Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp



tải về 0.56 Mb.
trang2/8
Chuyển đổi dữ liệu21.08.2016
Kích0.56 Mb.
#25200
1   2   3   4   5   6   7   8

Nguồn: IPC, 12/2006

1.3. Thị trường tiêu đen

Trong suốt tháng 1 và tháng 2/2006, thị trường tiêu khá tĩnh lặng do ảnh hưởng của nghỉ Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán (ở Việt Nam) vào thời gian đầu năm. Một lý do khác là chưa đến vụ thu hoạch tiêu mới ở hầu hết các nước trồng tiêu. Giá địa phương ở Cochin, Ấn Độ; Sri Lanka và Lampung, Indonesia tăng vững chắc, trong khi giá tiêu Việt Nam và Sarawak giảm. Ở Cochin, giá tiêu xô tăng từ 1.450 USD/tấn lên 1.540 USD. Giá FOB tiêu Malabar Garbled 1 tăng từ 1.678 lên 1.758 USD/tấn. Hoạt động mua bán cũng diễn ra khá mạnh so với tháng trước, khi mà các nhà xuất khẩu ở Cochin đã xuất được 1.600 tấn so với 1.450 tấn trong tháng 1/06. Điều này xảy ra do các hoạt động xuất khẩu ở Việt Nam giảm đi do nghỉ ăn Tết nguyên đán. Giá tiêu Việt Nam giảm từ 1.212 USD/tấn còn 1.192 USD/tấn.

Bắt đầu tháng 3/2006, thị trường bắt đầu có nhiều giao dịch. Ở Việt Nam, nguồn cung chủ yếu của thế giới, thị trường sôi động khi một lượng lớn tiêu được thu hoạch. Tuy nhiên, giá lại giảm so tháng trước. Giá địa phương tại TP. Hồ Chí Minh vào cuối tháng 3/06 là 1.170 USD/tấn và 1.197 USD/tấn đối với tiêu loại 500g/l, so với mức giá 1.192 và 1.220 USD/tấn ở cuối tháng 2, mức giảm gần 2%. Trong suốt tháng 3, Việt Nam xuất 16.000 tấn tiêu.

Trong tháng 4/2006, thị trường tiêu đen tập trung vào Việt Nam khi vụ thu hoạch ở đây đang chiếm lượng chủ yếu của thị trường. Hoạt động mua bán khá nhộn nhịp nhưng giá lại khá ổn định suốt trong tháng. So với tháng trước, giá giảm khoảng 1%.

Thị trường tiêu đen khá biến động trong tháng 5/2006. Thị trường tiêu đen tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam khá sôi động. Giá tiêu nội địa tăng từ 18.300 đồng/kg lên 19.400 đồng/kg; giá FOB tiêu đen 500g/l tăng từ 1.1180 lên 1.240 USD/tấn. So tháng trước, giá tăng 3%. Việt Nam đã xuất khoảng 13.820 tấn tiêu đen trong tháng 5 và tổng lượng xuất đến tháng 5 là 49.503 tấn.

Tại thị trường tiêu Sarawak, thị trường không giao dịch nhiều do nguồn dự trữ đã cạn trong khi mùa thu hoạch mới sẽ bắt đầu vào cuối tháng 6. So với tháng 4, giá tiêu tháng 5 tăng 2%. Các thị trường khác cũng không có nhiều giao dịch.

Vào tháng 6, giá tiêu đen trên thị trường có xu hướng tăng do Việt Nam đã bán ra nhiều, và dự trữ bắt đầu giảm. Đến hết tháng 6, Việt Nam đã xuất khoảng 66.200 tấn. Lượng xuất trong tháng 6 chỉ đạt khoảng 9.650 tấn, giảm 30% so với tháng 5. Giá địa phương tại TP. Hồ Chí Minh bắt đầu tăng từ 19.600 đồng/kg lên đến 22.500 đồng/kg vào cuối ttháng. Giá FOB tiêu đen 500g/l tăng từ 1.260 USD/tấn lên 1.440 USD/tấn; giá FOB tiêu đen 550g/l tăng từ 1.330 USD/tấn lên 1.520 USD/tấn. So tháng trước, giá trung bình tiêu đen Việt Nam tăng 9%.

Cũng trong tháng 6/2006, thị trường tiêu đen Sarawak, Kuching và Lampung cũng không có nhiều giao dịch, chủ yếu do nông dân ghìm giữ nguồn hàng, không bán ra thị trường để chờ giá cao. Giá FOB tiêu Malaysia tăng 200 USD/tấn so với tháng trước (từ 1.750 lên 1.950 USD/tấn). Giá tiêu nội địa tăng 10% và giá FOB tăng 9%.

Bắt đầu quý 2/2006, thị trường tiêu đen rất biến động sau đó rõ dần tình hình nguồn cung có hạn chế và nguồn dự trữ không còn nhiều. Sản lượng cung thế giới được dự đoán thấp. Tổng sản lượng tiêu đen năm 2006 chỉ vào khoảng 220 ngàn tấn, giảm 17% so với năm 2005. Sản lượng tiêu Ấn Độ dự kiến giảm 29%. Việt Nam đã bán ra gần hết hạt tiêu trong khi sản lượng cũng được dự đoán giảm. Tiêu Indonesia thu hoạch vào tháng 8 có thể bù đắp mức cung hạn chế ở các nước sản xuất khác, nhưng sản lượng cũng chỉ bằng 75% năm trước. Ngay cả sản lượng tiêu của Brazil cũng giảm. Chính vì vậy, các nhà kinh doanh tập trung thu mua tiêu trong quý 3/2006, đẩy giá tiêu tăng vọt so với cùng kỳ năm trước. Mức giá đạt đỉnh trong tháng 10/2006, cao gấp 2,03 lần giá cùng kỳ năm 2005 đối với tiêu đen.

Ấn Độ đã xuất khẩu khoảng 13.710 tấn tiêu đen trong 8 tháng đầu năm 2006, so với 11.130 tấn cùng kỳ năm 2005. So sánh về nguồn dự trữ và sản lượng tiêu trong năm và lượng bán ra, lượng tiêu của Ấn Độ bắt đầu cạn.

Việt Nam đã bán ra đến 105.380 tấn tiêu trong 9 tháng đầu năm 2006, so với sản lượng trong năm chỉ ở mức 92.000 tấn (77.000 tấn tiêu đen và 15.000 tấn tiêu trắng). Điều này cũng cho thấy nguồn hàng tiêu Việt Nam cũng bắt đầu cạn kiệt.

Ở Sarawak, sản lượng tiêu có giảm đôi chút so với năm trước nhưng nông dân vẫn chưa bán tiêu vì có nguồn thu từ cao su, đang được giá cao. Ngược lại, ở Lamphung, mặc dù giá quý 3 có tăng lên nhưng nông dân đã bán tiêu từ trước đó và nguồn cung đã cạn vì sản lượng quá ít.

Đến cuối quý 3/2006, giới kinh doanh hồ tiêu trông chờ vào nguồn cung từ Brazil hiện đang vào vụ thu hoạch. Do các nguồn cung khác đã cạn, tiêu Brazil sẽ quyết định giá thị trường. Tuy nhiên, các dự đoán vẫn cho rằng sản lượng tiêu Brazil cũng giảm so năm trước.

Tình hình cho thấy sau giai đoạn trì trệ suốt hơn 4 năm, giá tiêu bắt đầu hồi phục và khởi đầu cho một xu hướng tăng giá do giảm cung cho đến năm 2007, cơ bản do giảm cung.

Bắt đầu từ tháng 10/2006, thị trường tiêu bắt bắt đầu suy giảm, nhất là ở Ấn Độ. Bước qua tháng 11 và 12/2006, thị trường tiếp tục có xu hướng giảm. Giá tiêu ở các thị trường nguồn giảm đáng kể so các tháng trước. Lý do chủ yếu là các nhà kinh doanh thu mua tiêu hạt chờ đợi mức giá cạnh tranh hơn vào đầu năm 2007, khi mà Việt Nam và Ấn Độ bắt đầu thu hoạch tiêu.

Ở Ấn Độ, khối lượng hạt tiêu giao dịch trên thị trường Cochin giảm liên tục từ khi vào tháng 10. Giá FOB hạt tiêu đen rơi từ đỉnh cao 3.043 USD/tấn vào tuần thứ 3 tháng 9/2006 xuống còn 2.760 USD/tấn vào cuối tháng 10; và xuống còn 2.330 USD/tấn vào giữa tháng 12. Tình hình này xảy ra do các doanh nghiệp đã tích trữ hồ tiêu phải bán ra gấp để chuẩn chị cho vụ thu hoạch mới vào tháng 12 và tháng 1/07.

Tình hình giao dịch ở TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam cũng trầm lắng tương tự như ở Cochin. Lý do chính là nguồn hàng cạn kiệt và nhu cầu của các quốc gia theo đạo Hồi giảm suốt tháng Ramadhan và lễ Eidel Fitri. Các nhà thu mua cũng chờ đợi mùa vụ mới sẽ thu hoạch vào quý 1/2007. Giá FOB HCMC tiêu đen 500g/l giảm từ đỉnh 2.800 USD/tấn vào cuối tháng 9 xuống còn 2.660 USD/tấn vào cuối tháng 10 và 2.150 USD/tấn vào cuối tháng 11. Vào gần cuối tháng 12, giá ổn định ở mức 2.220 USD/tấn.

Ở Lampung, Indonesia thị trường cũng khá tĩnh lặng. Nông dân trồng hồ tiêu đã bán ra hết lượng dự trữ trong khi chỉ còn một số doanh nghiệp lớn hồ tiêu dự trữ hàng nhưng có giới hạn. Mặc dù nguồn hàng không còn bao nhiêu nhưng giá vẫn giảm do thị trường thế giới giảm nhu cầu. Giá thị trường địa phương giảm từ 2.604 USD/tấn/kg vào cuối tháng 9 xuống còn 2.199 USD/tấn vào giữa tháng 12. Giá FOB tiêu đen Lampung giảm tương ứng từ 3.000 USD/tấn còn 2.670 USD/tấn.

Ở Sarawak, giá địa phương giảm từ đỉnh 2.453 USD/tấn vào cuối tháng 9 xuống còn 2.167 USD/tấn vào gần cuối tháng 12. Trong khi đó, giá FOB tiêu đen Sarawak giảm tương ứng từ 3.400 USD/tấn xuống còn 3.100 USD/tấn.

Theo tin IPC ngày 7/12/2006, từ tháng 1-10/2006, sản lượng xuất khẩu của Braxin tăng đáng kể đến 30%. Theo thống kê của ABPE (Hiệp hội các nhà xuất khẩu và sản xuất tiêu Braxin), từ tháng 1-10/2006, Braxin xuất khẩu tổng cộng 31.095 tấn tiêu, đạt trị giá 58,9 triệu USD, tăng 30% về lượng và 77,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2005. Theo báo cáo thì sản lượng xuất khẩu tiêu của Braxin từ tháng 01-10/2005 là 23.912 tấn, trị giá 33 triệu USD.

Mỹ là nước nhập khẩu lớn nhất tiêu của Braxin với số lượng nhập khẩu là 12.152 tấn tiêu, đạt trị giá 21,06 triệu USD, tiếp theo là Đức với số lượng nhập khẩu là 3.736 tấn, Tây Ban Nha (2.869 tấn), Hà Lan (2.007 tấn) và Mêxicô (1.942 tấn). Ngoài ra cũng đáng chú ý rằng, số lượng xuất khẩu của Braxin cho Ấn Độ đã tăng đáng kể. Từ tháng 01-10/2006, sản lượng xuất khẩu tiêu của Braxin cho Ấn Độ là 338 tấn, tăng hơn 5500% tương đương 332 tấn so với cùng kỳ năm ngoái chỉ có 6 tấn. Sản lượng xuất khẩu của Braxin cho Ukraine/Nga ngoài ra cũng tăng đáng kể. Từ tháng 01-10/2006, Braxin xuất khẩu tổng cộng 1.245 tấn tiêu cho Ukraine/Nga, tăng đáng kể đến 2.390% tương đương 1.195 tấn so với cùng kỳ năm ngoái là 50 tấn. Giá hạt tiêu ở Braxin đầu năm 2006 rất thấp đã kích thích ngành sản xuất và xuất khẩu gia vị trị giá gia tăng tăng nhập khẩu hạt tiêu. Các nhà chế biến và xuất khẩu gia vị đã mua hạt tiêu Braxin với giá chỉ khoảng 1.500-1.800 USD/tấn, khi mà giá ở các nơi khác đều cao hơn, kể cả Ấn Độ. Ngành nhựa dầu cũng đã nhập khẩu một khối lượng khá lớn.

Diễn biến giá FOB tiêu đen ở các thị trường tiêu chủ yếu trên thế giới suốt năm 2006 phản ánh hoạt động giao dịch xuất nhập khẩu tiêu (hình 1). Tất cả các thị trường đều có mức giá thấp tương đương với mức giá 2005 cho đến tuần 09/6 và tuần 16/6. Giá tiêu cao nhất (loại Malabar MGI) cũng chỉ dao động trong khoảng 1.600-1.800 USD/tấn. Giá thấp nhất là tiêu đen Việt Nam 500g/l dao động trong khoảng trên dưới 1.200 USD/tấn. Bắt đầu tuần 16/6 trở đi, giá tiêu ở tất cả các nguồn cung tăng vọt và đều đạt đỉnh trong giai đoạn cuối tháng 9 và đầu tháng 10, dao động từ khoảng 2.700 đến 3.400 USD/tấn tùy theo thị trường. Sau đó giá tiêu giảm dần cho đến cuối tháng 12/2006, nhưng vẫn ở mức khá cao so với mức giá trước tháng 6/2006.



H
ình 1. Giá FOB tiêu đen theo tuần ở một số nguồn cung chính từ tháng 1 – 12/2006


(Nguồn: IPC, VPA)

1.4. Thị trường tiêu trắng

Diễn biến thị trường tiêu trắng cũng có xu hướng tương tự như tiêu đen. Như thể hiện ở hình 2, trong quý 1 và đầu quý 2/2006, giao dịch có vẻ ổn định khi giá cả không có biến động so năm 2005. Tuy biến động giá hàng tuần có xảy ra, nhưng nhìn tổng thể, mặt bằng giá tiêu trắng vẫn ổn định.

Đến đầu quý 3, giá tiêu trắng cũng có xu hướng tăng mạnh do nguồn cung giảm nhiều, lượng dự trữ không còn bao nhiêu. Ở Bangka, nông dân trữ lại hạt tiêu thu hoạch trong tháng 7/8 để chờ giá cao khi đã có một số nguồn thu khác. Ở Sarawak, giá tiêu trắng tăng vững chắc do thiếu cung. Giá tiêu trắng ở Kuching và Hải Nam cũng tăng đáng kể.

Giá tiêu trắng cũng có xu hướng giảm trong quý 4/2006 sau đợt tăng giá mạnh trong quý 3/2006. Ở Sarawak, giá địa phương giảm từ đỉnh 3.485 USD/tấn vào cuối tháng 9/2006 xuống còn 2.972 US/tấn vào gần cuối tháng 12. Lý do chính là nguồn hàng không còn bao nhiêu trong khi nông dân bán ra hàng dự trữ để có tiền đón lễ Eidel Fitri và cầu giảm. Ở Bangka, giao dịch cũng rất hạn chế từ tháng 11. Giá địa phương giảm từ 3.460 USD/tấn còn 3.115 USD/tấn vào cuối tháng 11. Giá FOB giảm từ 3.790 USD xuống 3.749 USD/tấn. Trung bình, giá địa phương giảm 7% và giá FOB giảm 8%. Cũng có thông tin cho rằng nông dân ở Bangka đang chuyển đổi vườn tiêu sang cao su vì lợi nhuận cao hơn.

Ở Hải Nam, giá tiêu trắng cũng giảm nhẹ từ tháng 10/2006 qua đến hết tháng 11/2006. Mức giảm giá FOB từ 3.200 USD còn 3.000 USD/tấn. Giá địa phương giảm từ 3.000 USD xuống 2.800 USD/tấn. Tại TP. Hồ Chí Minh, giá FOB tiêu trắng tháng 10 giảm nhẹ 1% so với tháng 9. Qua tháng 11, giá giảm mạnh từ 3.700 USD xuống 3.200 USD/tấn.

H
ình 2. Giá FOB tiêu trắng theo tuần ở một số nguồn cung chính từ tháng 11/2005 – 12/2006, (Nguồn: IPC, VPA)



1.5. Tình hình xuất khẩu tiêu Việt Nam

Mặc dù cho đến thời điểm này, vẫn chưa có con số chính thức về xuất khẩu tiêu của Việt Nam, nhưng đối chiếu từ các nguồn tin cậy, có thể xác định trong năm 2006 Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 116.000 tấn tiêu, đạt kim ngạch hơn 190 triệu USD. Trong đó, tiêu trắng khoảng 12 ngàn tấn, chiếm 10,3% cơ cấu. So với năm 2005, tổng lượng tiêu xuất khẩu tăng khoảng 20 ngàn tấn nhưng tiêu trắng giảm về cả lượng (giảm khoảng 2.400 tấn) và cả tỷ trọng (10,3% so với 15%).

Với các số liệu trên, giá xuất khẩu tiêu Việt Nam (cả tiêu đen lẫn tiêu trắng) đạt trung bình 1.638 USD/tấn. So với giá tiêu đen xuất khẩu trung bình chỉ đạt 1.166 USD/tấn năm 2005 và 1.092 USD/tấn năm 2004.

Diễn biến giá FOB tiêu đen Việt Nam (nguồn IPC) và giá nội địa (nguồn VPA) cho thấy có sự tương đồng về xu hướng. Nhìn chung, giá tăng rất nhanh từ đầu tháng 7/2006 và đạt đỉnh cao vào khoảng giữa tháng 9/2006 (từ 23 ngàn đồng/kg đến 47 ngàn đồng/kg đối với giá nội địa; từ 1.500 USD đến 2.800 USD/tấn đối với giá FOB HCMC). Mức giá đỉnh này được duy trì trong 2-3 tuần rồi bắt đầu giảm từ giữa tháng 10/2006. Đến gần cuối tháng 12/2006, mức giá nội địa ở vào khoảng 34 ngàn đồng/kg; mức giá FOB HCMC ở vào khoảng 2.200 USD/tấn (hình 3). Diễn biến giá FOB tiêu Việt Nam và giá nội địa cũng rất phù hợp với diễn biến giá thị trường hồ tiêu thế giới (hình 1, 2).

Đánh giá chung tình hình xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam năm 2006, có thể thấy các mặt mạnh, yếu như sau:

Thứ nhất, Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế là nhà sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu số một trên thế giới. Mặc dù trong những năm gần đây diện tích canh tác hồ tiêu ở Việt Nam đã ổn định vào khoảng trên dưới 52 ngàn ha, nhưng nhờ năng suất cao nên vẫn đạt sản lượng hàng năm trên dưới 100 ngàn tấn, cao nhất thế giới và chiếm khoảng 1/3 tổng sản lượng tiêu trên thế giới. Về xuất khẩu, Việt Nam đứng số một và chiếm khoảng trên dưới 50% lượng cung hạt tiêu trên thế giới. Theo ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch VPA, vị trí này là cơ hội rất tốt cho ngành tiêu Việt Nam tạo ra ưu thế chi phối và quyết định giá trên thị trường hạt tiêu thế giới.

Ưu thế thứ hai của ngành hồ tiêu Việt nam là sự ổn định về chất lượng và sản lượng. Mặc dù một số nước sản xuất tiêu đã giảm lượng sản xuất do giá cả thấp trong vài năm gần đây, Việt Nam vẫn duy trì được diện tích và sản lượng. Đồng thời, chất lượng hạt tiêu ngày càng cao nhờ quan tâm và đầu tư nhiều hơn đến chế biến sau thu hoạch.

Cũng theo VPA, thế mạnh thứ ba của ngành hồ tiêu Việt Nam là khả năng giảm thiểu xuất khẩu thông qua các nhà buôn trung gian, mà tăng cường xuất khẩu trực tiếp cho những nhà cung ứng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gia vị ở các nước.

Tuy nhiên, mặt yếu của ngành hồ tiêu Việt Nam là chưa đạt được sự thống nhất và chuyên nghiệp trong hoạt động xuất khẩu. Tình trạng tranh mua, tranh bán vẫn diễn ra mặc dù đã có nhiều dự báo về giảm cung trên thế giới và đẩy giá lên cao ngay từ cuối năm 2005. Tình trạng này đã làm cho giá tiêu xuất khẩu trung bình đạt không cao như có thể. Theo VPA, có đến hơn 60% lượng hồ tiêu Việt Nam được xuất khi giá chỉ ở mức 1.200 USD/tấn. Khi giá tăng từ 2.000 USD/tấn trở lên, lượng hàng của Việt nam chỉ còn khoảng 40%. Chính vì thế, giá xuất khẩu trung bình chỉ đạt hơn 1.600 USD/tấn một ít.

Theo số liệu ghi nhận lượng tiêu xuất khẩu qua cảng TP. Hồ Chí Minh (bảng 3), lượng tiêu xuất khẩu chủ yếu tập trung từ tháng 3-8/2006, lượng xuất mỗi tháng từ 10 đến 16 ngàn tấn. So với diễn biến giá FOB tại cảng TP. Hồ Chí Minh (nguồn IPC) và giá nội địa tại thị trường TP. Hồ Chí Minh (nguồn VPA) trình bày ở hình 3, đến hết tuần 23/6, giá xuất tiêu chỉ vào khoảng 1.300 USD/tấn, đến 30/6 đạt 1.440 USD/tấn nhưng đến cuối tháng 6/06, lượng tiêu đã xuất là 67 ngàn tấn; đến cuối tháng 9/2006, đã xuất qua cảng TP. Hồ Chí Minh 95.303 tấn. Bắt đầu từ 1/9, giá xuất tiêu đen bắt đầu vượt qua mức 2.200 USD/tấn thì lượng tiêu xuất trong tháng 9 chỉ là 6,1 ngàn tấn, tháng 10 là 4,5 ngàn tấn, tháng 11 là 2,7 ngàn tấn.

Hình 4 cũng cho thấy khối lượng xuất khẩu hạt tiêu hàng tuần của Việt Nam cũng chủ yếu tập trung từ tháng 2 đến tháng 5, mặc dù ngay từ đầu tháng 3/2006 (bản tin 9-10/06 ngày 12/3/06), VPA đã khuyến cáo các doanh nghiệp không nên chào bán một cách ồ ạt. Đến cuối tháng 5, lại xảy ra một đợt bán hàng ồ ạt nữa. Hậu quả là qua đầu tháng 6/2006, dấu hiệu thiếu hàng xuất khẩu bắt đầu xảy ra và qua tháng 7, tiêu nguyên liệu do nông dân dự trữ hầu như đã cạn kiệt mặc dù giá lên rất cao.

Vấn đề này cho thấy ngành tiêu Việt Nam đã bỏ qua cơ hội nâng cao giá bán và kim ngạch xuất khẩu vì sự cạnh tranh lẫn nhau, thiếu thống nhất và thiếu sự điều phối nhịp nhàng trong thu mua nguyên liệu và xuất khẩu. Theo VPA, có hai nguyên nhân chính là thiếu thông tin dự báo cung cầu trên thị trường và phương thức buôn bán theo kiểu mua đứt bán đoạn, thiếu kế hoạch thu mua, dự trữ và xuất hàng. Ngoài ra, một nguyên nhân các tác động lớn nữa là thiếu vốn, các doanh nghiệp khó có thể chủ động mua tiêu nguyên liệu và dự trữ chờ giá bán cao.

Sự yếu kém trên đã làm cho kim ngạch xuất khẩu không đạt cao như đã có cơ hội, phần lớn nông dân và doanh nghiệp đã phải bán tiêu lúc giá còn thấp, làm cho lợi nhuận chung của ngành không đạt cao.

Bảng 3. Sản lượng hạt tiêu xuất khẩu của Việt Nam 9 tháng đầu năm 2006 qua Cảng TP. Hồ Chí Minh


Tháng

Lượng xuất khẩu (tấn)

1

4.693

2

5.249

3

16.632

4

13.166

5

15.457

6

11.895

Cộng 6 tháng đầu năm

67.092

7

11.728

8

10.365

9

6.118

Cộng 9 tháng đầu năm

95.303

10

4.534

11

2.763

12 (đến 22/12)

2.513

Cộng sơ bộ quý 4/2006

9.810

Cộng sơ bộ cả năm 2006

105.113

H
ình 3. Giá nội địa và giá FOB HCM của tiêu đen Việt Nam 500g/L từ tháng 01– 12/2006

(Nguồn: IPC, VPA)



H
ình 4. Diễn biến khối lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2006 (Nguồn: tổng hợp số liệu các bản tin tuần của VPA)

Theo thông tin từ Bộ Thương mại, thị trường xuất khẩu chính của hạt tiêu Việt Nam là Mỹ, CHLB Đức, Hà Lan, Ấn Độ. Trong đó, xuất sang Mỹ với số lượng lớn nhất 17.515 tấn, đạt 29.436.572 USD (chiếm 15,45% tổng lượng xuất khẩu và chiếm 16,12% tổng kim ngạch xuất khẩu). Tiếp đó là các thị trường CHLB Đức (8,5% lượng xuất và 9,9% tổng kim ngạch); Hà Lan (7,7% lượng xuất và 8,1% tổng kim ngạch). Xuất khẩu đến Ấn Độ và Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất cũng khá quan trọng.



1.6. Nhận định chung và dự báo năm 2007

Sản lượng tiêu niên vụ 2006 ở các nước xuất khẩu chủ yếu giảm nhiều so năm 2005, mức cung toàn thế giới giảm, và nguồn dự trữ rất hạn hẹp. Các nguồn cung chủ yếu đã xuất gần hết nguồn hàng dự trữ hoặc mới thu hoạch. Do đó, giá tiêu bị đẩy cao đến mức kỷ lục trong vài năm qua vào cuối quý 3/2006. Bước vào quý 4/2006, nhu cầu giao dịch giảm dần và giá cũng giảm theo. Đến cuối tháng 12/2006, mặc dù nhu cầu mua hạt tiêu đã ngưng, các giao dịch tại các thị trường tiêu chủ yếu đã tạm lắng đọng, giá tiêu vẫn còn được duy trì ở mức khác cao so với cùng kỳ năm 2005. Theo dự báo của Hiệp hội Hồ tiêu VN, giá hạt tiêu xuất khẩu trong năm 2007 sẽ tiếp tục ổn định ở mức cao, khoảng 2.200 -2.500 USD/tấn.

Mức giá cao hiện nay có thể khuyến khích nông dân Việt Nam tăng đầu tư và đẩy sản lượng năm 2007 lên so với 2006, nếu không có các biến động bất ngờ về thời tiết và sâu bệnh hại. Tuy nhiên, vẫn chưa có những đánh giá tin cậy về sản lượng tiêu Việt Nam năm 2007 dù có những lo ngại về hạn hán do El Nino quay lại và thiệt hại do dịch bệnh xảy ra. Cũng có nguồn tin cho rằng vụ thu hoạch 2007 có thể sẽ giảm sản lượng 20% do bệnh hại.

Nhìn chung, các dự báo đều cho rằng sản lượng hạt tiêu thế giới năm 2007 dự kiến sẽ giảm xuống thấp hơn so với năm 2005 và cả 2006. Vì thế, giá hồ tiêu trên thị trường thế giói và thị trường Việt Nam năm 2007 vẫn sẽ ở mức cao so với giá năm 2005 và xoay quanh trục giá năm 2006. Tuy nhiên, mức giá này sẽ còn biến động tùy thuộc vào độ tin cậy của các dự báo về sản lượng tiêu dự báo và sản lượng thu hoạch thực tế của các nước sản xuất và xuất khẩu tiêu chủ yếu trên thế giới như Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia và Malaysia.



1.7. Khuyến cáo chính sách

Trong tình hình giảm cung và giá phục hồi như hiện nay, ngành hồ tiêu Việt Nam nên tập trung (1) giữ ổn định diện tích canh tác hồ tiêu, giúp nông dân giải quyết dịch hại để giữ ổn định năng suất và sản lượng; (2) tiếp tục nâng cao công nghệ chế biến để đạt chất lượng hạt tiêu xuất khẩu cao hơn; (3) có những hoạt động nhằm điều phối, thống nhất việc xuất khẩu tiêu giữa các doanh nghiệp để đạt được lợi ích chung cao nhất dựa trên các dự báo, thông tin thị trường chính xác và (4) liên kết với hệ thống ngân hàng để có đủ vốn thu mua và dự trữ nguyên liệu ngay từ đầu vụ tđể nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của toàn ngành.



  1. Ngành hàng Hạt điều nhân

2.1. Tình hình chung

Sản lượng hạt điều thế giới mấy năm qua liên tục tăng, phản ánh xu hướng sản lượng của châu Phi và Việt Nam, mà nguyên nhân chính là tăng diện tích trồng điều. Theo số liệu của FAO, diện tích điều cho thu hoạch năm 2004 của 20 nước có diện tích điều lớn nhất vào khoảng 3,1 triệu ha so với 2,1 triệu ha trong năm 1993. Trong đó, năm nước có diện tích điều đang thu hoạch lớn nhất là Ấn Độ (730 ngàn ha, 23,8%); Brazil (691 ngàn ha, 22,5%); Nigeria (324 ngàn ha, 10,6%; Việt Nam (282 ngàn ha, 9,2%) và Indonesia (260 ngàn ha, 8,5%).

Trong vòng 10 năm qua, sản lượng điều thế giới tăng gấp hơn 2 lần, đạt gần 2 triệu tấn. Trong đó, hai nước có sản lượng lớn nhất là Ấn Độ và Việt Nam. Việt Nam đang tiến sát Ấn Độ về sản xuất điều. Sản lượng điều thô Ấn Độ tài khoá 2005/06 đạt 573.000 tấn, so với 544.000 tấn tài khoá 2004/05 và 535.000 tấn tài khoá trước đó. Xuất khẩu nhân điều Ấn Độ năm 2005/06 đạt 114.143 tấn, so với 126.667 tấn năm 2004/05. Trong khi đó, Việt Nam bắt đầu vượt qua mức 100.000 tấn nhân điều xuất khẩu từ năm 2004 và đạt khoảng 109.000 tấn nhân điều xuất khẩu năm 2005. Khác biệt cơ bản là Việt Nam xuất khẩu hầu hết nhân hạt điều sản xuất được trong khi Ấn Độ tự tiêu thụ gần một nửa sản lượng.

C
hính vì sự gia tăng liên tục của diện tích trồng và sản lượng nhân điều, cạnh tranh gia tăng làm cho giá điều hạt và nhân hạt điều có xu hướng giảm. Đồng thời, diễn biến giá điều trên thị trường thế giới còn phụ thuộc vào sản lượng hàng năm và cạnh tranh từ những loại hạt khác.

Đặc trưng của thị trường điều xuất khẩu điều thế giới năm 2006 là gia tăng cạnh tranh trên thị trường đẩy giá mặt hàng này liên tục giảm từ đầu năm. Trong khi nguồn cung nhân hạt điều từ các nước sản xuất đều tăng lên thì nhu cầu liên tục giảm từ đầu năm tới nay, đặc biệt là Mỹ - thị trường tiêu thụ điều lớn nhất thế giới. Giá quả hạnh trên thị trường thế giới giảm, và tiêu thụ những loại hạt khác tăng lên trên những thị trường tiêu thụ lớn cạnh tranh trực tiếp với hạt điều.

Nhu cầu giảm trên thị trường thế giới và sự cạnh tranh tăng từ các nước sản xuất khác đã làm giảm xuất khẩu điều của Ấn Độ trong quý đầu tiên của tài khoá 2006/07 (tháng 4-6). Do cung tăng vượt cầu, giá điều trên thị trường thế giới đã giảm. Thị trường càng về cuối năm càng yếu ớt. Diễn biến thị trường điều thế giới quý 4/2006 có trầm lắng đi so với quý 2 và 3, chủ yếu do các giao dịch mới giảm. Các doanh nghiệp xuất khẩu tập trung giao hàng cho các hợp đồng đã ký.

Thị trường Ấn Độ có nhu cầu nhập nhân hạt điều để bù vào số hàng bị trả lại do không đạt chất lượng để đáp ứng các hợp đồng đã ký, tỷ lệ trả lại khoảng 10%.

Vào đầu tháng 10, nhu cầu nhập nhân hạt điều của thị trường Trung Quốc tăng do đã hết nguyên liệu chế biến. Do đó giá tăng nhẹ. Nhiều doanh nhân Trung Quốc tìm đến thị trường Việt Nam nhưng không còn nhiều nguồn hàng.

Giá hạt điều nhân trung bình trong 5 tháng đầu năm 2006 là 4,1 USD/kg, giảm 15% so với cùng kỳ năm ngoái. Vào quý 3 và 4/2006, giá điều nhân khá ổn định. Giá FOB Cochin, Ấn Độ tháng 12 của loại rất tốt dao động trong khoảng 3,9-4,0 USD/lb (loại W180); 3,3-3,4 USD/lb (loại W210). Loại nhân chất lượng tốt có giá 2,25 USD/lb (loại W240); 2,05 USD/lb (loại W320). Vào đầu quý 4/2006, Indonesia bán điều thô làm nguyên liệu cho Việt Nam và Ấn Độ, mức giá từ 790 – 800 USD/ tấn CNF TP. HCM, và tăng lên tới 830 – 835 USD/tấn cho loại có tỷ lệ thu hồi điều nhân 29-30% (53 – 54 Lbs trên 80 Kg), cỡ hạt 205, độ ẩm 10%.

Vào cuối năm 2006, các nhà xuất khẩu chủ yếu chờ đợi giá của thị trường năm 2007 và vì vậy, không tha thiết với các hợp đồng giao sau (forward market). Một yếu tố khác là các hợp đồng giao ngay (spot market) có giá cao hơn, nếu các nhà xuất khẩu có hàng.



Каталог: images -> 2007
2007 -> Hồ sơ ngành hàng rau quả
2007 -> Căn cứ Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998
2007 -> Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
2007 -> QuyếT ĐỊnh số 46/2007/QĐ-bnn, ngày 28 tháng 5 năm 2007 Ban hành Quy định về việc xác định rừng trồng, rừng khoanh nuôi thành rừng
2007 -> Trung tâm phát triển nông thôN
2007 -> §å hép rau qu¶ Ph­¬ng ph¸p x¸c ®Þnh hµm l­îng vitamin c (axit ascobic) tcvn 4715 89
2007 -> Tiªu chuÈn ViÖt nam §å hép rau qu¶ Ph­¬ng ph¸p thö tcvn 4712-89
2007 -> Iso 9000: 2000 Thuật ngữ và định nghĩa hệ thống quản lý chất lượng Thuật ngữ liên quan đến chất lượng
2007 -> Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp

tải về 0.56 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương