép Thánh Thể”41 Trong phép Thánh Thể, mầu nhiệm đức tin và nguồn mạch phát sinh tân Phúc âm hóa, đức tin của Giáo hội được công bố, cử hành và được thêm sức mạnh. Mọi tín hữu được mời gọi tham dự bí tích Thánh Thể cách ý thức, tích cực và sinh ơn ích, để trở nên những chứng nhân đích thực của Chúa.

3. Các linh mục cần chăm chú nghiên cứu các văn kiện của Công đồng Vaticanô II và Giáo lý Giáo hội Công giáo, áp dụng vào mục vụ giáo xứ: dạy giáo lý, giảng thuyết, dọn mình cử hành các bí tích; cũng như đề ra chu kỳ các bài giảng về đức tin hoặc về một số khía cạnh cụ thể, chẳng hạn như: “Gặp gỡ Đức Kitô”, “Những nội dung cơ bản của kinh Tin kính”, “Đức tin và Giáo hội”.42

4. Các giáo lý viên cần khai thác hơn nữa giáo thuyết phong phú của sách Giáo lý Giáo hội Công giáo, đồng thời dưới sự hướng dẫn của cha sở, giúp các nhóm tín hữu đọc và cùng tìm hiểu ý nghĩa sâu xa của văn kiện quý báu này, để hình thành những cộng đoàn đức tin nhỏ, làm chứng về Chúa Giêsu.

5. Mong sao các giáo xứ có thêm sáng kiến mới nhằm phổ biến và phát hành sách Giáo lý Giáo hội Công giáo hoặc những nguồn tài liệu khác thích hợp với các gia đình, thật sự là Giáo hội tại gia và là nơi đầu tiên thông truyền đức tin, vào những dịp như làm phép nhà, rửa tội người lớn, thêm sức, kết hôn. Như vậy sẽ góp phần tuyên xưng đức tin và giúp hiểu sâu thêm giáo lý Công giáo “ngay dưới mái nhà của chúng ta, bên những người thân yêu trong gia đình chúng ta, để mỗi người cảm thấy sự đòi hỏi cấp thiết phải hiểu biết hơn nữa về đức gin và truyền lại đức gin ấy cho các thế hệ mai sau”.43

6. Cần cổ võ các chương trình truyền giáo và các sáng kiến khác trong giáo xứ cũng như tại nơi làm việc, để giúp giáo dân tái khám phá hồng ân đức tin đã lãnh nhận khi chịu phép rửa tội và trách nhiệm làm chứng nhân đức tin, với ý thức ơn gọi Kitô hữu “tự bản chất chính là ơn gọi làm tông đồ”.44

7. Trong Năm Đức Tin, tu sĩ các hội dòng và hội viên các tu đoàn tông đồ được mời gọi dấn thân vào công cuộc tân Phúc âm hóa qua việc gắn bó mật thiết hơn nữa với Chúa Giêsu, theo đặc sủng riêng của mình và trung thành với đức thánh cha cũng như với giáo lý đúng đắn.

8. Trong Năm Đức Tin, các cộng đoàn chiêm niệm sẽ đặc biệt cầu nguyện cho Dân Chúa biết canh tân đức tin và đẩy mạnh việc thông truyền đức tin cho các thế hệ trẻ.

9. Các hội đoàn và phong trào được mời gọi có những sáng kiến cụ thể, nhờ đặc sủng riêng của mình và cộng tác với các vị mục tử, để đóng góp vào Năm Đức Tin, sự kiện trọng đại của Hội thánh. Các cộng đoàn mới và các phong trào cần biết dùng những phương thế thích hợp nhất để làm chứng cho đức tin một cách sáng tạo và quảng đại.

10. Mọi tín hữu, được mời gọi canh tân ơn đức tin đã lãnh nhận, cần nỗ lực thông truyền kinh nghiệm sống đức tin và thực thi bác ái,45 bằng cách đối thoại với các anh chị em của mình, gồm tín hữu thuộc các giáo hội Kitô khác, tín đồ của các tôn giáo, những người không tin hoặc những người không quan tâm. Như vậy, hy vọng toàn dân Kitô giáo sẽ bắt đầu việc truyền giáo hướng đến những người mình cùng sống và cùng làm việc, vì biết rằng họ “cũng được đón nhận sứ điệp cứu độ dành cho mọi người”.46

Kết luận

Đức Tin là “người bạn đồng hành suốt đời, đem lại một cái nhìn luôn mới mẻ để nhận ra những kỳ công Chúa đang thực hiện cho chúng ta. Nhắm đến việc nắm bắt những dấu chỉ thời đại hiện nay của lịch sử, đức tin thúc đẩy mỗi người chúng ta trở thành dấu chỉ sống động về sự hiện diện của Đấng Phục Sinh trong thế giới”.47

Đức tin là hành động của cá nhân đồng thời cũng là của cộng đoàn: đó là ơn Chúa ban, ơn được sống trong sự hiệp thông lớn lao của Hội thánh và phải được thông truyền cho thế giới. Ước mong mọi sáng kiến dành cho Năm Đức Tin sẽ giúp mọi người vui mừng khám phá lại đức tin và canh tân việc làm chứng cho đức tin. Những hướng dẫn được trình bày ở đây nhằm mời gọi mọi thành phần dân Chúa hãy bắt tay làm cho Năm Đức Tin trở thành một cơ hội đặc biệt để chia sẻ điều quý giá nhất mà người Kitô hữu có được: Đức Kitô Giêsu, Đấng Cứu chuộc loài người, Vua Vũ Trụ, “Đấng khai mở và kiện toàn đức tin” (Dt 12,2).

Rôma, tại trụ sở Bộ Giáo lý Đức Tin, ngày 06 tháng 01 năm 2012, lễ Chúa Hiển Linh.



Hồng y William Levada

Bộ trưởng



Luis F. Ladaria, S.J.

Tổng Giám mục hiệu tòa Thibica

Thư ký
Chương II

THƯ MỤC VỤ NĂM ĐỨC TIN




  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương