UỶ ban thể DỤc thể thao



tải về 1.02 Mb.
trang11/14
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích1.02 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

Điều 173

NHẢY XA

CUỘC THI


1. Trình tự theo đó các vận động viên thực hiện lần nhảy sẽ được rút thăm

2. Khi có số lượng vận động viên trên 8 người, mỗi vận động viên được phép thực hiện 3 lần nhảy và 8 vận động viên có thành tích cao hơn sẽ được phép nhảy thêm 3 lần nữa theo trình tự ngược lại với thứ tự xếp hạng thành tích của họ được ghi lại ở 3 lần nhảy đầu.

Trong các cuộc thi có sự bằng nhau ở vị trí (đủ tư cách vào chung kết) thì giải quyết theo điều 146.3. Khi có 8 vận động viên hoặc ít hơn thì mỗi vận động viên được nhảy 6 lần.

3. Khi một vận động viên đã bắt đầu, các vận động viên khác không được phép sử dụng đường chạy với mục đích tập luyện.

4. Vận động viên sẽ phạm lỗi nếu:

(a) Chạm đất phía sau vạch giậm nhảy bằng bất kỳ bộ phận nào của cơ thể, dù chạy đà không giậm nhảy hoặc giậm nhảy.

(b) Giậm nhảy phía bên ngoài phạm vi cả hai đầu ván, dù ở phía sau hay phía trước đường kéo dài của vạch giậm nhảy.

(c). Trong quá trình rơi xuống, điểm chạm đất phía bên ngoài khu vực rơi gần với ván giậm hơn so với điểm chạm gần nhất trong khu vực rơi hoặc

(d) Sau khi hoàn thành lần nhảy đi ngược lại phía sau qua khu vực rơi xuống; hoặc

(e) Thực hiện (sử dụng) bất cứ hình thức nhào lộn nào trong khi chạy đà hoặc trong lúc nhảy.

Ghi chú: Sẽ không bị coi là phạm lỗi nếu vận động viên chạy ra bên ngoài vạch trắng đánh dấu đường chạy đà ở bất cứ điểm nào.

5. Trừ trường hợp như đã nêu trong mục 4 (b) ở trên, nếu vận động viên giậm nhảy ở vị trí trước khi đạt tới ván giậm sẽ không bị coi là phạm luật.

6. Tất cả các lần nhảy sẽ được đo từ điểm chạm gần nhất do bất kỳ bộ phận nào của cơ thể hoặc chân tay trên khu vực rơi tới vạch giậm nhảy hoặc đường kéo dài của vạch giậm nhảy. Việc đó phải tiến hành vuông góc với vạch giậm nhảy hoặc đường kéo dài của vạch này.

7. Mỗi vận động viên được tính thành tích tốt nhất trong các lần nhảy bao gồm cả những lần nhảy để quyết định vị trí đầu tiên khi có sự bằng nhau.

ĐƯỜNG CHẠY ĐÀ

8. Độ dài tối thiểu của đường chạy đà phải là 40m nếu điều kiện cho phép là 45m. Đường chạy đà phải có độ rộng tối thiểu 1.22m và tối đa 1.25m và được đánh dấu bằng những vạch trắng rộng 5 cm

9. Độ nghiêng sang bên được phép tối đa của đường chạy đà không được vượt quá 1/100 và độ nghiêng toàn bộ theo hướng chạy đà không được vượt qua 1/1000.

10. Vật đánh dấu. Một vận động viên có thể đặt một hoặc hai vật đánh dấu (do ban tổ chức cung cấp hoặc cho phép) để giúp vận động viên trong chạy đà và giậm nhảy. Tuy nhiên nếu không có các dấu như vậy, vận động viên có thể sử dụng băng dính song không được vẽ phấn hoặc những chất tương tự để tạo thành những dấu không xoá được.

VÁN GIẬM NHẢY (BỤC GIẬM NHẢY)

11. Giậm nhảy được thực hiện trên ván giậm được chôn ngang mức với đường chạy đà và bề mặt của khụ vực rơi (hố cát). Cạnh của ván giậm gần với khu vực rơi được gọi là vạch giậm nhảy. Ngay sau vạch giậm nhảy được đặt một ván phủ chất dẻo để giúp cho trọng tài xác định phạm quy.

Nếu không thể lắp đặt ván phủ chất dẻo như ở trên thì có thể áp dụng phương pháp sau: ngay sau vạch giậm nhảy tạo một khuôn bằng đất xốp hoặc cát có chiều dài đúng bằng độ dài của ván giậm nhảy và chiều rộng bằng 10cm. Khuôn cát hoặc đất xốp này có góc vát 45o dọc theo chiều dài của nó.

12. Khoảng cách giữa ván giậm nhảy và mép xa của khu vực rơi (hố cát) phải có độ dài tối thiểu 10m.

13. Ván giậm nhảy phải đặt cánh mép gần của khu vực rơi từ 1-3m.

14. Cấu trúc. Ván giậm nhảy là một khối hình hộp chữ nhật bằng gỗ hoặc vật liệu cứng phù hợp khác có chiều dài từ 1.21m tới 1.22m, chiều rộng 20 cm (+-2 mm) và chiều cao (sâu) 10 cm. Mặt trên ván giậm nhảy được sơn màu trắng.

15. Ván phủ chất dẻo để xác định phạm quy. Ván này gồm 1 thanh cứng rộng 10 cm (+-2 mm) và dài từ 1.21m tới 1.22m bằng gỗ hoặc bất cứ vật liệu nào phù hợp. Ván này sẽ được gắn vào khoảng trống hoặc giá trong đường chạy đà ở cạnh ván giậm nhảy gần phía khu vực rơi. Mặt trên ván cao hơn mặt ván giậm nhảy 7mm (+-1mm) hai cạnh bên có mặt ván với góc 30o và mặt vát hướng về phía đường chạy được phủ một lớp chất dẻo có độ dày 1mm (xem hình 8). Nếu mặt ván được tách riêng thì khi ghép vào phải có góc nghiêng 30o (xem hình 9). Khi được ghép vào phải đủ chắc để chấp nhận toàn bộ lực của chân vận động viên.

Bề mặt của ván phía dưới lớp chất dẻo phải là vật liệu để mũi đinh giày vận động viên bám chắc chứ không bị trượt.

Lớp phủ chất dẻo có thể được làm nhẵn bằng cách lăn hoặc miết để tạo hình phù hợp cho các mục đích xoá tẩy vết chân của vận động viên in trên lớp phủ

Ghi chú: Rất thuận tiện nếu có các ván phủ chất dẻo dự trữ để thay thế lúc các vết chân để lại trên ván đang được xoá tẩy, cuộc thi đấu sẽ không bị trì hoãn.

KHU VỰC RƠI XUỐNG

16. Khu vực rơi xuống (hố cát) phải có chiều rộng tối thiểu 2.75m và tối đa là 3.00m. Nếu điều kiện cho phét khu vực rơi nên được bố trí cân đối giữa đường chạy đà kể cả lúc nó được mở rộng.

17. Khu vực rơi xuống phải đổ đầy cát ẩm và xốp. Mặt trên của khu vực rơi phải bằng với mức ván giậm nhảy.


Điều 174

NHẢY TAM CẤP

cuộc THI ĐẤU

1. Nhảy tam cấp bao gồm 3 bước theo trình tự: bước1 - bước trượt, bước 2 - bước bộ, bước ba - nhảy rơi xuống hố cát.

2. Bước 1 phải thực hiện như thế nào đó để vận động viên chạm đất bằng chính chân giậm nhảy; trong bước thứ 2 vận động viên phải rơi xuống bằng chân khác và cuối cùng hoàn thành lần nhảy khi rơi vào hố cát.

Sẽ không bị coi là phạm lỗi nếu như trong lúc nhảy, vận động viên chạm đất bằng chân "lăng" (chân không giậm nhảy)

Ván giậm nhảy

3. Khoảng cách giữa ván giậm nhảy và mép xa của khu vực rơi xuống (hố cát) phải có độ dài tối thiểu 21m.

4. Đối với cuộc thi đấu quốc tế, ván giậm nhảy nên đặt cách mép gần của khu vực rơi xuống tối thiểu là 13m đối với nam và 11m đối với nữ. Đối với các cuộc thi đấu khác, khoảng cách này cần phù hợp với trình độ của vận động viên.

5. Đoạn giữa ván giậm nhảy và khu vực rơi xuống là chỗ giậm bật lên của bước thứ 2 và thứ 3 phải có độ rộng tối thiểu là 1m22, mặt đường phải cứng và đồng nhất.

Ghi chú: Trong tất cả những trường hợp khác, luật dùng cho nhảy xa sẽ áp dụng cho nhảy tam cấp.



V- CÁC MÔN NÉM ĐẨY

Điều 181

ĐẨY TẠ

CUỘC THI ĐẤU

1. Trình tự trong đó các vận động viên thực hiện lần đẩy sẽ được rút thăm.

2. Khi số lượng vận động viên tham gia thi là trên 8 người thì mỗi vận động viên được phép đẩy tạ 3 lần và sau đó 8 vận động viên có thành tích cao hơn sẽ được phép đẩy thêm 3 lần nữa theo trình tự ngược lại với thứ tự xếp hạng thành tích của họ được ghi lại ở 3 lần đẩy ưu tiên.

Trong các cuộc thi có sự bằng nhau ở vị trí thứ 8 (đủ tư cách vào đẩy tiếp 3 lần nữa) thì giải quyết theo điều 146.3. Khi có số lượng vận động viên là 8 người hoặc ít hơn thì mỗi vận động viên được đẩy 6 lần.

8. Tại khu vực thi đấu và trước khi bắt đầu môn thi, vận động viên có các lần đẩy thử theo trình tự rút thăm và luôn đặt dưới sự giám sát của các trọng tài giám định.

4. Khi một vận động viên đã bắt đầu, các vận động viên còn lại không được phép sử dụng tạ với mục đích tập luyện hoặc sử dụng vòng đẩy hoặc mặt đất trong để tập đẩy thử dù có tạ hay không.

5. Đẩy tạ phải được thực hiện từ trong vòng đẩy. Vận động viên phải bắt đầu lần đẩy từ tư thế tĩnh. Vận động viên được phép chạm cả vào phía trong vòng sắt và bục chắn.

6. Tạ phải được đẩy khỏi vai bằng 1 tay. Lúc vận động viên ở tư thế trong vòng (bắt đầu đẩy), tạ phải chạm hoặc tương đối sát với cổ hoặc cằm và bàn tay (cầm tạ) không được hạ thấp xuống dưới vị trí này trong khi thực hiện động tác. Tạ không được hạ xuống dưới vai.

7. (a) Không được phép có thêm bất kỳ trang bị nào (thí dụ như quấn băng 2 hay nhiều ngón tay lại với nhau) để trợ giúp cho vận động viên khi thực hiện lần đẩy. Việc sử dụng băng tay là không được phép trừ trường hợp cần thiết để bọc vết cắt hay vết thương hở.

(b) Không được phép sử dụng găng tay.

(c) Để giữ tạ được tốt hơn, các vận động viên được phép sử dụng chất phù hợp xoa lên tay của mình.

(d) Vận động viên có thể đeo băng ở cổ tay để bảo vệ cổ tay khỏi bị chấn thương.

(e) Vận động viên có thể dùng thắt lưng bằng da hay các chất liệu khác phù hợp để bảo vệ cột sống tránh bị chấn thương.

(f) Vận động viên không được phun (xịt) hoặc bôi bất kỳ chất gì vào trong vòng đẩy hoặc lên đế giầy của mình.

8. Vận động viên sẽ phạm lỗi nếu: sau khi đã bước vào vòng đẩy và bắt dầu thực hiện việc đẩy tạ, chạm bất kỳ phần nào của cơ thể xuống bên ngoài vòng đẩy, mặt trên của vòng sắt, mặt trên của bục chắn hoặc rời tạ một cách không hợp lệ trong quá trình thực hiện lần đẩy

9. Miễn là trong quá trình thực hiện lần đẩy, các điều luật trên không bị vi phạm, vận động viên có thể dừng một lần đẩy khi đã bắt đầu, có thể đặt tạ xuống bên trong hoặc bên ngoài vòng đẩy và có thể bước ra khỏi vòng. Khi bước ra khỏi vòng, vận động viên phải bước ra đúng theo yêu cầu của mục 12, trước khi quay lại vị trí đứng và bắt đầu một lần đẩy mới

Ghi chú: Tất cả những di chuyển được phép của mục này phải nằm trong thời gian qui định tối đa cho một lần đẩy đã nêu trong điều 142.4.

10. Đối với một lần đẩy hợp lệ, tạ phải rơi hoàn toàn vào bên trong các cạnh phía trong của khu vực tạ rơi.

11. Việc đo kết quả mỗi lần đẩy sẽ được thực hiện ngay sau khi lần đẩy được hoàn thành từ điểm chạm gần nhất của vết tạ rơi tới phía trong của đường tròn bao quanh vòng đẩy và đo theo đường thẳng qua tâm của vòng.

12. Vận động viên không được rời khỏi vòng đẩy cho tới khi tạ đã chạm đất. Khi rời vòng đẩy, việc chạm đầu tiên lên mặt trên vòng sắt hoặc đất bên ngoài vòng sẽ phải hoàn toàn ở phía sau vạch trắng được vẽ bên ngoài vòng đi qua tâm của vòng và vuông góc với đường trung tâm của khu vực tạ rơi.

13. Tạ phải được mang trở lại tới vòng đẩy và không bao giờ được quăng tạ ngược lại.

14. Mỗi vận động viên sẽ được tính thành tích cao nhất trong các lần đẩy của mình, bao gồm cả những lần đẩy để phân hạng cao nhất trong trường hợp có sự bằng nhau ở vị trí đầu tiên.

VÒNG ĐẨY TẠ

15. Cấu trúc: vòng đẩy tạ phải lầm bằng sắt, thép hoặc vật liệu phù hợp, mặt trên của vòng phải ngang bằng với đất bên ngoài.

Phần bên trong của vòng được lát bằng bê tông, rải nhựa hoặc một số vật liệu cứng khác song không được trơn. Bề mặt của phần bên trong vòng phải thấp hơn so đi cạnh mép trên của vòng từ 14mm - tới 26mm.

Một vòng đẩy tạ di động (có thể đem đạt từ nơi này sang nơi khác được) với cùng những đặc điểm trên là có thể chấp nhận được.

16. Kích thước: đường kính bên trong của vòng phải là 2.135m (+-5mm). Mép vòng tối thiểu phải dày 6mm và sơn trắng.

17. Một vạch trắng rộng 5cm được vẽ từ mặt trên của mép vòng rộng ra hai bên, mỗi bên tối thiểu 75cm. Vạch này có thể được sơn hoặc làm bằng gỗ hoặc vật liệu phù hợp khác. Vạch trắng phải đi qua tâm vòng đẩy và vuông góc với đường trung tâm của khu vực tạ rơi.

BỤC CHẮN


18. Cấu trúc: Bục chắn được làm bằng gỗ hoặc vật liệu phù hợp khác và được sơn trắng. Bục chắn có dáng hình cung để cạnh trong của bục trùng với cạnh trong của vòng. Bục chắn được đặt cân giữa đường trung tâm và được gắn chặt xuống đất.

19. Kích thước: bục chắn phải có chiều rộng từ 11,2cm tới 30cm, vòng cung phía trong dài 1,22m (+-1cm) và cao 10cm (+-2mm) so với mặt trong của vòng ném.



Ghi chú: Các bục chắn có đặc điểm kỹ thuật của IAAF trước đây vẫn được chấp nhận.





TẠ

20. Cấu trúc: tạ phải được làm bằng sắt, đồng hoặc bất kỳ kim loại nào không mềm hơn đồng, hoặc các kim loại đó được đổ đầy chì hoặc những vật liệu khác. Tạ phải có hình cầu và bề mặt không được xù xì mà phải nhẵn.

21. Tạ phải tuân theo những đặc điểm kỹ thuật sau đây:

Tạ Nam Nữ

Trọng lượng tối thiểu để được thừa nhận trong thi đấu và được chấp nhận 1 kỷ lục

7.260kg


4.000kg

Thông tin về dụng cụ

Phạm vi cung cấp dụng cụ cho thi đấu

7.265kg


7.285kg

4.005kg


4.025kg

Đường kính tốt thiểu 110mm 95mm

Đường kính tối đa 130mm 110mm

22. Tại tất cả các cuộc thi được áp dụng theo điều 12.1 (a), chỉ có các dụng cụ (tạ) do tổ chức cung cấp mới được phép sử dụng và không được (làm biến dạng) sửa đổi chúng trong quá trình thi đấu. Không vận động viên nào được phép mang bất kỳ quả tạ nào khác vào khu vực thi

Tại tất cả các cuộc thi khác, các vận động viên có thể sử dụng tạ riêng miễn là chúng được kiểm tra và đánh dấu bởi ban tổ chức trước cuộc thi.

KHU VỰC TẠ RƠI

23. Khu vực rơi của tạ phải phủ lớp xỉ hoặc cỏ hoặc vật liệu phù hợp ở trên để khi tạ rơi xuống để lại vết.

24. Độ nghiêng tối đa cho phép thấp xuống theo hướng đẩy của khu vực tạ rơi không được vượt quá 1/1000.

25. Khu vực rơi của tạ được giới hạn bởi hai vạch trắng rộng 5cm. Nếu kéo dài, hai vạch này sẽ tạo thành góc 34o92 ở tâm của vòng ném.

Ghi chú: Khu vực 34o92 có thể được vẽ chính xác bằng cách lấy tâm vòng đẩy làm trục vẽ một cung có bán kính 20m.

26. Một cờ hoặc vật dấu dễ phân biệt để đánh dấu lần đẩy tốt nhất của mỗi vận động viên có thể được cung cấp. Trong trường hợp này cờ hoặc vật đánh dấu phải đặt dọc theo phía bên ngoài của vạch giới hạn khu vực tạ rơi.

Một cờ hoặc vật dấu dễ phân biệt cũng có thể được cung cấp để đánh dấu mức kỷ lục thế giới hiện tại và khi có điều kiện thì cả kỷ lục của châu lục và kỷ lục quốc gia.



Điều 182

NÉM ĐĨA

CUỘC THI ĐẤU

1. Trình tự trong đó các vận động viên thực hiện lần ném của mình sẽ được xác định bằng rút thăm.

2. Khi có trên 8 vận động viên tham gia thi đấu, mỗi vận động viên sẽ được phép ném 3 lần và 8 vận động viên có thành tích cao hơn sẽ được phép ném thêm 3 lần nữa theo trình tự ngược lại với thứ tự xếp hạng thành tích của họ được ghi lại ở 3 lần ném đầu tiên.

Trong các cuộc thi, nếu có sự bằng nhau ở vị trí thứ 8 (đủ tư cách vào ném tiếp 3 lần nữa) thì sẽ giải quyết theo điều 146.3.

Khi số lượng vận động viên tham gia là 8 hoặc ít hơn thì mỗi vận động viên được ném 6 lần.

3. Tại khu vực thi đấu và trước khi bắt đầu môn thi, mỗi vận động viên có thể có các lần ném thử theo trình tự đã rút thăm và dưới sự giám sát của các trọng tài giám định.

4. Khi một vận động viên đã bắt đầu, các vận động khác không được phép sử dụng đĩa với mục đích tập luyện hoặc sử dụng vòng ném hoặc sân để tập thử dù là có đĩa hay không.

5. Việc ném đĩa phải được thực hiện từ trong vòng ném. Vận động viên phải bắt đầu lần ném từ tư thế tĩnh. Vận động viên được phép chạm vào phía trong vòng sắt.

6 (a). Không được phép có thêm bất kỳ trang bị nào (thí dụ như quấn băng 2 hay nhiều ngón tay lại với nhau) để trợ giúp cho vận động viên khi thực hiện lần ném. Việc sử dụng băng tay là không được phép trừ trường hợp cần thiết để bọc vết cắt hay vết thương hở.

(b) Không được phép sử dụng găng tay.

(c) Vận động viên được phép sử dụng chất phù hợp để xoa lên tay của mình để giữ đĩa được tốt hơn.

(d) Vận động viên có thể dùng thắt lưng bằng da hoặc các chất liệu phù hợp khác để bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương.

(e) Vận động viên không được phun (xịt) hoặc bôi bất kỳ chất gì vào vòng ném hoặc lên đế giầy của mình.

7. Vận động viên sẽ phạm lỗi nếu, sau khi đã bước vào vòng ném và bắt đầu thực hiện động tác vung, chạm bất kỳ bộ phận nào của cơ thể xuống đất ở bên ngoài vòng ném hoặc mặt trên của vòng sắt.

8. Miễn là trong quá trình thực hiện lần ném, các điều luật trên không bị vi phạm, vận động viên có thể dừng một lần ném đã bắt đầu, có thể đặt đĩa xuống bên trong hoặc bên ngoài vòng ném và có thể bước ra khỏi vòng ném. Khi rời vòng ném, vận động viên phải bước ra đúng theo yêu cầu của mục 11, trước khi quay lại vị trí đứng và bắt đầu một lần ném mới.

Ghi chú: Tất cả những di chuyển được phép của mục này phải nằm trong thời gian qui định tối đa cho một lần ném đã nêu trong điều 142.4.

9. Đối với một lần ném hợp lệ, đĩa phải hoàn toàn rơi bên trong các cạnh phía trong của khu vực đĩa rơi.

10. Việc đo kết quả mỗi lần ném sẽ được thực hiện ngay sau khi lần ném đã được hoàn thành từ điểm chạm gần nhất của đĩa tới phía trong của đường tròn bao quanh vòng ném và đo theo đường thẳng qua tâm của vòng ném.

11. Vận động viên không được rời khỏi vòng ném cho tới khi đĩa đã chạm xuống đất. Khi rời vòng ném, việc chạm đầu tiên lên mặt trên vòng sắt hoặc đất bên ngoài vòng sẽ phải hoàn toàn ở sau vạch trắng được vẽ bên ngoài vòng và hướng qua tâm vòng ném.

12. Đĩa phải được mang trả lại tới vòng ném và không bao giờ được quăng của ngược trở lại.

13. Mỗi vận động viên sẽ được tính thành tích cao nhất trong các lần ném của mình, bao gồm cả những lần ném để phân hạng cao nhất trong trường hợp có sự bằng nhau ở vị trí đầu tiên.

VÒNG NÉM ĐĨA

14. Cấu trúc. Vòng được làm bằng sắt, thép hoặc vật liệu khác phù hợp, mặt trên của vòng phải ngang bằng với mặt đất bên ngoài. Phần bên trong vòng được lát bê tông, rải nhựa hoặc một số vật liệu cứng khác song không được trơn. Bề mặt của phần bên trong vòng phải thấp hơn so với cạnh mép trên của vòng từ 14 - 26mm.

15. Kích thước: Đường kính bên trong của vòng phải là 2,50m (+- 5mm) mép vòng tối thiểu phải dày 6mm và được sơn trắng.

16. Một vạch trắng rộng 5cm được vẽ từ mặt trên của mép vòng rộng sang hai bên, mỗi bên tối thiểu 75cm. Vạch này có thể được sơn hoặc làm bằng gỗ hoặc vật liệu phù hợp khác. Vạch trắng (về lý thuyết), khi kéo dài phải đi qua tâm vòng ném và vuông góc với đường trung tâm của khu vực rơi.

ĐĨA

17. Thân của đĩa có thể đặc hoặc rỗng được làm bằng gỗ hoặc các vật liệu phù hợp khác với một vành kim loại bao quanh. Gờ của vành kim loại phải tròn. Tiết diện ngang của gờ phải tròn với bán kính khoảng 6mm. Có hai tấm tròn được đặt bằng (ngang) vào tâm của hai mặt. Đĩa có thể được làm mà không có các tấm kim loại tròn miễn là diện tích tương đương là phẳng và kích cỡ và trọng lượng toàn phần của đĩa tương đương với các đặc điểm kỹ thuật.



Mỗi mặt của đĩa phải giống nhau và không được lõm vào, lồi ra hoặc có cạnh sắc. Hai mặt phải thuôn từ vòng tròn cách tâm đĩa 25 - 28,5mm xuống sát với vành kim loại

Hình nhìn nghiêng của đĩa được mô tả như sau: từ chỗ bắt đầu vòng cung của vành kim loại, độ dầy của đĩa tăng dần đều lên tới độ dày tối đa D . Độ dày tối đa đạt được cách tâm đĩa (trục đĩa Y) 25 - 28,5mm. Từ điểm này tới trục Y độ dày đĩa không đổi. Mặt trên và mặt dưới của đĩa phải giống nhau. Đĩa cũng phải đối xứng khi xoay quanh trục Y.

Đĩa, bao gồm cả mặt trên của vành kim loại không được xù xì và phần cuối (mép) phải nhẵn và như nhau.

18. Các đặc điểm kỹ thuật sau là phù hợp

Tại các cuộc thi áp dụng điều 12.1 (a), chỉ những đĩa do ban tổ chức cung cấp là được sử dụng và không được sửa đổi chúng trong thi đấu. Không vận động viên nào được phép mang bất kỳ đĩa nào vào khu vực thi.

Tại các cuộc thi đấu khác, các vận động viên có thể sử dụng đĩa riêng của mình miễn là chúng được kiểm tra và đánh dấu bởi ban tổ chức trước cuộc thi.

Đĩa Nam Nữ

Trọng lượng tối thiểu để được đưa vào thi đấu và được chấp nhận kỷ lục

2000 kg 1000 kg

Thông tin về dụng cụ

Phạm vi cung cấp dụng cụ (địa) cho thi đấu

2.005 kg

2.025 kg

1 .005 kg

1.025 kg ~

Bán kính bên ngoài của vành kim loại

Tối thiểu

Tối đa

219 mm


221 mm

180 mm


182 mm

Bán kính của tấm kim loại phẳng hoặc khu vực giữa phẳng của mặt

Tối thiểu

Tối đa


50 mm

57 mm


50 mm

57 mm


Độ dày khu vực giữ

Tối thiểu

Tối đa

44 mm


46 mm

37 mm


39 mm 1

Độ dày của vành (cách mép 6mm) 12mm 12 mm

KHU VỰC RƠI ĐĨA

20. Độ nghiêng tối đa cho phép thấp xuống theo hướng ném của khu vực rơi không được vượt quá 1/1000.

Khu vực đĩa rơi phải được phủ lớp xỉ hoặc cỏ hoặc vật liệu phù hợp ở trên để khi đĩa rơi xuống để lại vết.

21. Khu vực rơi của đĩa được giới hạn bởi hai vạch trắng rộng 5cm và nếu kéo dài hai vạch này sẽ tạo và góc 40o ở tâm vòng ném.

Ghi chú: Khu vực 40o có thể vẽ chính xác bằng cách lấy tâm vòng ném làm trục vẽ một cung có bán kính 20m. Trên cung vừa vẽ ta xác định một dây cung có độ dài 13,68m. Nối hai đầu dây cung vừa được xác định với vòng ném ta sẽ được 1 góc 40o ở tâm.

22. Một cờ hoặc vật dấu dễ phân biệt, để đánh dấu ném xa nhất của mỗi vận động viên có thể được cung cấp. Trong trường hợp này cờ hoặc vật đánh dấu phải đặt dọc theo phía ngoài của vạch giới hạn khu vực đĩa rơi.

Một cờ hoặc vật dấu để phân biệt cũng có thể được cấp để đánh dấu mức kỷ lục thế giới hiện tại và khi có điều kiện thì cả kỷ lục của châu lục và kỷ lục quốc gia.

Điều 183

LƯỚI BẢO VỆ TRONG NÉM ĐĨA

Tất cả các lần ném đĩa phải được thực hiện bên trong khu vực lưới bảo vệ để đảm bảo độ an toàn cho khán giả, trọng tài và các vận động viên. Lưới bảo vệ được trình bày rõ trong điều luật này là để dùng cho những sân vận động lớn có đông khán giả và các môn thi khác đang diễn ra trên sân. Trong trường hợp khác, đặc biệt trong khu vực tập luyện có thể dùng lưới bảo vệ đơn giản hơn. Có thể nhận thông tin chỉ dẫn từ uỷ ban quốc gia hoặc văn phòng IAAF.

Ghi chú: Lưới bảo vệ ném tạ xích được trình bày trong điều 185 cũng có thể được sử dụng cho ném đĩa bằng cách hoặc là lắp hai vòng đồng tâm có đường kính 2,135/2,50m hoặc bằng cách sử dụng kiểu mở rộng của lưới bảo vệ này cùng với vòng ném đĩa được đặt sau vòng ném tạ xích. Chi tiết được trình bày trong điều 185.

2. Lưới bảo vệ phải được thiết kế và lắp đặt như thế nào đó để có thể cản được một đĩa có trọng lượng 2kg đang đi chuyển với tốc độ trên 25m/giây, và đĩa không bị bật trở lại gây nguy hiểm cho vận động viên hoặc bay qua phía trên lưới chắn.

Miễn là thoả mãn tất cả những đòi hỏi của điều luật này, bất kỳ dạng lưới bảo vệ nào cũng có thể được sử dụng.

3. Lưới phải có hình chữ U bao gồm ít nhất 6 tấm lưới ghép rộng 3.17m như trong hình vẽ. Độ rộng của miệng chữ U phải là 6m và ở cách tâm vòng ném 5m. Độ cao của tấm lưới ghép tối thiểu phải là 4m.

Sự dự phòng phải được làm trong thiết kế và cấu trúc của lưới chắn để phòng ngừa một đĩa văng qua bất kỳ mắt lưới hoặc lưới hoặc phía dưới tấm ghép.

Lưới dùng trong ném tạ xích được nói rõ trong điều luật này từ năm 1958 - 1978 có thể được sử dụng cho ném đĩa. Trong trường hợp này vòng ném sẽ được đặt lùi về sau 80cm (có nghĩa là tâm của vòng ném cách miệng lưới 5m) để tăng độ an toàn.

4. Mặt lưới có thể làm từ dây gai bện tự nhiên hoặc nhân tạo hoặc từ dây thép. Cỡ mắt lưới tối đa phải là 5cm đối với dây thép và 4cm đối với lưới dây gai bện. Cỡ tối thiểu của dây gai hoặc dây thép phụ thuộc vào cấu trúc của lưới song sức mạnh để phá hỏng tối thiểu phải là 40kg.

Để bảo đảm độ an toàn liên tục của lưới, lưới thép phải được kiểm tra tối thiểu 12 tháng 1 lần.

Việc kiểm tra bằng mắt là không đủ đối với dây gai. Vì vậy cần kiểm tra độ dài như nhau của dây gai chuẩn được làm thành mắt lưới của nhà sản xuất. Chúng có thể khác nhau sau 12 tháng và được kiểm tra để bảo đảm độ bền ổn định của lưới.

5. Khu vực nguy hiểm nhất trong lúc ném đĩa ra khỏi lưới bảo vệ là khoảng 98o khi vận động viên sử dụng tay phải hoặc tay trái để ném trong cùng một cuộc thi đấu. Vì vậy việc kiểm tra vị trí và cân chỉnh lưới ở khu vực này là cần thiết để bảo đảm an toàn.







1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương