Đầu tư và “chia sẻ chi phí” trong gdđh việt Nam Phạm Phụ Đầu tư cho gdđH trong bối cảnh toàn cầu hóa



tải về 326.63 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu26.03.2018
Kích326.63 Kb.
  1   2   3   4


Đầu tư và “chia sẻ chi phí” trong GDĐH Việt Nam

Phạm Phụ

  1. Đầu tư cho GDĐH trong bối cảnh toàn cầu hóa

Thực chất của toàn cầu hóa (TCH) là 3 luồng di chuyển tự do. Luồng thứ nhất là hàng hóa, bao gồm cả hàng hóa vật phẩm và hàng hóa dịch vụ, trong đó có dịch vụ GDĐH. Luồng thứ hai là vốn. Khi vốn di chuyển tự do thì cơ hội đầu tư, trong đó có đầu tư cho GDĐH, cũng được xem xét trên quy mô toàn cầu với gần như cùng một “giá sử dụng vốn” (cost of capital). Và luồng thứ ba là di dân. Điều này cũng có nghĩa, sẽ hình thành một thị trường nguồn nhân lực có tính toàn cầu.

Việt Nam đã tham gia WTO từ năm 2007, nghĩa là sẽ có cả 3 luồng di chuyển tự do nói trên giữa Việt Nam và các nước trên thế giới và tác động lên các loại dịch vụ trong đó có dịch vụ GDĐH. Do đó, ĐH Việt Nam nay cũng phải có đủ khả năng cạnh tranh và cũng phải biết cách cạnh tranh với ĐH của nước ngoài trong việc cung cấp dịch vụ GD, cả về chất lượng cũng như giá thành, cạnh tranh để có thêm nguồn lực tài chính, cạnh tranh để có thêm thầy giáo giỏi, học trò giỏi vv… Và, dĩ nhiên, tất cả đều phải trên cùng một mặt bằng giá so sánh, tính theo sức mua của đồng tiền.

Để có được khả năng cạnh tranh đó, trước hết Việt Nam cần phải có “Suất đầu tư” thỏa đáng cho GDĐH. “Suất đầu tư” trong GDĐH trên thế giới lại thường được biểu thị qua một chỉ số gọi là “Chi phí đơn vị” (CPĐV – Unit cost) – chi phí cho một sinh viên (SV) trong một năm. Ở Việt Nam hiện nay (2009), theo báo cáo của Bộ GD&ĐT, chi từ Ngân sách Nhà nước (NSNN) bình quân cho một SV ĐH công lập là 7,14 Tr.Đ/năm. Nếu mức học phí là 2,4 Tr.Đ/năm thì gần đúng có thể cho rằng, mức CPĐV ở ĐH công lập hiện nay là 9,54 Tr.Đ/năm, tương đương khoảng 500 – 550USD/SV – năm(1),(2).

Trong khi đó, mức CPĐV từ năm 2004 – 2005, bình quân ở Mỹ đã là 22.000 USD, các nước OECD 12.000 USD, Đài Loan 7.000 USD, vv… Điều này có nghĩa, nếu Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức CPĐV 500 – 550 USD, hay là khoảng 50% GDP/đn, như đã nêu ở trên, GDĐH Việt Nam cũng như chính chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam sẽ không đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh TCH. Ngày nay, không thể nói chất lượng sản phẩm của tôi tương đương như của anh nhưng giá thành chỉ bằng 1/5 hay 1/3. Chính WB (2004) cũng đã có nhận xét: “Chi tiêu bình quân trên đầu SV công lập (ở Việt Nam) đạt từ 53% đến 57% GDP/đn, con số này thấp hơn nhiều so với bình quân của 117 quốc gia trên thế giới có số liệu, khoảng 93%GDP/đn.

Hệ quả của thực trạng trên còn là: Thứ nhất, xuất hiện một phong trào du học tự túc ở những ĐH cấp thấp mà báo chí đã gọi là “ tỵ nạn du học”(3). Hiện đã có trên 50.000 SV đi du học tự túc, phần lớn thuộc loại này, và chi phí xã hội hàng năm có thể lên đến khoảng 800 Tr.USD, nếu so với NSNN hàng năm dành cho 1,7 triệu SV đang học trong nước là khoảng 500 Tr. USD thì quả là những chi phí không hợp lý(4). Thứ hai, ĐH Việt Nam đã bị đối xử “bình đẳng quốc gia” ngược (National Treatment), nghĩa là “phân khúc thị trường” chi phí cao của dịch vụ GDĐH lại đang được dành ưu tiên cho ĐH của nước ngoài đến Việt Nam. Và thứ ba, Việt Nam sẽ bị “chảy máu chất xám”, trước hết là ở GDĐH. Đã có hiện tượng mà thế giới gọi là “decamp” (đột ngột “tẩu thoát”) của thầy, cô giáo ở ĐH theo rất nhiều dạng thức khác nhau.

02. Cần có mức CPĐV thỏa đáng

Vậy vấn đề nảy sinh trước hết là, CPĐV hợp lý hiện nay nên là bao nhiêu? Nếu so sánh theo kiểu “GD so sánh” và suy luận theo cách ước tính của một số chuyên gia ở WB ta thấy, với các nước phát triển cao, tỷ lệ CPĐV/GDP-đn chỉ cần ở mức 50 – 60%, với các nước phát triển trung bình, tỷ lệ này thường lại vào khoảng 80 – 100%, còn với các nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam hiện nay, tỷ lệ này lại cần đến khoảng 120 – 150%. Nghĩa là, không thể so sánh theo con số USD tuyệt đối mà cũng không thể so sánh thuần túy theo con số GDP/đn. Điều này cũng được rút ra từ mối quan hệ giữa CPĐV/ GDP-đn và GDP/đn như sau:




(1000 USD)


Hình 1: Mối quan hệ giữa CPĐV/GDP-đn và GDP/đn

Vậy nếu GDP/đn của Việt Nam năm 2009 là 1.000 USD thì CPĐV/GDP-đn hợp lý sẽ vào khoảng 120% hay CPĐV = 1.200 USD.

Khảo sát thực tế ở ĐH Quốc Tế - ĐH quốc gia Tp.HCM với CPĐV khoảng 1.500 USD và ĐH Hoa Sen Tp.HCM với CPĐV khoảng 700 USD cho thấy rõ, dù điểm đầu vào chỉ ở điểm khá hoặc điểm sàn, việc tổ chức học tập ở các trường này khá tốt, SV khá tự tin và hy vọng chất lượng đào tạo tốt hơn nhiều…với, vẫn là những nhà quản lý và thầy giáo Việt Nam.

Tuy nhiên, đấy mới chỉ là CPĐV trung bình của nền GDĐH. Trên thực tế, CPĐV hợp lý cho các ngành nghề đào tạo khác nhau cũng như chất lượng đào tạo khác nhau sẽ rất khác nhau. Tham khảo các con số thống kê của Nhật và Thái lan như ở dưới đây cho thấy rõ điều đó.





Hình 2: Chi phí thường xuyên trong CPĐV ở Nhật (1996).


STT

Loại ĐH

CPĐV (USD)

HP trung bình (USD)

1

ĐH công, tr.thống

2.500 – 3.500

400

2

ĐH công nghệ

1.200

300

3

ĐH sư phạm

500

240

4

ĐH mở

120

70
Bảng 1: CPĐV cho các loại trường ĐH khác nhau ở Thái Lan (2005)

  1. Cơ sở khoa học của việc gánh chịu chi phí ở GDĐH

Tiếp theo, để xem xét vấn đề ai là người phải gánh chịu chi phí nói trên, hay nói cách khác, ai là người phải cung cấp tài chính cho dịch vụ GDĐH, trước hết ta thử xét tính chất của HH dịch vụ GDĐH.

Đã khoảng 20 năm qua, khi tài chính cho GDĐH đã lâm vào “cảnh cùng quẫn” (theo WB), WB đã gọi đây là “HH cá nhân”, trong khi đó, UNESCO vẫn gọi là “HH công cộng”. Tại sao hai tổ chức quốc tế lại gọi ngược chiều với nhau như vậy? Và tại sao, thực tế trong suốt 20 năm qua cũng đã diễn tiến theo xu thế của WB hơn là của UNESCO(5)?

Thiết nghĩ, có lẽ UNESCO đã gọi dịch vụ GDĐH là “HH công cộng” theo ý nghĩa xã hội của nó. Vì, theo [Cohen & Henry, 2001], GDĐH là lĩnh vực đồng thời thỏa mãn hai tiêu chí cơ bản của một HH công cộng. Tiêu chí một là “tính thiết yếu” của dịch vụ, là tiền đề cho việc phát triển kinh tế xã hội và còn để tạo nên mối liên kết xã hội. Tiêu chí hai là nó bị rơi vào vùng “cơ chế thị trường bị thất bại” (market failure) mà biểu hiện rõ nhất của nó là “tác động ngoại biên” (Externalities) cũng như “tác động lan tỏa” (Spill-over effects) dương đối với xã hội và “thông tin bất đối xứng” (6).

“Tác động ngoại biên” thể hiện ở nhiều mặt, từ việc làm cho năng suất lao động xã hội cao hơn, tỷ lệ có việc làm cao hơn, tuổi thọ cao hơn, con cái mạnh khoẻ hơn, ít phụ thuộc vào trợ cấp của nhà nước hơn… cho đến tội phạm và tù tội ít hơn, đóng góp cho từ thiện nhiều hơn, v.v…, nếu có trình độ GD cao hơn. Riêng về tác động đến tỷ lệ có việc làm cao hơn, có thể minh họa qua bảng thống kê (Bảng 1) sau đây (Michael & Kretovics, 2004). Như vậy, phụ nữ ở Ý, tỷ lệ có việc làm đã tăng từ 34% lên đến 81% nếu được GD thêm từ trình độ dưới trung học phổ thông lên đến đại học và “sau” đại học. Còn các con số tương ứng của phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ là 22% và 71%.



Nước

Trung bình

Dưới trung học phổ thông

Trên trung học p. thông

Đại học
và sau đại học


Pháp

85/70

76/57

88/76

92/84

Ý

80/50

74/34

86/67

91/81

Hàn Quốc

88/57

84/61

89/53

91/56

Nhật

95/63

87/56

95/63

97/68

Úc

86/66

79/55

89/68

92/83

Mexico

94/43

94/37

96/56

94/70

Tây Ban Nha

86/54

83/41

90/66

91/83

Thổ Nhĩ Kỳ

84/27

82/22

87/32

87/71

Mỹ

87/73

75/52

86/73

92/81

Bảng 2. Tỷ lệ (%) tham gia lực lượng lao động (2001) của

những người từ 25 đến 64 tuổi (Nam/Nữ)

Chính vì vậy, vì “tác động ngoại biên” dương của dịch vụ GD cũng như chính sự “sòng phẳng” của cơ chế thị trường, Nhà nước luôn có tài trợ cho dịch vụ GDĐH ở hầu hết các nước trên thế giới.

Còn thị trường dịch vụ GDĐH có “thông tin bất đối xứng” vì rằng, ở đây, người mua thường được biết rất ít về loại hàng hóa dịch vụ mà họ đang mua và rất dễ lâm vào tình cảnh nhận được một chất lượng dịch vụ thấp hơn nhiều so với chất lượng mà họ kỳ vọng cũng như cái giá mà họ đã phải trả. Ở đây cũng khó mà ký kết được những hợp đồng về việc đảm bảo chất lượng của dịch vụ. Thị trường như vậy thường rất dễ bị tổn thương và chỉ là “thị trường của niềm tin” (Trust market, như thị trường GD, y tế, trung tâm chăm sóc người già, trẻ em…), hay còn gọi là “thị trường của vận may”.

Trong khi đó, có lẽ WB đã gọi dịch vụ GDĐH là “HH cá nhân” theo ý nghĩa kinh tế học của nó. Trong kinh tế học, người ta phân nhóm các loại HH theo hai đặc trưng. Đặc trưng thứ nhất là tính “loại trừ” (excludability), nghĩa là có thể ngăn cản được việc sử dụng hay không? Đặc trưng thứ hai là tính “ganh đua” (rivalry), nghĩa là khi có người sử dụng HH đó thì có làm giảm đi giá trị đối với người sử dụng khác hay không? Từ đó có thể nhóm thành 4 loại HH như ở Hình 3, bao gồm “HH cá nhân”, “Độc quyền tự nhiên”, “Tài nguyên chung” và “HH công cộng”. HH dịch vụ GDĐH vừa có tính “loại trừ” vừa có tính “ganh đua”, (một em dành được một chỗ học trong GDĐH đương nhiên loại trừ và ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ của em khác). Vì vậy, nó là “HH cá nhân”.








Private Goods

  • Ice-cream cones

  • Clothing

  • Congested toll roads


Natural Monopolies





Common Resources


Public Goods

  • National defense

  • Knowledge, basic science

  • Uncongested nontoll roads




Hình 3- Bốn loại hàng hóa

Có thể cho rằng, đây là cơ sở khoa học để dịch vụ GDĐH có định hướng thị trường nhiều hơn(7) nhằm phát huy tính hiệu quả của nó với các xu thế:



  1. Thứ nhất là, tin cậy hơn vào những tín hiệu giá cả của thị trường và chuyền quyền quyết định từ Chính phủ và các cơ sở GDĐH sang khách hàng của họ, khách hàng có thể là SV, là người sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo hoặc công chúng nói chung;

  2. Thứ hai là, chuyển một phần, thậm chí toàn bộ chi phí của GDĐH cho chính người học, gọi là nguyên tắc “User pays principle”;

  3. Thứ ba là, phát triển ĐH tư thục, kể cả một số ít cơ sở ĐH vì lợi nhuận, mở rộng sự đóng góp của cộng đồng;

  4. Thứ tư là dịch vụ GDĐH cũng phải có cạnh tranh nên cần chuyển giao thẩm quyền quản lý từ trung ương về địa phương và tăng thêm quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH.

  5. thứ năm là quản lý tài chính cho ở cơ sở GDĐH gần giống như ở một doanh nghiệp.

Mặt khác, đầu tư cho GDĐH cũng là một loại đầu tư rất có hiệu quả. Vào những thập niên cuối của thế kỷ trước, người ta đã ước tính được suất thu lợi bình quân ở đây là vào khoảng 15-20% về mặt cá nhân và khoảng 10-15% về mặt xã hội. Nói riêng, suất thu lợi về mặt cá nhân ở các nước mới phát triển là rất cao, ví dụ ở Hồng Kông: 25.7% (1976), ở Malaysia: 34.5% (1978), ở Singapore: 25.4% (1966), ở Brazil: 28.2% (1989). Sự diễn biến về thu nhập của nam giới khi tốt nghiệp ĐH và không tốt nghiệp ĐH ở Anh như ở Hình 4 dưới đây cũng cho thấy rõ điều đó.



Hình 4: Chênh lệch thu nhập ở Anh giữa nam giới

: DuThao -> Lists -> DT TAILIEU -> Attachments
Attachments -> Luật giao thông đường thủy nội địa sau 8 năm thực hiện
Attachments -> Công ước số 138 Công ước về Tuổi tối thiểu được đi làm việc, 1973
Attachments -> Các đơn vị đặc nhiệm một số quốc gia
Attachments -> KẾt hôn có YẾu tố NƯỚc ngoàI: LÚng túng “ĐUỔI” theo thông tư
Attachments -> Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện đại Đỗ Giang Nam
Attachments -> Công ước số 182 Công ước Nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, 1999
Attachments -> Số 279: Sở hữu đất đai
Attachments -> Tìm hiểu về quân đội vũ trang cách mạng Cu-ba
Attachments -> Lực lượng đặc nhiệm sas (Special Air Service) của Quân đội Hoàng gia Anh
Attachments -> MỘt số GÓP Ý cho dự thảo luật phòNG, chống rửa tiềN


  1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương