UỶ ban thể DỤc thể thao



tải về 1.02 Mb.
trang12/14
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích1.02 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

Điều 184

NÉM TẠ XÍCH

CUỘC THI


1. Trình tự trong đó các vận động viên thực hiện lần ném của mình sẽ được xác định bằng rút thăm

2. Khi có trên 8 vận động viên tham gia thi đấu, mỗi vận động viên sẽ được phép ném 3 lần và 8 vận động viên có thành tích cao hơn sẽ được phép ném thêm 3 lần nữa theo trình tự ngược lại với thứ tự xếp hạng thành tích của họ được ghi lại ở 3 lần ném đầu tiên.

Trong các cuộc thi, nếu có sự bằng nhau ở vị trí thứ 8 (đủ tư cách vào ném tiếp 3 lần nữa) thì sẽ giải quyết theo điều 146.3.

Khi số lượng vận động viên tham gia là 8 hoặc ít hơn thì mỗi vận động viên được ném 6 lần.

3. Tại khu vực thi đấu và trước khi bắt đầu môn thi, mỗi vận động viên có thể có các lần ném thử theo trình tự đã rút thăm và dưới sự giám sát của các trọng tài giám định.

4. Khi một vận động viên đã bắt đầu, các vận động khác không được phép sử dụng tạ xích với mục đích tập luyện hoặc sử dụng vòng ném hoặc sân để tập thử dù là có tạ xích hay không.

Việc ném tạ xích phải được thực hiện từ trong vòng ném. Vận động viên phải bắt đầu lần ném từ tư thế tĩnh.

Vận động viên, tại vị trí bắt đầu trước khi vung hoặc quay, được phép đặt đầu tạ xích trên đất ở bên trong hoặc bên ngoài vòng ném.

Vận động viên được phép chạm vào bên trong của vòng sắt.

6. Nếu đầu của tạ xích chạm đất hoặc mặt trên của vòng sắt khi vận động viên thực hiện quay hoặc lăng ban đầu thì sẽ không bị coi là phạm lỗi, song nếu sau khi chạm đất hoặc phía trên vòng ném vận động viên dừng để bắt đầu lại lần ném thì sẽ bị tính là phạm lỗi.

7. (a) Không được phép có thêm bất kỳ trang bị nào (thí dụ như quấn băng 2 hay nhiều ngón tay lại với nhau) để trợ giúp cho vận động viên khi thực hiện lần ném. Tuy nhiên được phép quấn băng riêng từng ngón. Việc quấn băng phải công khai đối với tổ trưởng trọng tài giám định trước khi bắt đầu cuộc thi.

Việc sử dụng băng trên bàn tay sẽ không được phép trừ trường hợp cần thiết để phủ một vết thương hoặc vết cắt bị hở miệng.

(b) Được phép sử dụng găng tay bảo vệ. Găng tay ở mặt trước, mặt sau và ở đầu các ngón phải nhẵn, trừ ngón cái được mở ra.

(c) Để giữ được tốt hơn, các vận động viên được phép sử dụng chất phù hợp (bột) để xoa chỉ lên tay hoặc trên găng của mình.

(d) Vận động viên có thể dùng thắt lưng da hoặc các liệu phù hợp khác để bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương.

(e) Vận động viên không được phun (xịt) hoặc bôi bất kỳ chất gì vào vòng ném hoặc lên đế giầy của mình.

8. Vận động viên sẽ phạm lỗi nếu, sau khi đã bước vào vòng ném và bắt đầu thực hiện động tác vung mà chạm bất kỳ bộ phận nào của cơ thể xuống đất ở bên ngoài vòng ném hoặc lên mặt trên của vòng sắt.

9. Miễn là trong quá trình thực hiện lần ném, các luật trên không bị vi phạm, vận động viên có thể dừng một lần ném đã bắt đầu, có thể dặt tạ xích xuống bên trong hoặc bên ngoài vòng và có thể bước ra khỏi vòng ném. Khi rời vòng ném, vận động viên phải bước ra đúng theo yêu cầu của mục 13, trước khi quay lại vị trí đứng và bắt đầu một lần ném mới.

Ghi chú. Tất cả các di chuyển được phép của mục này phải nằm trong thời gian qui định tối đa cho một lần ném đã nêu trong điều 142.4.

10. Nếu đầu tạ xích bị long ra khi ném hoặc trong lúc bay trên không thì lần ném sẽ không bị coi là phạm lỗi, miễn là lần ném đó đã thực hiện đúng điều luật này. Nếu vận động viên do việc long ra của đầu tạ mà bị mất thăng bằng mà vi phạm bất kỳ phần nào của điều luật này thì sẽ không bị coi là phạm lỗi.

11. Đối với một lần ném hợp lệ, đầu tạ xích phải rơi hoàn toàn phía trong cạnh trong của khu vực rơi

12. Việc đo kết quả mỗi lần ném sẽ được thực hiện ngay sau khi lần ném đã được hoàn thành và được đo từ điểm chạm gần nhất của đầu tạ xích tới phía trong của đường tròn bao quanh vòng ném và đi theo đường thẳng qua tâm của vòng ném.

13. Vận động viên không được rời khỏi vòng ném cho tới khi đầu tạ xích đã chạm xuống đất. Khi rời khỏi vòng ném, việc chạm đầu tiên lên mặt đất hoặc phía trên vòng sắt sẽ phải hoàn toàn ở phía sau vạch trắng được vẽ bên ngoài vòng và hướng qua tâm vòng ném.

14. Tạ xích phải được mang trở lại vòng ném và không bao giờ được quăng tạ ngược trở lại.

15. Mỗi vận động viên sẽ được tính thành tích cao nhất trong các lần ném của mình bao gồm cả những lần ném để phân hạng cao nhất trong trường hợp có sự bằng nhau ở vị trí đầu tiên.

VÒNG NÉM TẠ XÍCH

16. Cấu trúc: Vòng được làm bằng sắt, thép hoặc bất cứ vật liệu phù hợp nào khác, mặt trên của vòng phải ngang bằng với mặt đất. Mặt bên trong của vòng được lát bê tông, rải nhựa hoặc bất cứ vật liệu cứng nào khác song không được trơn. Bề mặt trên của phần bên trong vòng phải thấp hơn so với cạnh mép trên của vòng từ 14-26mm.

17. Kích thước: đường kính bên trong của vòng phải là 2,135 m (+- 5mm), mép vòng tối thiểu phải dày 6mm và được sơn trắng.

18. Một vạch trắng rộng 5cm được vẽ từ mặt trên của mép vòng rộng sang hai bên, mỗi bên tối thiểu 75cm. Vạch này có thể được sơn hoặc làm bằng gỗ hoặc vật liệu phù hợp khác.

Vạch trắng này về mặt lý thuyết, khi kéo dài phải đi qua tâm vòng ném và vuông góc với đường trung tâm của khu vực rơi.

Tạ xích có thể được ném từ trong vòng dùng để ném đĩa miễn là đường kính của vòng này được giảm từ 2,5m xuống 2,135m bằng cách đặt một vòng nhỏ ở trong

TẠ XÍCH


19. Cấu trúc: tạ xích bao gồm 3 phần: đầu tạ bằng kim loại, dây cáp và tay cầm.

20. Đầu tạ: đầu tạ xích phải là sắt cứng hoặc kim loại khác không được mềm hơn đồng hoặc vỏ bằng những kim loại trên còn trong ruột đổ chì hoặc vật liệu khác. Đầu tạ xích phải có dạng hình cầu, đường kính tối thiểu của đầu tạ là 110mm đối với nam và 95mm đối với nữ.

Nếu sử dụng cách hàn, mối hàn phải được nối vào theo cách để nó là bất động và trọng tâm của đầu tạ phải cách tâm của hình cầu không quá 6mm.

21. Dây cáp: dây cáp phải là một đoạn thẳng liên tục (không nối) bằng thép lò xo có đường kính tối thiểu 3mm và phải được cấu tạo sao cho không bị kéo dãn ra đáng kể trong lúc ném tạ xích. Dây có thể được buộc lại ở một hoặc cả hai đầu để gắn với tạ và tay cầm.



22. Tay cầm: tay cầm có thể là một cấu trúc vòng hoặc vòng đôi song phải cứng và không có bất kỳ loại khớp nối bản lề nào. Tay cầm không được kéo giãn đáng kể khi thực hiện ném. Tay cầm được gắn với dây theo cách nào đó để nó không bị xoay bên trong vòng dây làm tăng độ dài toàn bộ của tạ xích.



23. Khớp nối: dây cáp được nối với đầu của tạ xích bằng một khớp khuyên phẳng hoặc cầu. Tay cầm phải được nối với dây cáp bằng cách quấn, không được dùng khớp khuyên.

24. Các đặc điểm kỹ thuật sau là phù hợp với tạ xích

Trọng lượng toàn bộ khí nén Nam Nữ

Trọng lượng tối thiểu để được thừa nhận trong thi đấu. và được chấp nhận 1 kỷ lục

7260 kg 4 kg

Thông tin về dụng cụ

Phạm vi cung cấp tạ xích cho thi đấu

7.265 kg

7.285 kg

4.005 kg

4.025 kg


Độ dài của tạ xích được đo từ bên trong của tay cầm

Tối thiểu

Tối đa

1.175 mm


1.215 mm

1.160 mm


1.195 mm

Đường kính của đầu tạ xích

Tối thiểu

Tối đa


110 mm

130 mm


95 mm

110 mm


TRỌNG TÂM CỦA ĐẦU TẠ XÍCH

Không quá 6 mm so với tâm của hình cầu - có nghĩa là nó phải thăng bằng ở đầu trụ kiểm tra có mặt trên phẳng, tròn với đường kính 12mm.

25. Tại tất cả các cuộc thi được áp dụng theo điều 12.1 (a) chỉ có các tạ xích do ban tổ chức cung cấp mới được phép sử dụng và không được sửa đổi chúng trong quá trình thi đấu.

Không vận động viên nào được phép mang bất kỳ quả tạ xích nào vào khu vực thi đấu.

Tại tất cả các cuộc thi khác, các vận động viên có thể sử dụng tạ xích riêng của mình miễn là chúng được kiểm tra và đánh dấu bởi ban tổ chức trước cuộc thi.

KHU VỰC TẠ RƠI

26. Độ nghiêng tối đa cho phép thấp xuống theo hướng ném của khu vực tạ rơi xuống không được vượt quá 1/1000.

Khu vực tạ rơi xuống phải được phủ lớp xỉ hoặc cỏ hoặc vật liệu phù hợp ở trên để khi rơi tạ để lại vết trên đó

27. Khu vực rơi xuống của tạ xích được giới hạn bởi 2 vạch trắng rộng 5cm, nếu kéo dài hai vạch này sẽ tạo thành góc 40o ở tâm vòng ném.

Ghi chú: Khu vực rơi có góc 40o có thể được vẽ chính xác bằng cách lấy tâm vòng ném làm trục vẽ một cung có bán kính 20m. Trên cung vừa vẽ ta xác định một dây cung có độ dài 13,68m. Nối hai đầu dây cung vừa được xác định với tâm vòng ném ta sẽ được một góc 40o ở tâm vòng.

28. Một cờ hoặc vật dấu dễ phân biệt để đánh dấu lần ném tốt nhất của mỗi vận động viên có thể dược cung cấp.

Trong trường hợp này cờ hoặc vật đánh dấu phải đặt dọc theo phía bên ngoài của vạch giới hạn khu vực tạ rơi.

Một cờ hoặc vật dấu dễ phân biệt cúng có thể được cung cấp để đánh dấu mức kỷ lục thế giới hiện tại và khi có điều kiện thì cả kỷ lục của châu lục và kỷ lục quốc gia.

Điều 185

LƯỚI BẢO VỆ TRONG NÉM ĐĨA

Tất cả các lần ném đĩa phải được thực hiện bên trong khu vực lưới bảo vệ để đảm bảo độ an toàn cho khán giả, trọng tài và các vận động viên. Lưới bảo vệ được trình bày rõ trong điều luật này là để dùng cho những sân vận động lớn có đông khán giả và các môn thi khác đang diễn ra trên sân. Trong trường hợp khác, đặc biệt trong khu vực tập luyện có thể dùng lưới bảo vệ đơn giản hơn. Có thể nhận thông tin chỉ dẫn từ uỷ ban quốc gia hoặc văn phòng IAAF.

Ghi chú: Lưới bảo vệ ném tạ xích được trình bày trong điều 185 cũng có thể được sử dụng cho ném đĩa bằng cách hoặc là lắp hai vòng đồng tâm có đường kính 2,135/2,50m hoặc bằng cách sử dụng kiểu mở rộng của lưới bảo vệ này cùng với vòng ném đĩa được đặt sau vòng ném tạ xích. Chi tiết được trình bày trong điều 185.

2. Lưới bảo vệ phải được thiết kế và lắp đặt như thế nào đó để có thể cản được một đĩa có trọng lượng 2kg đang đi chuyển với tốc độ trên 25m/giây, và đĩa không bị bật trở lại gây nguy hiểm cho vận động viên hoặc bay qua phía trên lưới chắn.

Miễn là thoả mãn tất cả những đòi hỏi của điều luật này, bất kỳ dạng lưới bảo vệ nào cũng có thể được sử dụng.

3. Lưới phải có hình chữ U bao gồm ít nhất 6 tấm lưới ghép rộng 3.17m như trong hình vẽ. Độ rộng của miệng chữ U phải là 6m và ở cách tâm vòng ném 5m. Độ cao của tấm lưới ghép tối thiểu phải là 4m.

Sự dự phòng phải được làm trong thiết kế và cấu trúc của lưới chắn để phòng ngừa một đĩa văng qua bất kỳ mắt lưới hoặc lưới hoặc phía dưới tấm ghép.

Lưới dùng trong ném tạ xích được nói rõ trong điều luật này từ năm 1958 - 1978 có thể được sử dụng cho ném đĩa. Trong trường hợp này vòng ném sẽ được đặt lùi về sau 80cm (có nghĩa là tâm của vòng ném cách miệng lưới 5m) để tăng độ an toàn.

4. Mặt lưới có thể làm từ dây gai bện tự nhiên hoặc nhân tạo hoặc từ dây thép. Cỡ mắt lưới tối đa phải là 5cm đối với dây thép và 4cm đối với lưới dây gai bện. Cỡ tối thiểu của dây gai hoặc dây thép phụ thuộc vào cấu trúc của lưới song sức mạnh để phá hỏng tối thiểu phải là 40kg.

Để bảo đảm độ an toàn liên tục của lưới, lưới thép phải được kiểm tra tối thiểu 12 tháng 1 lần.

Việc kiểm tra bằng mắt là không đủ đối với dây gai. Vì vậy cần kiểm tra độ dài như nhau của dây gai chuẩn được làm thành mắt lưới của nhà sản xuất. Chúng có thể khác nhau sau 12 tháng và được kiểm tra để bảo đảm độ bền ổn định của lưới.

5. Khu vực nguy hiểm nhất trong lúc ném đĩa ra khỏi lưới bảo vệ là khoảng 98o khi vận động viên sử dụng tay phải hoặc tay trái để ném trong cùng một cuộc thi đấu. Vì vậy việc kiểm tra vị trí và cân chỉnh lưới ở khu vực này là cần thiết để bảo đảm an toàn.





Điều 186

NÉM LAO

CUỘC THI ĐấU

1. Thứ tự trong đó các vận động viên thực hiện lần ném của mình sẽ được xác định bằng cách rút thăm.

2. Khi có trên 8 vận động viên tham gia thi đấu, mỗi vận động viên sẽ được phép ném 3 lần và 8 vận động có thành tích cao hơn sẽ được phép ném thêm 3 lần nữa theo trình tự ngược lại ở 3 lần ném đầu tiên.

Trong thi đấu nếu có sự bằng nhau ở vị trí thứ 8 (đủ tư cách và ném tiếp 3 lần nữa) thì sẽ giải quyết theo điều 146.3.

Khi số lượng vận động viên tham gia là 8 hoặc ít hơn thì mỗi vận động viên được ném 6 lần.

3. Tại khu vực thi đấu và trước khi bắt đầu môn thi, mỗi vận động viên có thể có các lần ném thử theo hình tự rút thăm và chịu sự giám sát của các trọng tài giám định.

4. Khi mỗi vận động viên đã bắt đầu, các vận động viên khác không được phép sử dụng và mục đích tập luyện hoặc sử dụng đường chạy hoặc vùng đất bên trong sân để tập thử dù có lao hay không.

5. (a) Lao phải được giữ tại chỗ cần có cuốn dây. Lao phải được ném trên vai hoặc phần trên của tay ném và không được quăng hoặc lăng. Các kiểu ném không chính thống là không được phép.

(b) Lần ném được coi là hợp lệ nếu mũi kim loại ở đầu lao chạm vào đất trước bất kỳ phần nào của lao.

(c) Rất nhanh trong lúc ném, cho tới khi đã được phóng vào không khí, vận động viên có thể quay hoàn toàn xung quanh để lưng hướng về phía hướng ném.

6. (a) Không được phép có thêm bất kỳ trang bị nào (thí dụ như quấn băng 2 hay nhiều ngón tay lại với nhau) để trợ giúp cho vận động viên khi thực hiện lần ném. Việc sử dụng băng tay là không được phép trừ trường hợp cần thiết để bọc vết căn hay vết thương hở.

(b) Không được phép sử dụng găng tay.

(c) Để giữ lao được tốt hơn, các vận động viên được phép sử dụng chất phù hợp (bột) xoa trên bàn tay của mình.

(d) Vận động viên có thể dùng thắt lưng bằng da hoặc các chất phù hợp khác để bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương.

7. Vận động viên sẽ phạm lỗi nếu, sau khi đã bắt đầu lần ném của mình mà chạm bất kỳ bộ phận nào của cơ thể hoặc chân tay vào đường ranh giới hoặc đất ở bên ngoài đường chạy hoặc buông lao không đúng trong bất kỳ lần ném lao nào.

8. Miễn là trong quá trình thực hiện lần ném, các điều luật nêu trên không bị vi phạm, vận động viên có thể dừng một lần ném đã bắt đầu, có thể đặt lao xuống bên trong hoặc bên ngoài đường và có thể rời khỏi chạy như qui định của mục 12 trước khi quay lại đường chạy đà để bắt đầu một lần ném mới.

Ghi chú: Tất cả những di chuyển được phép của mục này phải nằm trong thời gian qui định tối đa cho một lần ném đã nêu trong luật 142.4.

9. Nếu lao bị gẫy trong lúc ném hoặc lúc bay trên không thì sẽ không bị coi là phạm lỗi, miễn là lần ném đó thực hiện theo đúng luật. Nếu vận động viên vì thế mà bị mất đi thăng bằng và vi phạm bất kỳ phần nào của luật này thì cũng không bị coi là phạm lỗi.

10. Đối với một lần ném hợp lệ, mũi lao phải rơi xuống hoàn toàn ở trong các cạnh trong của khu vực rơi.

11. Việc đo kết quả mỗi lần ném được thực hiện ngay sau khi lần ném đã được hoàn thành từ điểm chạm gần nhất ở vị trí đầu lao rơi tới mép trong của vòng cung giới hạn và đo theo đường thẳng từ điểm chạm qua tâm của vòng tròn có cung giới hạn.

12. Vận động viên không được rời khỏi đường chạy cho tới khi lao đã chạm đất. Khi rời đường chạy, điểm chạm đầu tiên lên hai đường song song hoặc đất bên ngoài đường chạy phải hoàn toàn ở phía sau vạch trắng giới hạn. Vạch này đường kẻ từ hai đầu của cung tròn giới hạn và vuông góc với hai đường song song.

13. Lao phải được mang trở lại vạch bắt đầu ném và không được ném ngược trở lại.

14. Mỗi vận động viên sẽ được tính thành tích cao nhất trong các lần ném của mình bao gồm cả những lần ném để phân hạng cao nhất trong trường hợp có sự bằng nhau ở vị trí đầu tiên.

ĐƯỜNG CHẠY ĐÀ

15. Độ dài tối thiếu của đường chạy phải là 30 m và tối đa là 36,5 m. Khi điều kiện cho phép, độ dài tối phải là 33,5 m.

Khu vực cuối của đường chạy đà (vị trí thực hiện bước chéo và ném lao) được đánh dấu bởi hai vạch trắng song song có chiều rộng 5 cm và cách nhau 4 m. Một vòng cung giới hạn có bán kính 8 m nối giữa hai đầu của hai vạch song song. Vòng cung có thể được vẽ bằng sơn trắng hoặc làm bằng gỗ hoặc kim loại sơn với chiều rộng 7 cm và được chôn ngang bằng với mặt đường chạy đà. Từ hai đầu của vòng cung vẽ hai vạch vuông góc với hai vạch song song. Hai vạch màu dài 75 cm và rộng 7 cm.

16. Độ nghiêng tối đa cho phép của đường chạy đà theo chiều ngang là 1/100 và theo hướng chạy xuống là 1/1000.

17. Vật đánh dấu. Vận động viên có thề đặt dọc theo đường chạy đà một hoặc hai vật đánh dấu (do ban tổ chức cung cấp hoặc cho phép) để giúp mình khi chạy đà. Tuy nhiên nếu không được cung cấp, vận động viên có thể sử dụng băng dính song không được dùng phấn hoặc các chất tương tự để lưu lại dấu vết khó xoá.

LAO

18. Cấu trúc. Lao gồm 3 phần: đầu, thân lao và chỗ cuốn dây để cầm khi ném. Thân lao phải được làm hoàn toàn bằng kim loại hoặc vật liệu đồng chất phù hợp khác. Thân lao được gắn với một đầu kim loại có mũi nhọn.

Bề mặt của thân lao phải nhẵn không được lồi lõm, xù xì, có rãnh gờ, có lỗ hoặc rởm chởm và đuôi phải thuôn đều như nhau.

Ghi chú. Nếu đầu lao được lắp thêm mũi nhọn vào thì vẫn đúng luật miễn là đầu phải nhẵn và mặt trên đồng nhất.

19. Chỗ cuốn dây để cầm khi ném phải phủ trên trọng tâm lao, và không lớn hơn đường kính của thân lao 8mm. Mặt trên chỗ cuốn không trơn song không được có các vết khía, vết lõm và phải có độ dày như nhau.

20. Tiết diện ngang phải hoàn toàn tròn đều (Xem chú giải 1). Đường kính tối đa của thân lao phải ở ngay trước chỗ cuốn dây. Phần giữa của thân, bao gồm phần dưới của chỗ dây cuốn, phải có hình trụ hoặc hơi được vuốt thon về phía đuôi (sau) song không được giảm đường kính vượt quá 0,25mm tại đoạn từ ngay trước chỗ cuốn dây tới ngay sau chỗ cuốn dây. Từ chỗ cuốn dây, lao sẽ thuôn đều tới đầu trước và tới đuôi lao phía sau. Nhìn nghiêng từ chỗ cuốn đây tới đầu và đuôi lao phải thẳng hoặc hơi lồi (Xem ghi chú 2) và không được thay đổi đột ngột đường kính suốt chiều dài của lao ngoại trừ ngay sau đầu lao và phần trước và sau chỗ cuốn dây để cầm. Tại phần cuối của đầu lao. việc giảm kính không được quá 2,5mm và sự lệch hướng chỉ nhìn nghiêng phải không kéo dài quá 300mm sau đầu lao.

Ghi chú 1 : Khi tiết diện ngang là một hình tròn thì sự chênh lệch tối đa 2% giữa đường kính chỗ rộng nhất và nhỏ nhất của tiết diện tròn là được phép. Giá trị trung bình của 2 đường này sẽ tương đương với đặc kỹ thuật của một lao tròn.

Ghi chú 2: Hình dạng của tiết diện dọc có thể kiểm tra và dễ dàng nhờ sử dụng một thanh kim loại có cạnh thẳng ít nhất đài 500mm và hai chiếc đo khe dày 0,20mm và 1,25mm. Đối với phần hơi lồi của một cắt dọc, cạnh thẳng của thanh kim loại sẽ đung đưa trong khi được ép sát vào một phần ngắn của lao. Đối với phần thẳng của mặt cắt dọc, cạnh thẳng của thanh kim loại được ép sát vào và không thể lồng một chiếc đo khe dày 0,20mm qua ở bất cứ chỗ nào dọc theo chiều tiếp xúc giữa lao và cạnh thẳng. Điều này không áp dụng ngay sau chỗ nối giữa đầu và thân lao. Tại điểm này không thể lồng một chiếc đo khe dày 1,25mm qua.

21. Các đặc điểm kỹ thuật sau đây là phù hợp với lao:

Trọng lượng (bao gồm dây cuốn) Nam Nữ

Trọng lương tối thiểu để được thừa nhân trong thi đất và được chấp nhận là 1 kỷ lục 800g

600g


Thông tin về dụng cụ

Phạm vi cung cấp lao cho thi đấu 805g

825g 605g

625g


Độ dài toàn bộ Tối thiểu

Tối đa 2,60m

2,70m 2,20m

2,30m


Độ dài của đầu kim loại Tối thiểu

Tối đa 250mm

330mm 250mm

330mm .


Độ dài từ mũi lao tới trọng tâm lao

Tối thiểu

Tối đa

0,90m


1 ,06m

0,80m


0, 92m

Đường kính của thân lao nhất tại chỗ to Tối thiểu

Tối đa 25mm

30mm 20mm

25mm

Độ dài đoạn có cuốn dây Tối thiểu



Tối đa 1 50mm

160mm 140mm 150mm

Ghi chú: Qui đinh về lao mới sẽ được thực hiện trong các cuộc thi của IAAF 1/4/1999

Lao quốc tế

Độ dài (tất cả các số đo mm) Đường kính (tất cả các số đo mm)

Nam Nữ Nam Nữ

Từng số Chi tiết Tối đa Tối

thiểu Tối đa Tối

thiểu Từng số Chi tiết Tối đa Tối

thiểu Tối đa Tối

thiểu

L0 Toàn bộ 2700 2600 2300 2200 D0 Phía trước chỗ cuộn dây 30 25 25 20



L1 Từ mũi tới trọng tâm 1060 900 920 800 D1 Phía sau chỗ cuộn dây - D0-0,25 - D0-0,25

1/2L1 1/2L1 530 450 460 400 D2 Cách mũi 150mm 0,8D0 - 0,8D0 -

L2 Từ đuôi tới trong tâm 1800 1540 1500 1280 D3 Phía sau của đầu lao - - - -

1/2L2 1/2L2 900 770 750 640 D4 Ngay phía sau đầu lao - D3-2,5 - D3-2,5

L3 Đầu lao 330 250 330 250 D5 Điểm giữa mũi lao và trọng tâm lao 0,9-D0 - 0,9-D0 -

L4 Dây cuốn 160 150 150 140 D6 Dây cuốn D0+8 - D0+8 -

D7 Điểm giữa trọng tâm và đuôi lao - 0,900 - 0,900

D8 Cách đuôi 150mm - 0,4D0 - 0,4D0

D9 Tại đuôi - 3,5 - 3,5

22. Lao không được có các bộ phận di động hoặc thiết bị khác để trong khi ném có thể làm thay đổi trọng tâm hoặc tính chất ném

23. Sự vuốt thon của lao tới mũi của đầu kim loại phải như thế nào đó để góc ở mũi không quá 40o. Đường kính tại điểm cách mũi lao 150mm không vượt quá 80% đường kính tối đa của thân lao. Tại điểm giữa trọng tâm và đầu lao, đường kính không được vượt quá 90% đường kính tối đa của thân lao.

24. Sự vuốt tho của thân lao về phía đuôi phải như thế nào đó để đường kính tại điểm giữa trọng tâm và đuôi lao không nhỏ hơn 90% đường kính tối đa của thân lao. Tại điểm cách đuôi lao 150mm, đường kính không được nhỏ hơn 40% đường kính tối đa của thân lao. Đường kính tại đuôi lao không được nhỏ hơn 3,5mm.

25. Tại các cuộc thi đấu được áp dụng theo điều 12.1 (a) chỉ có các lao do ban tổ chức cấp mới được phép sử dụng và không được sửa đổi chúng trong quá trình thi đấu. Không vận động viên nào được phép mang bất kỳ chiếc lao nào khác vào khu vực thi.

Tại các cuộc thi đấu khác, các vận động viên có thể sử dụng lao riêng của mình miễn là chúng được kiểm tra và đánh dấu bởi ban tổ chức cuộc thi.

KHU VỰC RƠI CỦA LAO

26. Độ nghiêng tối đa cho phép của khu vực lao rơi theo hướng ném không được vượt quá 1/1000.

Khu vực lao rơi phải được phủ lớp xỉ. cỏ hoặc vật liệu phù họp khác ở trên để khi lao rơi xuống thì để lại vết.

27. Khu vực rơi của lao được giới hạn bởi 2 vạch trắng rộng 5cm. Hai vạch này được kẻ sao cho mép trong của vạch, nếu được kéo dài, sẽ đi qua giao điểm giữa 2 đầu cạnh trong của vòng cung giới hạn với hai đường song song đánh dấu khu vực chạy đà và cắt nhau tại tâm của vòng cung giới hạn với góc khoảng 290 (xem sơ đồ).

28. Một cờ hoặc dấu dễ phân biệt để đánh dấu lần ném xa nhất của mỗi vận động viên có thể được cung cấp. Trong trường hợp này cờ hoặc vật đánh dấu phải đặt dọc theo phía bên ngoài của vạch giới hạn khu vực lao rơi.

Một cờ hoặc dấu dễ phân biệt nữa cũng có thể được cung cấp để đánh dấu mức kỷ lục thế giới hiện tại và khi có điều kiện thì cả kỷ lục châu lục và kỷ lục quốc gia.



VI - CÁC MÔN ĐI BỘ

Điều 191

ĐI BỘ THỂ THAO

KhÁI NIỆM

1 Định nghĩa về đi bộ thể thao

Đi bô thể thao là một quá trình di chuyển của các bước trong đó vận động viên luôn có sự tiếp xúc với mặt đất (mắt người bình thường không phát hiện thấy có thời điểm cả hai chân rời khỏi đất), chân trước phải được duỗi thẳng (có nghĩa là không cong ở khớp gối) từ lúc đặt xuống đất ở phía trước cho tôi khi đi qua vị trí thẳng đứng (hình chiếu của trọng tâm rơi trên điểm đặt chân)

2. Trọng tài giám định

(a) Các trọng tài giám định được chỉ định sẽ bầu một tổ trưởng trọng tài nếu như không có sự chỉ định trước. Trong các cuộc thi đấu được tiến hành theo điều luật 12.1 (a), tổ trưởng trọng tài giám định sẽ không hành động như trọng tài giám định đi bộ thể thao mà hành động như một quan chức giám sát cuộc thi đấu.

(b) Tất cả các trọng tài giám định phải hành động độc lập và sự nhận xét phải căn cứ vào những quan sát bằng mắt.

(c) Trong các cuộc thi đấu trên đường bộ, tuỳ thuộc vào cự ly thi, bình thường phải có tối thiểu 6 trọng tài giám định và tối đa là 9 trọng tài bao gồm cả tổ trưởng trọng tài.

Trong các cuộc thi ở sân vận động, bình thường phải có 6 trọng tài giám định bao gồm cả tổ trưởng trọng tài.

Trong các cuộc thi đấu áp dụng điều luật 12.1 (a) của IAAF, tất cả các trọng tài giám định phải là thành viên của bộ phận trọng tài giám định quốc tế của IAAF.

3. Nhắc nhở

Các vận động viên sẽ bị nhắc nhở khi cách thức di chuyển về trước của họ có dấu hiện vi phạm điều luật 191.1. Vận động viên sẽ không được quyền nhận sự nhắc nhở lần thứ hai của cùng một trọng tài giám định đối với cùng một lỗi vi phạm. Khi nhắc nhở một vận động viên, trọng tài sẽ thông báo (về vi phạm của vận động viên) cho tổ trưởng trọng tài sau cuộc thi.

4. Cảnh cáo và truất quyền thi đấu

11 (a) Đề nghị truất quyền thi đấu của mỗi trọng tài giám định được coi là 1 lần cảnh cáo. Các vận động viên sẽ bị cảnh cáo khi cách thức di chuyển về trước của họ không tuân theo điều luật 191.1 do có sự biểu hiện rõ ràng việc mất tiếp xúc với đất hoặc cong khớp gối tại bất kỳ phần nào của cuộc thi.

(b) Khi một vận động viên nhận cảnh cáo từ 3 trọng ít tài giám định khác nhau vận động viên đó sẽ bị truất quyền thi đấu và tổ trưởng trọng tài sẽ thông báo về sự truất quyền này.

(c) Trong các cuộc thi đấu có áp dụng điều luật 12.1 (a) của IAAF, mỗi nước không được quá 1 trọng tài giám định được mời làm nhiệm vụ. Trong tất cả các cuộc thi đấu khác được IAAF điều khiển trực tiếp hoặc diễn ra dưới sự cho phép của IAAF không bao giờ được để hai trọng tài giám định của cùng một quốc gia có quyền hạn được truất quyền thi đấu.

(a) Nến không thực hiện được việc thông báo cho vận động viên về việc truất quyền thi đấu trong lúc thi thì việc truất quyền thi đấu phải được đưa ra ngay lập tức sau khi vận động viên đó đã về đích.

(e) Bảng trắng (ở cả hai mặt) là thể hiện sự phạm lỗi phải được trưng ra cho vận động viên khi bị nhắc nhở. Bảng đỏ tượng trưng cho sự truất quyền thi đấu của vận động viên. Chỉ có tổ trưởng trọng tài mới được dùng bảng đỏ.

(f) Tại các cuộc thi trong sân vận động, một vận động viên bị truất quyền thi đấu phải lập tức rời khỏi đường đua còn trong các cuộc thi trên đường bộ, vận động viên bị truất quyền thi đấu phải lập tức cởi bỏ số đeo và rời khỏi lộ trình đua.

(g) Bảng thông báo việc cảnh cáo phải được dùng để đảm bảo cho các vận động viên được thông tin về số lần bị cảnh cáo đã được chuyển lên tổ trưởng trọng tài đối với từng vận động viên.

5. (a) An toàn

(i) Ban tổ chức các cuộc thi đi bộ được tiến hành trên đường bộ phải bảo đảm an toàn cho các vận động viên. Trong các cuộc thi có áp dụng điều luật 12. 1 (a), (b) và (c). Ban tổ chức, ở những nơi có thể phải đảm bảo rằng đường dùng để thi đấu phải được chặn ở hai phía, có nghĩa là không mở cho phương tiện giao thông có động cơ.

(ii) Trong các cuộc thi đấu có áp dụng điều luật 12.1 (a), (b) và (c) các cự ly đi bộ trên đường bộ phải được bố trí để xuất phát vào lúc phù hợp, bảo đảm rằng các vận động viên về đích lúc trời còn sáng.

(b) Y tế


(i) Việc thực hiện kiểm tra y tế trong quá trình thi của nhân viên y tế được ban tổ chức chỉ định rõ sẽ không bị coi là một sự trợ giúp.

(ii) Một vận động viên phải rời ngay khỏi cuộc đua nếu được lệnh của một thành viên của ban y tế chính thức được ban tổ chức chỉ định. Những thành viên của ban này phải được phân biệt rõ bằng băng tay, áo khoát hoặc trang phục tương tự.

6. Các trạm nước uống, lau rửa và ăn nhẹ

(a) Nước và các đồ ăn nhẹ phù hợp khác phải được đặt tại khu vực xuất phát và về đích của tất cả các cuộc thi.

(b) Đố với tất cả các cự ly thi trong sân vận động hoặc trên đường bộ tới 20 Km, các trạm uống nước, lau rửa phải được đặt tại những khoảng cách phù hợp nếu như điều kiện đòi hỏi phải như vậy.

(c) Đối với các cự ly trên 20 Kín, các trạm cung cấp thức ăn nhẹ phải được bố trí ở những điểm cách nhau khoảng 5km hoặc ở mỗi vòng và thêm vào đó là các trạm cung cấp nước uống, nước lau rửa phải được bố trí xen kẽ giữa các trạm cung cấp thức ăn nhẹ. Những trạm này có thể nhiều hơn nếu điều kiện thời tiết đòi hỏi.

Thức ăn nhẹ có thể do ban tổ chức cung cấp hoặc do vận động viên chuẩn bị cần đặt tại trạm mà vận động viên yêu cầu. cần đặt ở vị trí thuận tiện để vận động viên dễ lấy hoặc dùng những người có trách nhiệm trao vào tay các vận động viên.

Một vận động viên nhận thức ăn nhẹ ở vị trí khác với các trạm qui định tiếp thức ăn nhẹ sẽ bị truất quyền đấu

Tại các cuộc thi đấu quốc tế, không quá hai quan chức của một nước được phép ở sau bàn để thức ăn nhẹ. Không bao giờ được phép chạy bên cạnh vận động viên trong khi anh ta đang nhận thức ăn nhẹ.

Thức ăn nhẹ do vận động viên đưa đến phải chịu sự giám sát của các nhân viên do ban tổ chức chỉ định từ lúc thức ăn nhẹ này được vận động viên hoặc người đại diện của họ đặt vào.

7. Các tuyến đường bộ

Đối với các cuộc thi đấu được áp dụng theo luật 12.1 (a), (b), (c), nếu có thể, ở cự ly đi bộ 20 Km, vòng đường tối đa là 25 km. Ở cự ly đi bộ 50km, nếu có thể, vòng đường tối đa là 2,5km cùng với một tuyến dài tối đa là 5km. Ở cự ly đi bộ 10 km, nếu có thể, vòng đường tối đa là 1,5 km.

Các tuyến đường bộ phải được đo theo điều luật 165.3




1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương