UỶ ban nhân dân tỉnh hải dưƠng số: 141 /bc-ubnd



tải về 75.19 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu23.07.2016
Kích75.19 Kb.

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG




Số: 141 /BC-UBND

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


Độc lập - Tự do - Hạnh phúc




Hải Dương, ngày 12 tháng 12 năm 2014



BÁO CÁO

Sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết 82/NQ-CP ngày 06/12/2012

của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện

Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành

Trung ương Đảng (Khóa XI)


Thực hiện Công văn số 2787/TTCP-C.IV ngày 14/11/2014 của Thanh tra Chính phủ về việc báo cáo sơ kết 02 năm thực hiện Nghị quyết 82/NQ-CP ngày 06/12/2012 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí giai đoạn 2012-2016 (gọi tắt là Nghị quyết 82). UBND tỉnh Hải Dương báo cáo kết quả triển khai, thực hiện Nghị quyết 82 trên địa bàn tỉnh Hải Dương như sau:

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

Nhận thức tầm quan trọng của công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua, tỉnh Hải Dương đã triển khai kịp thời và đồng bộ nhiều giải pháp để phòng ngừa và phát hiện tham nhũng. Công tác PCTN của tỉnh Hải Dương đã có những chuyển biến tích cực. Các sở, ngành, địa phương đã tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa IX) và Luật phòng, chống tham nhũng. Công tác thanh tra, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo đã được gắn với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng nhằm phát hiện sở hở trong cơ chế chính sách để bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp; kịp thời phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng. Tỉnh luôn coi trọng việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng cũng như triển khai các biện pháp phòng ngừa, phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên, các cơ quan báo chí trung ương và địa phương, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong đấu tranh chống tham nhũng… Đây là những bước cơ bản tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của số đông cán bộ, nhân dân, tạo được áp lực dư luận đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Trong 2 năm qua, từ khi Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành Kết luận số 21-KL/TW và sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 82-NQ/CP các cấp, các ngành trong tỉnh đã tăng cường chỉ đạo tổ chức học tập, tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm chống lãng phí của Trung ương và của tỉnh khá kịp thời, nghiêm túc; gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và phổ biến rộng rãi đến quần chúng nhân dân; đồng thời xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện ở địa phương, đơn vị; Tỉnh ủy đã thành lập Ban Nội chính tỉnh kiện toàn tổ chức và đi vào hoạt động, UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc thực hiên pháp luật phòng, chống tham nhũng. Thông qua việc triển khai thực hiện, đã xác định rõ hơn về nhiệm vụ, về các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực để khắc phục và tăng cường các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng, lãng phí phát sinh. Vì vậy, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực; công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường; việc điều tra, xử lý các vụ tham nhũng được chỉ đạo tập trung và có hiệu quả hơn so với trước; góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

II. TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

1. Việc quán triệt, tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về PCTN; công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN

Ngay sau khi có hướng dẫn của cấp trên về tổ chức quán triệt, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (Khóa XI), Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số số 49-KH/TU ngày 26/6/2012 về việc tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các Kết luận và Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI); Kế hoạch số 52-KH/TU ngày 27/7/2012 về thực hiện các Kết luận và Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI).

Tỉnh uỷ, UBND tỉnh tổ chức hội nghị quán triệt, học tập, thực hiện tới các đồng chí Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, Giám đốc các sở, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố; Uỷ viên UBKT Tỉnh ủy, Huyện ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy. Tại hội nghị, Tỉnh ủy chỉ đạo cấp uỷ, chính quyền các cấp quán triệt nội dung Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/5/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng ngày 23/11/2012, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành; Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 26/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 29/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên, vốn, tài sản và lao động tại doanh nghiệp nhà nước; Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 12/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, đào tạo từ năm học 2013-2014; Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 06/12/2012 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/5/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh đến cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân dưới nhiều hình thức đa dạng, phù hợp với tình hình thực tiễn của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương.

Các cấp, các ngành, địa phương và các đơn vị đã nghiêm túc thực hiện việc quán triệt, tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật các cấp đã chủ động xây dựng kế hoạch và bố trí giảng viên, báo cáo viên tham gia tuyên tuyền cho các đơn vị; Báo Hải Dương, Đài Phát thanh & Truyền hình tỉnh đã dành thời lượng, nội dung kế hoạch để tuyên truyền về Luật Phòng, chống tham nhũng; các tổ chức xã hội, đoàn thể cũng đã tích cực tham gia tuyên truyền, phổ biến vận động quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào việc phòng, chống tham nhũng.

Nhìn chung, công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 21-KL/TW của Trung ương Đảng, Nghị quyết số 82/NQ-CP của Chính phủ và các quy định thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng đã được triển khai sâu rộng đến các cấp, các ngành trong tỉnh; tạo sự chuyển biến về nhận thức của mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân ở địa phương.

2. Đánh giá thực hiện các giải pháp phòng, ngừa tham nhũng

- Việc thực hiện cải cách hành chính: Tiếp tục thực hiện đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính giai đoạn 2007-2010, UBND tỉnh đã công bố công khai 1521 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấp, ngành trên địa bàn tỉnh. Năm 2012 đến nay, đã công bố chuẩn hóa, thống nhất được 1.491 thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh, trong đó có 170 thủ tục hành chính dùng chung cấp xã, 232 thủ tục hành chính dùng chung cấp huyện và 1089 thủ tục hành chính của các sở, ngành. Các cấp chính quyền đã chỉ đạo thực hiện việc công khai, minh bạch các bộ thủ tục hành chính sau khi đã được rà soát, đơn giản hóa, giúp cá nhân và tổ chức dễ dàng tiếp cận thông tin; giúp các cơ quan có thẩm quyền giám sát chặt chẽ việc tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính. Đa dạng hóa các hình thức công khai như: niêm yết công khai tại bộ phận giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại các sở, ngành, trụ sở UBND cấp huyện, xã; cập nhật thông tin trên Cổng thông tin điện tử tỉnh và 28 trang thông tin điện tử hoạt động ổn định.

Ngoài ra, UBND tỉnh đẩy mạnh việc triển khai thực hiện, giải quyết các thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông" và "một cửa hiện đại". Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức và trách nhiệm công vụ trong việc triển khai thực hiện cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thủ tục hành chính; tiếp nhận, giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân trong thực hiện thủ tục hành chính

- Việc thực hiện về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị: UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng căn cứ theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng; Nghị quyết của Chính phủ và hướng dẫn của các Bộ, ngành về các chế độ, chính sách của từng ngành, từng lĩnh vực để tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các văn bản quy định nhiệm vụ và trách nhiệm của các cấp các ngành trong việc thực hiện các giải pháp phòng, ngừa tham nhũng. Đồng thời tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh các quy chế, quy định về công tác quản lý, cụ thể hoá những việc phải công khai, minh bạch trong những lĩnh vực hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị.

+ UBND tỉnh đã ban hành văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành kiên quyết chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của các cơ quan hành chính theo hướng nâng cao tính minh bạch và công khai của nền hành chính, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, đặc biệt là trong những lĩnh vực liên quan nhiều đến người dân, doanh nghiệp và việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước. Nghiêm túc thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chế độ tiếp khách và sử dụng xe công, nhiều đồng chí lãnh đạo của tỉnh đã không sử dụng xe công đưa đón từ nhà đến trụ sở làm việc.

+ Các sở, ngành, địa phương đã thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan, đơn vị mình, đồng thời chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện nghiêm chỉnh công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại nơi làm việc các quy trình, thủ tục, thời hạn giải quyết đối với công việc liên quan đến người dân và doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện và giám sát việc thực hiện.

+ Giám đốc các sở, ngành và Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố, Thủ trưởng các cơ quan đơn vị đã thực hiện đúng trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc kiểm tra thực hiện chức trách, nhiệm vụ đối với các cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý, đã có nhiều biện pháp để phòng ngừa tham nhũng.

+ Công khai việc thực hiện cơ chế "một cửa", quy trình làm việc của các phòng, ban, bộ phận nghiệp vụ chuyên môn, niêm yết công khai các thủ tục hành chính.

+ Công khai và minh bạch trong việc chi tiêu nội bộ, mua sắm và sử dụng tài sản công.

+ Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng các quy định về tiêu chuẩn đạo đức lối sống, xem xét đánh giá cán bộ hàng năm.

+ Công khai việc thi tuyển công chức và sử dụng cũng như đề bạt cán bộ, tiến hành kê khai thu nhập và tài sản của cán bộ, công chức thông qua hình thức tự kê khai phiếu điều tra.

+ Các đơn vị sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước đã có sự công khai hoá việc phân bổ và sử dụng ngân sách theo đúng quy định và tinh thần thực hiện quy chế dân chủ.

- Việc xây dựng, ban hành và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn: UBND tỉnh đã rà soát, ban hành, sửa đổi, bổ sung định mức, tiêu chuẩn đối với các lĩnh vực như giá các loại đất, chính sách hỗ trợ bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất... để các cơ quan, đơn vị, địa phương căn cứ áp dụng; đồng thời chỉ đạo các cấp, các ngành rà soát quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn của từng cấp, từng ngành, trên cơ sở quy định của Trung ương, của tỉnh để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.

Tiếp tục chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện tốt cơ chế  tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phí và biên chế đối với các cơ quan hành chính, sự nghiệp công lập; tiến hành rà soát, sửa đổi bổ sung, quy định cụ thể, các chế độ định mức, tiêu chuẩn trong quy chế quản lý chi tiêu nội bộ, đảm bảo nguồn kinh phí tiết kiệm theo quy định tại Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước, Nghị định số 117/2013/NĐ-CP  ngày 07/10/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 130/2005/NĐ-CP và Nghị định số 43/2006/ NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công.

Qua việc triển khai thực hiện các quy định về tiêu chuẩn, định mức, đặc biệt là trong chi tiêu hành chính, sử dụng tài sản công cho thấy các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp đã hạn chế được tình trạng lãng phí, tiết kiệm được tiền ngân sách trong việc chi dùng cho hoạt động của cơ quan, đơn vị; thực hiện công khai, minh bạch việc sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn tài trợ được giao, công khai về mua sắm, sử dụng tài sản công, các khoản viện trợ, ủng hộ đóng góp của các tổ chức và nhân dân; công khai minh bạch ngân sách tỉnh; thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ; thực hiện việc công khai các khoản đóng góp và hỗ trợ trong nhân dân.

- Việc xây dựng, thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức: Tiếp tục thực hiện Quy tắc ứng xử của cán bộ công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương ban hành kèm theo Quyết định số 03/2007/QĐ-BNV ngày 26/2/2007 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Quy chế Văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng chủ động phối hợp xây dựng nội quy về quan hệ công tác; sự phối kết hợp hoạt động đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong nội bộ và với các cơ quan có liên quan; ban hành các văn bản thực hiện quy tắc về chuẩn mực ứng xử; đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ và quan hệ xã hội; quan hệ giữa công chức, viên chức với doanh nghiệp và người dân. Bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức và lĩnh vực hoạt động công vụ, nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, ngành, địa phương.

- Việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức: Các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục triển khai, thực hiện Nghị định số 158/2007/NĐ-CP của chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện, tiến hành rà soát những vị trí công tác trong diện phải thực hiện định kỳ chuyển đổi theo quy định để xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện.

- Việc xem xét xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị: Việc xem xét xử lý trách người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng (nếu có) được triển khai thực hiện theo quy trình quy định.

- Việc thực hiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập: UBND tỉnh đã ban hành văn bản triển khai thực hiện Kế hoạch số 92-KH/TU ngày 18/02/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về xây dựng kế hoạch thực hiện Chỉ thị 33-CT/TW ngày 03/01/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản; Nghị định số 78/2013//NĐ-CP của Chính phủ; Thông tư số 08/2013/TT-TTCP ngày 30/10/2013 của Thanh tra Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 78/2013/NĐ-CP. Thanh tra tỉnh đã tham mưu với Ban Thường vụ tỉnh uỷ và UBND tỉnh tiến hành tổ chức triển khai thực hiện Nghị định số 78/2013/NĐ-CP và tập huấn chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc việc kê khai, minh bạch tài sản, thu nhâp theo Nghị định số 78/2007/NĐ-CP của Chính phủ đúng thời gian và đúng mẫu quy định. Trong 2 năm qua, chưa có cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân nào vi phạm về chậm tổ chức, tổng hợp, báo cáo kết quả kê khai; chậm kê khai và kê khai không trung thực.

- Việc đổi mới phương thức thanh toán, trả lương qua tài khoản nhằm phòng ngừa tham nhũng: Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 24/8/2007 của Thủ Tướng Chính phủ về trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ Ngân sách nhà nước; Chỉ thị số 05/2007/CT-NHNN ngày 11/10/2007 của Thống đốc NHNN Việt Nam về việc triển khai Chỉ thị 20/CT-Tg của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh đã chỉ đạo NHNN chi nhánh tỉnh Hải Dương tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ban ngành liên quan trong tỉnh phối hợp tổ chức thực hiện nhằm đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2011-2015.

Đến nay có trên 60% đơn vị thực hiện, nguyên nhân là do việc đưa giải pháp trả lương qua tài khoản chưa phù hợp với thực tiễn, việc thanh toán qua tài khoản do hệ thống ngân hàng thực hiện chưa tốt; mặt khác còn nhu cầu người rút tiền phải trả một khoản phí dịch vụ. Điều đó đã gây khó khăn, trở ngại cho cán bộ, công chức.

- Việc nhận quà và nộp lại quà tặng: Ủy ban nhân dân tỉnh đã có văn bản chỉ đạo các sở, ngành, địa thực hiện nghiêm quy chế về tặng quà, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng. Trong dịp tết nguyên đán Quý Tị (2013), Giáp Ngọ (2014) trên địa bàn tỉnh chưa phát hiện trường hợp nào dùng Ngân sách Nhà nước mua quà biếu sai quy định và chưa có trường hợp nào nộp lại quà tặng.

3. Tăng cường tính công khai minh bạch trong hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật

- Triển khai, thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhất là trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giải phóng mặt bằng, giá bồi thường khi thu hồi đất; lĩnh vực an sinh xã hội, nông nghiệp, phát triển nông thôn; công tác cán bộ; hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, PCTN...

- Ban hành văn bản triển khai Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ và Thông tư số 02/2014/TT-TTCP ngày 29 tháng 4 năm 2014 của Thanh tra Chính phủ về trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

- Phê duyệt và chỉ đạo thực hiện kế hoạch thanh tra trách nhiệm của thủ trưởng các sở, ngành, Chủ tịch UBND các cấp trong việc thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Tăng cường kiểm tra việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng: việc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kê khai tài sản, thu nhập...



4. Hoàn thiện chế độ công vụ, công chức; thực hiện cơ chế, chính sách về công tác tổ chức, cán bộ, nâng cao chất lượng thực thi công vụ

- Phân công, phân cấp rõ ràng trong quản lý cán bộ, công chức; quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, đơn vị, khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống trong hoạt động quản lý. Quy định chức trách của từng vị trí công tác, nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và căn cứ vào kết quả thực hiện chức trách đó để đánh giá cán bộ, công chức trong việc để xảy ra tham nhũng, lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách;

- Thực hiện nghiêm các quy định về đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ, nhất là trong khâu tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật cán bộ; thực hiện tuyển dụng thông qua thi tuyển, kiên quyết loại bỏ tình trạng tuyển dụng, tiếp nhận cán bộ không đúng chuyên môn, ngành nghề...tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cơ chế thi tuyển các chức danh lãnh đạo, quản lý; có quy định cụ thể để điều chuyển, thay thế và xử lý những cán bộ lãnh đạo, quản lý để xảy ra tham nhũng, lãng phí, uy tín giảm sút, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ;

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công vụ, công chức, nhất là việc thực hiện quy tắc ứng xử, những việc cán bộ, công chức không được làm, trách nhiệm giải trình, minh bạch tài sản, thu nhập, việc thực thi công vụ ở những vị trí trực tiếp giải quyết yêu cầu của công dân, tổ chức, doanh nghiệp;

- Tiếp tục thực hiện nghiêm quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức nhất là trong việc cưới, việc tang, mừng nhà mới, nhận chức vụ, tổ chức sinh nhật, việc nhận bằng cấp, học hàm, học vị, danh hiệu thi đua, khen thưởng.

5. Hoàn thiện cơ chế về quản lý kinh tế-xã hội, xây dựng môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, công bằng, minh bạch để phòng, ngừa tham nhũng

- Ban hành văn bản quy định để quản lý, kiểm soát việc thu, chi ngân sách; việc chi tiêu công, nhất là mua sắm và đầu tư công;

- Hoàn thiện thể chế quản lý doanh nghiệp của Nhà nước và doanh nghiệp có vốn của Nhà nước. Cổ phần hóa một số doanh nghiệp nhà nước theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước đối với vốn và tài sản của Nhà nước tại các doanh nghiệp đã cổ phần, Tăng cường công khai, minh bạch tài chính doanh nghiệp.

- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch trong giao dịch giữa các cơ quan nhà nước với doanh nghiệp, người dân nhất là trong các lĩnh vực quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài chính, quy hoạch, kế hoạch đầu tư, quy trình xem xét, phê duyệt đề án, dự án kinh tế - xã hội.



6. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát.

- Củng cố, kiện toàn Ban Nội chính Tỉnh uỷ; quy định rõ thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ phù hợp với tính chất, đặc điểm của hoạt động; xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng trong việc tiếp nhận, xử lý thông tin, tố cáo về tham nhũng, điều tra phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng.

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra các lĩnh vực như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; đầu tư, mua sắm công; thu, chi ngân sách; quản lý tài sản công; công tác tổ chức, cán bộ... nhằm làm tốt công tác phòng ngừa chống phát sinh tham nhũng.

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện công khai, minh bạch và bảo đảm sự liêm chính trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và trong các cơ quan, đơn vị có chức năng phát hiện, xử lý tham nhũng.

- Tăng cường hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, phản biện của MTTQ các cấp đối với hoạt động PCTN ở địa phương;

- Thường xuyên tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về PCTN, phẩm chất chính trị, bản lĩnh đạo đực nghề nghiệp cho cán bộ, công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra.



7. Nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của toàn xã hội trong công tác PCTN; hợp tác quốc tế, thực thi Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, các cơ quan thông tin đại chúng đã phối hợp tốt với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện Quy chế dân chủ, thực hiện giám sát kiểm tra trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ quan, giám sát việc thực hiện chủ trương chính sách của đảng và pháp luật của Nhà nước, kế hoạch hàng năm, việc sử dụng kinh phí hoạt động, chế độ quản lý và sử dụng tài sản, việc thực hiện chế độ, chính sách đối với CBCC, việc giải quyết khiếu nại tố cáo của thủ trưởng cơ quan. Qua đó đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong toàn thể cán bộ, công chức về ý thức phòng, chống tham nhũng, nâng cao ý thức trách nhiệm phòng ngừa và tinh thần đấu tranh phòng chống tham nhũng của cán bộ, công chức góp phần vào công tác phòng, chống tham nhũng trong từng cơ quan, đơn vị, tổ chức.



III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Công tác phòng, chống tham nhũng của tỉnh Hải Dương có nhiều tiến bộ, công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng gắn với việc tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với chuyên đề "nêu cao tinh thần trách nhiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm" đã tạo được sự chuyển biến trong nhận thức, ý thức và trở thành hành động trong phòng, chống tham nhũng. Thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng ngừa tham nhũng tại cơ quan, đơn vị; việc kê khai tài sản thu nhập, chuyển đổi vị trí công tác, cải cách thủ tục hành chính, công khai các hoạt động trong cơ quan, đơn vị được thực hiện theo quy định. Việc thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức; chế độ định mức tiêu chuẩn; công khai minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức đơn vị thực hiện nghiêm túc. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến hành vi tham nhũng được quan tâm chỉ đạo sát sao.

Hoạt động của cơ quan Thanh tra, Nội chính Tỉnh uỷ đã giúp cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo, triển khai thực hiện nhiệm vụ về phòng, chống tham nhũng kịp thời. Vì vậy, công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục có chuyển biến tích cực hơn so với năm trước, trên địa bàn tỉnh không phát sinh vụ việc, vụ án tham nhũng.

IV. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1. Tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, đồng thời gắn với việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Làm tốt công tác nhân sự, kiên quyết đưa ra khỏi danh sách ứng cử, đề cử những người có hành vi tham nhũng, tổ chức thành công đại hội đảng các cấp.

2. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và công tác giám sát của HĐND, các đoàn thể nhân dân trong việc ngăn ngừa, giám sát phát hiện và lên án các hành vi tham nhũng, tiêu cực.

3. Tiếp tục củng cố về tổ chức và hoạt động của Ban chỉ đạo PCTN của tỉnh và các cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng.

4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng; tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp mà dư luận và xã hội quan tâm.

5. Tiến hành kiểm tra ở một số ngành, địa phương về công tác phòng, chống tham nhũng và thực hiện các nội dung của kế hoạch hành động thực hiện và xử lý các vụ việc tham nhũng tiêu cực.

6. Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về tình hình và kết quả công tác phòng, chống tham nhũng theo quy định.

Trên đây là báo cáo kết quả 2 năm thực hiện Nghị quyết 82/NQ-CP ngày 06/12/2012 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí giai đoạn 2012-2016, UBND tỉnh Hải Dương báo cáo Thanh tra Chính phủ theo quy định./.



Nơi nhận:

- Thanh tra Chính Phủ;

- Thường trực Tỉnh uỷ;

- LĐ UBND tỉnh;

- LĐ VP UBND tỉnh;

- Thanh tra tỉnh;



- Lưu:VT, NC. (15)


CHỦ TỊCH


Đã ký


Nguyễn Mạnh Hiển




: ChinhQuyen -> hethongvanbanpq -> Documents
Documents -> Ủy ban nhân dân tỉnh hải dưƠNG
Documents -> UỶ ban nhân dân tỉnh hải dưƠNG
Documents -> UỶ ban nhân dân cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh hải dưƠng độc lập Tự do Hạnh phúc
Documents -> Ủy ban nhân dân tỉnh hải dưƠNG
Documents -> TỈnh hải dưƠng số: 1018 /ubnd-vp v/v kiểm tra, kiểm điểm tình hình thực hiện Chương trình phát triển vật liệu xây dựng không nung trên địa bàn tỉnh CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
Documents -> Ủy ban nhân dân tỉnh hải dưƠNG
Documents -> Ủy ban nhân dân tỉnh hải dưƠNG
Documents -> UỶ ban nhân dân tỉnh hải dưƠNG
Documents -> UỶ ban nhân dân tỉnh hải dưƠNG
Documents -> UỶ ban nhân dân tỉnh hải dưƠNG




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương