TRƯỜng đẠi học sư phạm kỹ thuật tp. Hcm



tải về 1.89 Mb.
trang3/4
Chuyển đổi dữ liệu02.06.2018
Kích1.89 Mb.
1   2   3   4
Kẽm (Zn)

2.1. Vai trò và tác dụng:

  • Kẽm là nguyên tố cần thiết để duy trì sự sống của con người và động vật. Toàn bộ cơ thể người chứa độ 2-3 g kẽm, xấp xỉ lượng sắt và gấp 10 lượng đồng. Kẽm được hấp thu ở ruột non, tích lũy trong gan và từ gan, kẽm được “xuất kho” vào máu và tùy theo sự cần thiết. Kẽm được bài tiết 90% từ tụy ra phân, còn 10% theo nước tiểu. Từ mẹ, kẽm qua nhau thai để vào thai, nhưng khi đứa trẻ ra đời còn tích lũy kẽm.[3]

  • Hàng trăm năm trước đây người ta đã phát hiện kẽm có trong cơ thể thực vật, động vật, người và khẳng định rằng nó cần thiết để cho cây cỏ trưởng thành. Bốn chục năm gần đây người ta thấy kẽm có vai trò quan trọng ở động vật và ở người, cụ thể nó giúp quá trình tạo máu, sinh trưởng và phát triển của cơ thể, nó cũng đẩy mạnh sự chuyển hóa các chất, sự oxy hóa khử và sự trao đổi năng lượng trong cơ thể.[3]

  • Kẽm cũng có vai trò quan trọng trong sự hoạt động của tuyến yên, tuyến tụy, tuyến sinh dục nam. Chẳng hạn, khi thêm muối kẽm vào chất “hướng sinh dục” (do tuyến yên tiết ra) sẽ làm chất này hoạt động mạnh gấp 25 lần, kẽm cũng có mặt trong chất insulin (với tỉ lệ 0.36%) do tuyến tụy tiết ra, các protein chứa kẽm và các enzyme như superoxit dismutas. Kẽm cũng có mặt trong dịch hoàn, buồng trứng, tinh trùng…, làm tăng sự hoạt động của chúng. Ngoài ra, kẽm có tác dụng kích thích tạo hồng cầu và hemoglobin.[3]

  • Vai trò kẽm trong các enzyme được nghiên cứu chi tiết hơn các kim loại khác, vì kẽm tham gia vào các hoạt động của trên 300 enzyme trong các phản ứng sinh học quan trọng, nó có mặt trong nhiều enzyme chuyển hóa, enzyme hô hấp, và các enzyme tiêu hóa. Đặc biệt các enzyme cần thiết cho sự tổng hợp protein, acid nucleic cũng như sự tổng hợp, bài tiết và hoạt động của nhiều hormone tăng trưởng quan trọng như GH, IGF-1, testosteron, insulin, thymutin.[3]

  • Do đó, kẽm cần thiết cho sự phiên mã gen, sinh sản, tái tạo và nhân đôi tế bào, cần cho sự tăng trưởng và phát triển bình thường của các chức năng về miễn dịch, tiêu hóa, não, nội tiết, xương, cơ, sự trưởng thành giới tính cũng như chống oxy hóa.[3]

  • Theo một số nguồn thì việc sử dụng các loại thuốc chứa kẽm có thể đem lại sự miễn dịch đối với cảm lạnh hay cúm, mặc dù điều này còn gây tranh cãi.[3]

2.2. Các bệnh lý về kẽm:

  • Khi thiếu kẽm, sẽ có rối loạn chuyển hóa protid, làm cơ thể thải nhiều nitơ, do đó ngừng lớn và sút cân. Ở động vật ăn thiếu kẽm thấy: rụng lông, chậm lớn, suy mòn, tổn thương da, giảm sức sinh sản hoặc mất khả năng sinh sản.[3]

  • Thị giác, vị giác, khướu giác và trí nhớ có liên quan đến kẽm và sự thiếu hụt kẽm có thể gây ra sự hoạt động không bình thường của các cơ quan này.

  • Trường hợp thiếu kẽm nặng, còn có thể dẫn đến viêm da, dầy sừng, sạm và bong da mặt ngoài hai cẳng chân (vẩy cá), hói, loạn dưỡng móng (móng nhăn, có vệt trắng, chậm mọc), khô mắt. Viêm quanh hậu môn, âm hộ, tiêu chảy. Tăng nhạy cảm đối với bệnh nhiễm trùng, gây ra nhiễm trùng tái diễn. Kích thích thần kinh, rối loạn nhận thức, mắc chứng ngủ lịm, chậm phát triển tâm thần vận động. Chậm phát triển giới tính, giảm khả năng tuyến sinh dục, ít tinh trùng, bệnh bất lực, suy dinh dưỡng nặng.

  • Mất đi một lượng nhỏ kẽm làm cho đàn ông sụt cân, giảm khả năng sinh dục và có thể mắc bệnh vô sinh. Phụ nữ trong thời kỳ mang thai mà thiếu kẽm sẽ làm giảm trọng lượng trẻ sơ sinh, thậm chí thai có thể chết.

  • Một số người có vị giác hay khướu giác bất thường do thiếu kẽm. Kẽm cũng cần thiết cho thị lực, kẽm giúp cơ thể chống lại bệnh tật. Bạch cầu cần có kẽm để chống lại nhiễm trùng và ung thư.[3]

  • Thiếu kẽm cũng dẫn đến thiếu máu.

  • Những người mắc bệnh nhồi máu cơ tim có hàm lượng kẽm khá cao.

  • Quá nhiều kẽm trong cơ thể có thể gây hại như nôn mửa, đau dạ dày, yếu cơ và tổn thương thần kinh. Những nghiên cứu gần đây cho biết hàm lượng kẽm cao trong cơ thể có liên quan đến bệnh mất trí, hay gặp ở người cao tuổi.[3]

  • Kẽm là vi chất quan trọng trong duy trì sức khỏe và dinh dưỡng của con người. Bổ sung vừa đủ lượng kẽm có thể phòng chống suy nhược và tăng cường miễn dịch. Tuy nhiên, quá nhiều kẽm lại phản tác dụng, gây suy giảm miễn dịch.[3]

2.3. Nhu cầu và nguồn bổ sung kẽm:

  • Nhu cầu hằng ngày:

  • Trong cơ thể có khoảng 2500mg kẽm, 90% kẽm trong cơ thể nằm trong nội bào, trong đó có 30% được phân bố trong bộ xương và 60% trong cơ. Bình thường, hàm lượng kẽm trong cơ thể là 20mcg/g thể trọng, nhưng nó có thể lên đến 1,5 lần (30 mcg/g thể trọng) trong thời kỳ cơ thể đang tăng trưởng và trưởng thành. Trong thời kỳ mang thai, có sự huy động của kẽm từ cơ thể người mẹ sang thai nhi, nên trong thời kỳ này hàm lượng kẽm trong máu của người mẹ có thể giảm đến 50%. Các đặc điểm trên thể hiện sự cần thiết của kẽm đối với sự tăng trưởng ở trẻ em.[3]

  • Nhu cầu đòi hỏi cung cấp hằng ngày khoảng 5 – 19 mg. Mỗi ngày nên cung cấp cho cơ thể một lượng kẽm cần thiết: 15 mg đối với nam giới và 12 mg đối với nữ giới. Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú, những người mổ xong và người bị đái tháo đường thì cần nhiều hơn.[3]

  • Nguồn bổ sung:

  • Từ động vật: sữa mẹ, sữa bò, trứng, sò, ốc, tôm, cua, cá, thịt, con hàu, patê gan.[3]

  • Từ thực vật: gừng, mầm các loại hạt.[3]


Hình 2. Các nguồn thực phẩm giàu kẽm



    1. Đồng (Cu)

3.1. Vai trò và tác dụng:

  •  Đồng tự bản thân nó là một chất ôxy hóa. Tuy vậy trong cơ thể nó lại có vai trò của chất chống ôxy hóa bởi vì đồng là một thành phần trong enzyme chống ôxy hóa superoxide dismutase. Enzyme này bảo vệ tế bào khỏi bị hư hại do các gốc tự do và sự peroxide.[8]

  • Đồng cũng là một thành phần của protein, ceruloplasmin trong huyết tương. Ceruloplasmin kiểm soát nồng độ một số hormone trong máu và cần thiết cho sự tạo thành tế bào hồng cầu[8]

  • Đồng thúc đẩy sự hấp thu và sử dụng sắt để tạo thành hemoglobin của hồng cầu. Nếu thiếu đồng trao đổi sắt cũng sẽ bị ảnh hưởng, nên sẽ bị thiếu máu và sinh trưởng chậm…[8]

  • Ngoài ra, đồng còn tham gia vào việc sản xuất năng lượng, tạo melanin (sắc tố màu đen ở da), ôxy hóa acid béo,…[8]

  • Đồng là nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho các loài động thực vật bậc cao, nó được tìm thấy trong 1 số loại enzyme. Có 1 loại cua gọi là cua móng ngựa (hay cua vua) sử dụng đồng thay sắt để chuyên chở oxy trong máu. [4]

  • Đồng hấp thu vào máu tại dạ dày và phần trên của ruột non. Khoảng 90% Đồng trong máu kết hợp với chất đạm Ceruloplasmin và được vận chuyển vào trong tế bào dưới hình thức thẩm thấu và một phần nhỏ dưới hình thức vận chuyển mang theo chất đạm. Phần lớn đồng được bài tiết theo mật qua đường phân cùng với lượng đồng không thẩm thấu được vào máu. Số nhỏ bài tiết qua nước tiểu, bài tiết theo mồ hôi, tóc và móng tay dài bị cắt đi.[4]

  • Đồng cần thiết cho chuyển hóa sắt và lipid, có tác dụng bảo trì cơ tim, cần cho hoạt động của hệ thần kinh và hệ miễn dịch, góp phần bảo trì màng tế bào hồng cầu, góp phần tạo xương và biến năng Cholesterol thành vô hại. Trong cơ thể người có khoảng từ 80mg đến 99,4 mg đồng. Hiện diện trong bắp thịt, da, tủy xương, xương, gan và não bộ. Trẻ em mới sinh có khoảng 15-17 mg đồng.[4]

3.2. Các bệnh lý về đồng:

  • Do nguồn thực phẩm chứa đồng rất đa dạng, cơ thể chúng ta ít khi bị thiếu đồng. Thiếu đồng gây thiếu máu, tăng cholesterol và sự phát triển bất thường ở xương. Do đồng và vitamin C đều cần thiết cho sự thành lập mô liên kết, các triệu chứng thiếu đồng có thể bị nhầm lẫn với trường hợp thiếu vitamin C. Thiếu đồng còn gây dung nạp kém glucose. Thiếu đồng khi mang thai có thể khiến thai chậm phát triển hoặc phát triển bất thường.

  • Là một bệnh hiếm (1/100.000), bệnh Menkes là do đột biến gen trên nhiễm sắc thể X, khiến nồng độ đồng và ceruloplasmin trong máu thấp, trong khi niêm mạc ruột, cơ, lách và thận lại tích lũy nhiều đồng. Bệnh gây thoái hóa thần kinh, phát triển bất thường mô liên kết, loãng xương... Chế độ ăn giàu đồng kết hợp với histidin có thể làm gia tăng sự hấp thu đồng vào máu nhưng không cải thiện được chức năng não và không làm chậm đi quá trình diễn tiến của bệnh.[10]

  • Sự thiếu hụt đồng làm gia tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch, nhất là trong trường hợp cùng thiếu Selen. Nguyên nhân có thể do ức chế men glutathion peroxidase, khiến không thể kiểm soát được các gốc tự do.[8]

  •  Thiếu đồng còn gây dung nạp kém glucose. Thiếu đồng khi mang thai có thể khiến thai chậm phát triển hoặc phát triển bất thường.[8] 

  • Thiếu hụt đồng cũng có thể gây thiếu máu, bệnh về xương, rối loạn hệ thần kinh, rụng tóc… Sự phát triển xương của trẻ con bị chậm lại, xương dễ gãy.[8]

  • Người ta ghi nhận được ba hiện tượng bệnh lý của sự thiếu đồng ở trẻ em như sau :

+ Bệnh thiếu máu, thiếu số lượng hay kích thước của hồng cầu hay thiếu số lượng huyết đạm trong hồng cầu, hay xảy ra ở trẻ em được nuôi bằng sữa bò.[9]

+ Bị ỉa chảy, suy dinh dưỡng.[9]



+ Ảnh hưởng di truyền, Menky phát hiện năm 1962, thiếu chất đồng do di truyền nên trẻ sinh ra chậm lớn, kém thông minh, da, tóc bị mất sắc tố (bạch tạng), tóc thưa, mềm, mạch máu bị giãn, xương không nảy nở bình thường, thân nhiệt thấp, hay bị bất tỉnh.[9]

  • Đồng là một nguyên tố tương đối ít độc tính, nên hiếm thấy các ca ngộ độc mãn tính. Ngộ độc cấp tính thường do uống nhầm dung dịch muối đồng.[10]

  • Bệnh Wilson cũng là một bệnh hiếm (1/200.000), do đột biến gen. Người bệnh thường khỏe mạnh cho đến tuổi dậy thì, nếu không chữa kịp thời, có thể bị suy gan và tổn thương mô thần kinh. Tránh các thức ăn có nhiều đồng, uống bổ sung kẽm để giảm hấp thu đồng và sử dụng các tác nhân chelat để kéo đồng ra khỏi mô là những phương pháp trị liệu chính.[10]

3.3. Nhu cầu và những nguồn bổ sung đồng:

  • Nhu cầu hàng ngày:

  • Hàng ngày cơ thể chúng ta cần khoảng 1 - 1,5 mg đồng.[10]

  • Nguồn bổ sung:

  • Hầu hết các thực phẩm đều có chứa đồng: từ rau cải, ngũ cốc cho đến các loại thịt, cá. Các nguồn thực phẩm giàu đồng nhất bao gồm: thịt bò, hải sản, tạng động vật, các loại đậu, đậu phộng, sô cô la...[10]


Hình 3. Các nguồn thực phẩm giàu đồng


    1. Iod (I)

4.1. Vai trò và tác dụng:

  • Iod là một nguyên tố lượng nhỏ không thể thay thế được trong dinh dưỡng cơ thể. Vai trò của Iod được biết ngay từ đầu thế kỷ trước, hồi đó người ta đã nói nó liên quan tới các “dịch” bướu cổ. Tổng số iod trong cơ thể là 20 – 25 mg, tập trung ở tuyến giáp, cơ, da, xương.[3]

  • Năm 1895 người ta phát hiện iod trong tuyến giáp ( tuyến này bám vào sụn giáp của khí quản, ngay trước cổ). Sau đó, phát hiện rằng tuyến giáp hoạt động bằng cách tiết ra chất thyroxin, chất này chứa tới 65% iod. Đến nay đã biết rõ quá trình từ lúc iod vào tuyến giáp đến lúc nó tham gia tạo nên thyroxin. Tóm lại, thiếu iod làm tuyến giáp không sản xuất được chất thyroxin, tuyến sẽ phản ứng bằng cách phồng to ra, đó là bướu cổ. Hàm lượng iod trong mỗi lít huyết tương là 0.10 – 0.20 mg, nếu giảm còn 0.05 mg sẽ xuất hiện bệnh.[3]

  • Iod giúp bạn điều chỉnh quá trình trao đổi chất và cho phép cơ thể bạn tạo ra nhiều hormone ở tuyến giáp. Thiếu hụt iod sẽ làm giảm khả năng hoạt động của tuyến giáp và quá trình trao đổi chất bị chậm lại. Ngoài ra, iod còn có tác dụng tốt trong các quá trình bảo vệ cơ thể (miễn dịch, thực bào…)[3]

4.2. Các bệnh lý về iod:

  • Thiếu iod còn gây ra nhiều rối loạn khác nhau: bướu cổ, rối loạn bệnh lý khác như sảy thai, thai chết lưu, khuyết tật bẩm sinh, thiểu nǎng trí tuệ, đần độn,cơ thể chậm phát triển, mệt mỏi, giảm khả nǎng lao động.

  • Hiện nay, trên thế giới có khoảng một tỷ rưỡi người sống trong vùng thiếu iod và có nguy cơ bị các rối loạn do thiếu iod. Trong đó 655 triệu người có tổn thương não và 11,2 triệu người bị đần độn.

  • Việt Nam là một nước nằm trong vùng thiếu iod. Tỷ lệ thiếu iôt rất cao và phổ biến toàn quốc từ miền núi đến đồng bằng. Trên những vùng thực hiện tốt chương trình phòng chống bướu cổ thì tỷ lệ bệnh giảm đi đáng kể. Lượng iod tối ưu cho cơ thể người trường thành là 200 mcg/ngày, giới hạn an toàn là 1000 mcg/ngày.

  • Khi cơ thể bị thiếu iod, tuyến giáp làm việc nhiều hơn để tổng hợp thêm nội tiết tố giáp trạng nên tuyến giáp to lên, gây ra bướu cổ. Bướu cổ là cách thích nghi của cơ thể để bù lại một phần thiếu iod, khi có kích thước to có thể chèn ép đường thở, đường ǎn uống gây ra các vấn đề ảnh hưởng cho sức khỏe.

  • Thiếu iod ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai có thể gây ra sẩy thai tự nhiên, thai chết lưu, đẻ non. Khi thiếu iod nặng trẻ sinh ra có thể bị đần độn với tổn thương não vĩnh viễn. Trẻ sơ sinh có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay hoặc chân, nói ngọng, điếc, câm, mắt lác. Các hậu quả đó sẽ tồn tại vĩnh viễn trong cả cuộc đời, hiện nay y học chưa chữa được.[3]

  • Thiếu iod trong thời kỳ niên thiếu gây ra bướu cổ, chậm phát triển trí tuệ, chậm lớn, nói ngọng, nghễnh ngãng. Trong một số trường hợp nặng, trẻ có thể bị đần độn, liệt cứng hai chân. Trẻ bị thiếu iod không thể đạt kết quả tốt trong học tập. Thiếu iod ở người lớn gây ra bướu cổ với các biến chứng của nó như mệt mỏi, không linh hoạt và giảm khả nǎng lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế, xã hội.[3]

  • Tóm lại, Iod là nguyên tố vi lượng cần thiết cho dinh dưỡng của loài người, rất cần thiết cho phát triển của cơ thể, cần cho tổng hợp hormone tuyến giáp, duy trì thân nhiệt, phát triển xương, quá trình biệt hóa và phát triển của não và hệ thần kinh trong thời kỳ bào thai. Tại những vùng đất xa biển hoặc thiếu thức ăn có nguồn gốc từ đại dương; tình trạng thiếu iốt có thể xảy ra và gây nên những tác hại cho sức khỏe, như sinh bệnh bướu cổ hay thiểu năng trí tuệ.

  • Đây là tình trạng xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Việc dùng muối iod như muối ăn hằng ngày (có chứa nhiều hợp chất iod có thể hấp thụ được) có thể giúp chống lại tình trạng này.

  • Theo các chuyên gia y học, nếu cung cấp quá nhiều Iod trong khẩu phần ăn hằng ngày trong một thời gian dài sẽ gây ra bệnh bướu cổ dịch tễ - hiện tượng sưng cổ do phình đại tuyến giáp, hoặc làm tăng nguy cơ diễn tiến bệnh bướu cổ.

4.3. Nhu cầu và những nguồn bổ sung iod:

  • Nhu cầu hàng ngày:

  • Một người khoẻ mạnh có khoảng 15-20 mg Iod, trong đó 70 – 80% được giữ lại ở tuyến giáp. Đây có thể coi là kho dự trữ Iod của cơ thể.

  • Nhu cầu Iod là 150 mcg/ngày đối với người trưởng thành, 175 mcg/ngày cho phụ nữ có thai, 200 mcg/ngày cho bà mẹ nuôi con bú.

  • Một liều lên tới 1.000 mcg/ngày có thể coi là an toàn.[3]


BẢNG 1. HÀM LƯỢNG IOD CHO PHÉP SỬ DỤNG ( RDAs)[3]






Tuổi

Iod(mcg)

Sơ sinh

0 - 0.5

0.5 – 1


40

50


Trẻ em

1 – 3

4 – 6


7 – 10

70

90

120



Nam

11 – 51

150

Nữ

11 – 51

150

Mang thai

Cho bú





175

200




1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương