Trường Đại Học Mỏ Địa Chất Khoa Dầu Khí Lời mở đầu


Các chế độ vận hành của nhà máy



tải về 0.92 Mb.
trang3/9
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.92 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9

2.3 Các chế độ vận hành của nhà máy


Nhà máy khí Dinh Cố thiết kế để vận hành theo ba chế độ là AMF, MF, GPP. Cả ba chế độ này đều được đưa vào vận hành theo từng thời kỳ khác nhau. Nguyên liệu đi vào nhà máy tại từng chế độ hoạt động là như nhau. Chỉ khác nhau về quá trình làm lạnh. Do đó các sản phẩm ở từng chế độ vận hành của nhà máy cũng khác nhau.

      1. Chế độ vận hành AMF (Asolute Minimum Facility):

Đây là chế độ hoạt động của nhà máy ở trạng thái cụm thiết bị hoạt động là tối thiểu tuyệt đối. Giai đoạn này được hoạt động với mục đích cung cấp khí thương phẩm gia dụng cho các nhà máy điện với công suất là 3,8 triệu m3/ngày. Đồng thời cũng thu một lượng tối thiểu Condensate với sản lượng 342 tấn/ngày. Chế độ AMF là chế độ dự phòng trong trường hợp chế độ MF và GPP không hoạt động khi xẩy ra sự cố, sửa chữa hoặc bảo dưỡng …

Sản phẩm của chế độ này là:

  • Khí khô

  • Condensate

Các thiết bị chính trong chế độ vận hành AMF:

  • Slug Catcher (SC-01/02):

Là cụm thu gom chất lỏng, tại đây xảy ra quá trình tách thô lỏng-khí từ hỗn hợp hai pha của dòng khí từ ngoài khơi vào. SC-01/02 được đặt tại đầu vào của nhà máy với áp suất thiết kế là 109 bar, nhiệt độ phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường. SC gồm có hai dãy, mỗi dãy có công suất 1400 m3. Trong nhà máy hệ thống tuyến ống SC-01/02 được đặt nghiêng 150C. Phần lỏng được thu gom ở ống có đường kính 30 inch để chế biến tiếp.

  • Slug Catcher liquid flash drum (V-03):

Là bình tách nằm ngang hoạt động ở áp suất 75 bar và 200C nhận lỏng từ SC-01/02, tại đây tiếp tục quá trình tách hydrocacbon nhẹ. Để tránh quá trình tạo hydrat vì giảm áp (từ 109 bar xuống 75 bar) dòng dầu nóng E-07 được dùng để gia nhiệt cho V-03.

  • Deethanizer (C-01):

Là một tháp đĩa dạng van có 32 đĩa. Nguyên liệu vào tháp đi theo hai dòng, một dòng ra từ đáy của tháp Rectifier C-05 được đưa vào đĩa thứ nhất. Còn dòng thứ hai vào đĩa thứ 14 từ thiết bị tách V-03. Tháp hoạt động ở 20 bar, nhiệt độ đỉnh 640C và nhiệt độ đáy là 1940. Nhiệm vụ của tháp C-01 là tách lượng C4- ra khỏi Condensate, cung cấp khí khô cho các nhà máy điện và bước đầu ổn định nhiệt Condensate.

  • Rectifier C­-05:

Thiết bị lọc tinh này hoạt động ở nhiệt độ 210C áp suất 45 bar. Tại đây xẩy ra quá trình tách khí bằng phương pháp ngưng tụ.

  • Jet Compressor (bơm hoà dòng EJ-01A/B/C):

Cụm thiết bị dùng để giảm áp suất của khí từ SC-01/02 có áp suất 109 bar xuống còn 45 bar trước khi đi vào tháp C-05. Ngoài ra nó còn có tác dụng nén khí từ áp suất 20 bar ra từ đỉnh tháp C-01 lên 45 bar.

Quá trình vận hành chế độ AMF:

Sơ đồ công nghệ chế độ vận hành AFM (phục lục 1)

Khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ được đưa vào bờ qua đường ống 16 inch với áp suất 109 bar, nhiệt độ 25,60C đi qua thiết bị SC-01/02. Tại đây dòng khí và dòng lỏng được tách ra theo các đường riêng biệt, phần lớn nước lẫn trong hydrocacbon được tách và thải ra từ thiết bị này.

Dòng hydrocacbon từ Slug Catcher được giảm áp và đưa vào bình tách V-03 hoạt động ở áp suất 75 bar, nhiệt độ 200C để tách thêm phần nước vẫn còn lẫn lại trong hydrocacbon nhẹ hấp thụ trong lỏng được tách ra. Nhưng do hiệu ứng Joule-Thomson đồng thời với việc giảm áp suất thì nhiệt độ cũng giảm theo dẫn đến quá trình tạo thành hydrat. Để tránh hiện tượng này bình được gia nhiệt đến nhiệt độ 200C bằng dầu nóng từ thiết bị E-07. Dòng hydrocacbon lỏng ra khỏi V-03 tiếp tục được gia nhiệt bằng cách trao đổi nhiệt với dòng ra từ đáy tháp C-01 (nhiệt độ là 1940C) tại thiết bị trao đổi nhiệt E-04A/B. Ngoài việc tận dụng nhiệt ra, ta còn tránh được khả năng tạo hydrat do sự giảm áp từ 75 bar xuống 20 bar khi đi qua FV-1701. Khi đó nhiệt độ của dòng lỏng sẽ tăng từ 200C đến 1010C và được đưa vào đĩa thứ 14 của tháp C-01.

Dòng khí ra khỏi Slug Catcher (SC) được dẫn vào thiết bị tách V-08 nhằm tách triệt để các giọt lỏng cuốn theo dòng khí do SC không tách được và các hạt bụi trong khí (nếu có) để tránh làm hư hỏng các thiết bị chế biến phía sau. Khí ra khỏi V-08 được đưa vào bơm hoà dòng EJ-01 A/B/C để giảm áp suất từ 109 bar xuống 45 bar, việc giảm áp đó sẽ hút khí từ tháp C-01. Dòng ra từ EJ-01 A/B/C là dòng hai pha ở nhiệt độ 210C, áp suất 45 bar được dẫn vào tháp C-05 cùng với dòng khí nhẹ từ tháp V-03 (áp suất làm việc của tháp C-05 cũng sẽ bằng 45 bar).

Tháp tách C-05 có nhiệm vụ tách phần lỏng ngưng tụ do hệ thống bơm hoà dòng đưa vào, dòng khí ra khỏi đỉnh tháp là dòng khí thương phẩm dùng để cung cấp cho các nhà máy điện, hydrocacbon lỏng từ đáy C-05 sẽ được đưa sang tháp C-01.

Như vậy trong chế độ vận hành AMF tháp C-01 có hai dòng nguyên liệu đi vào, dòng thứ nhất là hydrocacbon lỏng từ bình tách V-03 được đưa vào đĩa thứ 14, dòng thứ hai là dòng hydrocacbon lỏng từ đáy tháp C-05 được đưa vào đĩa trên cùng của tháp C-01, tại đây hầu hết các thành phần C4- được tách khỏi hỗn hợp nạp vào. Hỗn hợp lỏng ra khỏi C-01 một phần được tận dụng thông qua thiết bị trao đổi nhiệt E-04A/B, một phần được làm lạnh thông qua thiết bị trao đổi nhiệt bằng không khí E-09 trước khi đưa vào đường ống hoặc bồn chứa TK-21.



      1. Chế độ vận hành MF (Minimum Facility):

Đây là chế độ vận hành của nhà máy ở trạng thái cụm thiết bị hoạt động tối thiểu. Chế độ MF được phát triển từ chế độ AMF nhằm mục đích thu hồi sản phẩm Bupro với sản lượng 630 tấn/ngày và Condensate với sản lượng 380 tấn/ngày. Đây là chế độ dự phòng trong trường hợp không thể vận hành nhà máy theo chế độ GPP.

Sản phẩm của chế độ vận hành MF:

  • Khí khô

  • Bupro (hỗn hợp butan và propan)

  • Condensate

Các thiết bị trong chế độ vận hành MF

Ngoài các thiết bị chính trong chế độ vận hành AMF, trong chế độ này sẽ có thêm một số thiết bị sau:



  • Tháp ổn đinh Condensate (Stabilizer C-02):

Đây là tháp dạng đĩa gồm 30 đĩa vận hành ở áp suất 11 bar, nhiệt độ ở đỉnh là 60 0C, nhiệt độ đáy là 154 0C. Tại thiết bị này Condensate và Bupro sẽ được tách ra.

  • Tháp loại nước (Dehydration and Regeneration V-06 A/B):

Là tháp hấp phụ sử dụng chất rắn (lớp trên là nhôm oxit, lớp dưới là zeolit), hoạt động ở 109 bar. Với cấu tạo như trên, khí ra khỏi thiết bị có điểm sương là -75 0C.

  • Các thiết bị trao đổi nhiệt (Exchanger E-14, E-20):

Khí ra từ V-06 A/B được chia thành hai đường, một vào thiết bị trao đổi nhiệt E-14, một dòng vào thiết bị trao đổi nhiệt E-20 để trao đổi nhiệt với khí và lỏng ra ở đỉnh, đáy của tháp C-05 nhằm giảm nhiệt độ khí đầu vào tháp C-05.

  • OVHD Compressor (K-01):

Là thiết bị nén dùng để tăng áp suất khí từ đỉnh C-01 lên 45 bar để đưa vào dòng khí thương phẩm.

  • Máy nén K-04 A/B:

Là máy nén khí dùng để tái sinh cho tháp V-06 A/B.

Qui trình vận hành chế độ MF:

Sơ đồ công nghệ vận hành chế độ MF (phụ lục 2)

Với điều kiện dòng nguyên liệu có nhiệt độ và áp suất theo thiết kế, đầu tiên khí được dẫn vào SC-01/02. Tại đây dòng nguyên liệu đầu vào được tách thành hai dòng. Dòng khí được dẫn tới thiết bị tách V-08 để tách hết lượng lỏng bị cuốn theo bao gồm nước và hydrocacbon lỏng, các hạt rắn để tránh việc làm hỏng chất xúc tác khi dẫn vào tháp V-06 A/B. Dòng lỏng ra khỏi thiết bị tách V-08 sẽ được đưa tới thiết bị tách V-03. Khí ra khỏi tháp V-06 A/B (điểm sương là -750C) áp suất 109 bar được dẫn đến đồng thời hai thiết bị trao đổi nhiệt E-14 và E-20 để làm lạnh. Dòng khí ra khỏi E-14 nhiệt độ là -170C, áp suất 109 bar qua van giảm áp FV-1001 giảm xuống còn -350C, áp suất 47,5 bar sẽ được nhập với dòng khí ra từ E-20 có nhiệt độ 190C là nguyên liệu cho tháp C-05. Dòng khí ra khỏi đỉnh tháp C-05 có nhiệt độ -190C trao đổi nhiệt với E-14 và được đưa ra đường ống dẫn khí thương phẩm cung cấp cho các nhà máy điện, dòng lỏng ra khỏi đáy tháp C-05 được dẫn tới đĩa thứ 1 của tháp C-01.

Dòng lỏng từ SC-01/02 qua van giảm áp đến thiết bị tách V-03 áp suất sẽ giảm từ 109 bar đến 75 bar và có nhiệt độ là 200C. V-03 là thiết bị tách ba pha được gia nhiệt bằng dòng E-07 (nhiệt độ đầu vào 2600C và nhiệt độ đầu ra 350C). Dòng khí từ V-03 qua van giảm áp được đưa vào đĩa thứ 2, đĩa thứ 3 của tháp C-01 với nhiệt độ -80C. Còn dòng lỏng đi ra từ V-03 được gia nhiệt từ 200C đến 800C qua FV-1701 và được đưa vào tháp C-01 ở đĩa thứ 20. Khí ra khỏi tháp C-01 được đưa vào thiết bị tách V-12 qua máy nén K-01 nén đến áp suấ 47 bar rồi dẫn vào đường ống dẫn khí thương phẩm.

Tháp C-01 hoạt động ở nhiệt độ đỉnh 100C, nhiệt độ đáy 1200C áp suất 29 bar. Dòng lỏng ra khỏi đáy tháp C-01 sẽ là nguyên liệu cho tháp ổn định Condensate C-02 ở đĩa thứ 11. Nhiệt độ đỉnh tháp C-02 là 600C, nhiệt độ đáy là 1540C áp suất 11bar. Dòng ra khỏi tháp C-02 là Bupro được dẫn ra bồn chứa hoặc được dẫn đến kho cảng Thị Vải, còn dòng lỏng ra khỏi C-02 một phần cho hồi lưu trở lại đáy tháp C-02, một phần cho trao đổi nhiệt với dòng lỏng của V-03 thông qua E-04, sau đó được làm lạnh ở E-09 tiếp tục được đưa tới bồn chứa TK-21 hoặc dẫn đến kho cảng Thị Vải.

Thiết bị tách V-06 A/B là hai tháp hấp thụ hoạt động luân phiên nhau, khi tháp này làm việc tháp kia sẽ tái sinh. Quá trình tái sinh được thực hiện nhờ sự cấp nhiệt của dòng khí thương phẩm sau khi được gia nhiệt đến 2200C bằng dầu nóng tại E-18, dòng khí này sau khi ra khỏi V-06 A/B được tái làm nguội ở E-14 và tách lỏng ở V-07 trước khi đưa vào đường ống dẫn khí thương phẩm.

Hệ thống hấp thụ nước bao gồm 2 tháp V-06A/B có tác dụng tách các phân tử nước ra khỏi hỗn hợp khí trước khi đi vào quá trình phân đoạn. Trong tháp có chứa các hạt hấp phụ nhôm oxit (hấp thụ???? thô) và zeolit (hấp thụ???? sâu), nước bị giữ lại trên các bề mặt mao quản của các hạt này. Hai tháp làm việc theo chế độ luân phiên nhau (một hấp phụ, một tái sinh). Quá trình tái sinh bao gồm các giai đoạn sau: Giảm áp (nhằm chuẩn bị cho quá trình tái sinh được hiệu quả hơn), gia nhiệt (tách các phân tử nước ra khỏi các mao quản dưới tác dụng của dòng khí có nhiệt độ 2300C), làm lạnh và tăng nhiệt áp (để giúp cho quá trình hấp phụ sau này được triệt để), cuối cùng là giai đoạn dự phòng (hai tháp cùng có tác dụng hấp phụ trong một thời gian ngắn trước khi hoán đổi chức năng làm việc).



      1. Chế độ vận hành GPP (Gas Processing Plant):

Đây là chế độ hoàn thiện của nhà máy xử lý khí, lúc này nhà máy bao gồm các thiết bị hoàn chỉnh được hoàn thiện từ cụm thiết bị MF với mục tiêu thu hồi triệt để Condensate, propan và butan. Khi hoạt động ở chế độ GPP hiệu suất thu hồi lỏng cao hơn so với các giai đoạn AMF và MF.

Sản phẩm của nhà máy trong chế độ GPP là:

  • Khí khô thương phẩn.

  • Propan.

  • Butan.

  • Condensate.

Các thiết bị trong chế độ vận hành GPP:

Ngoài các thiết bị có trong chế độ vận hành MF ra, ở chế độ vận hành GPP có thêm một số thiết bị sau:



  • Turbo Expander/Compressor (CC-01):

Là thiết bị giãn nở khí vận hành nhằm giảm nhiệt độ khí đầu vào C-05 nhờ sự giãn nở từ 109 bar xuống 33,5 bar, đồng thời tăng áp suất dòng khí ra ở đỉnh C-05 từ 33,5 bar lên 47 bar tại đầu nén trước khi đưa dòng khí này vào đường dẫn khí thương phẩm.

  • Splitter C-03:

Đây chính là tháp đĩa dạng van gồm 30 đĩa, đĩa tiếp liệu là đĩa thứ 14 vận hành ở áp suất 16 bar, nhiệt độ 970C. Tại đây xẩy ra quá trình tách riêng propan và butan.

  • Máy nén K-02/03:

Là các máy nén pittông một giai đoạn, được dùng để tăng áp suất từ đỉnh C-01 lên 109 bar trước khi vào lại V-06 A/B.

  • Stripper C-04:

Là tháp dạng đĩa van gồm 6 đĩa vận hành với áp suất 47 bar, nhiệt độ 400C. Tại đây dòng lỏng từ C-03 được đưa vào tách nước bởi tách nhân khí nóng.

Qui trình vận hành chế độ GPP:

Sơ đồ công nghệ vận hành chế độ GPP (phụ lục 3)

Khí đồng hành từ ngoài khơi có áp suất 109 bar, nhiệt độ 260C được tiếp nhận tại SC-01/02, tại đây hai pha lỏng-khí được tách riêng ra. Sau đó :

Dòng lỏng được loại một phần nước và được đưa vào thiết bị tách ba pha V-03 để xử lý tiếp. Bình này hoạt động ở áp suất 75 bar và nhiêt độ 180C.

Dòng khí được đưa qua các thiết bị tách thứ cấp hai pha lỏng-khí V-08 để tách phần lỏng còn lại, phần lỏng tách ra ở V-08 được đưa sang thiết bị tách ba pha V-03 để sử lý tiếp, còn dòng khí tách ra tại V-08 được đưa sang tháp V-06 A/B dùng chất hấp phụ rắn để tách hydrat.

Dòng khí khô ra khỏi tháp V-06 A/B sau khi được lọc bụi ở thiết bị lọc F-01 A/B được chia thành hai phần. Phần một khoảng 2/3 lượng khí được đưa vào đầu giãn của thiết bị Turbo-Expander CC-01, tại đây khí giãn nở từ 109 bar xuống còn 33,5 bar, đồng thời do hiệu ứng Joule-Thomson nhiệt độ cũng giảm xuống còn -180C, dòng khí này sẽ được đưa vào đáy tháp C-05 để tách lượng nhẹ còn lại trong đó. Phần thứ hai khoảng 2/3 lượng khí ra khỏi V-06 A/B được đưa sang thiết bị trao đổi nhiệt E-14 để làm lạnh từ 260C xuống -33,50C nhờ dòng khí lạnh từ đỉnh tháp C-05 có nhiệt độ -430C, sau đó nhờ van giảm áp FV-1001 khí được giãn nở đoạn nhiệt từ 109 bar xuống 47,5 bar đồng thời nhiệt độ cũng giảm từ -350C xuống -620C sau đó được đưa vào tháp C-05 đóng vai trò như dòng hồi lưu ngoài.

Tháp C-05 làm việc ở nhiệt độ đỉnh -430C, nhiệt độ đáy -200C và áp suất 33,5 bar. Khí ra khỏi tháp C-05 được sử dụng để làm lạnh khí đầu vào thông qua thiết bị trao đổi nhiệt E-14, sau đó được nén tại đầu nén của thiết bị CC-01 và được đưa ra đường dẫn khí thương phẩm. Lỏng ra khỏi tháp C-05 được nạp vào đĩa thứ nhất của tháp C-01 để xử lý tiếp.

Khí thoát ra ở đỉnh C-01 được máy nén K-01 nén từ 29 bar lên 47 bar sau đó được làm lạnh tại thiết bị trao đổi nhiệt E-08 với tác nhân làm lạnh là dòng lỏng đến từ V-03 có nhiệt độ 200C. Tiếp đó khí được đưa vào tháp C-04 để tách nước và hydrocacbon nhẹ lẫn trong dòng lỏng đến từ V-03.

Tháp C-04 làm việc ở áp suất 47,5 bar, nhiệt độ đỉnh 400C, nhiệt độ đáy 440C, khí ra ở đỉnh C-04 được máy nén K-02 nén đến áp suất 75 bar sau đó được làm lạnh bởi thiết bị làm lạnh bằng không khí E-19. Dòng khí thoát ra từ E-19 được trộn với lượng khí tách ra từ V-03 và được máy nén K-03 nén đến áp suất 109 bar, tiếp tục được làm lạnh tại E-13 và được đưa vào dòng khí nguyên liệu của thiết bị tách V-08.

Tháp C-01 làm việc ở nhiệt độ đỉnh và nhiệt độ đáy lần lượt là 140C và 1090C. Sản phẩm đáy của tháp C-01 có thành phần chủ yếu là C3+ sẽ được đưa tới tháp C-02.

Tháp C-02 làm việc ở áp suất 29 bar, nhiệt độ đỉnh bằng 550C, nhiệt độ đáy 1340C. Tháp C-02 có nhiệm vụ tách riêng Condensate và Bupro. Sảm phẩm đỉnh của tháp C-02 là Bupro được tiến hành ngưng tụ hoàn hoàn ở nhiệt độ 430C trong thiết bị ngưng tụ bằng không khí E-02, sau đó được đưa tới bình hồi lưu V-02 có dạng nằm ngang. Một phần Bupro được bơm P-01 A/B bơm trở lại tháp C-02 để hồi lưu, áp suất của bơm có thể bù đắp được sự chênh áp suất làm việc của tháp C-02 (11bar) và tháp C-03 (16 bar). Phần Bupro còn lại được gia nhiệt đến 600C trong thiết bị trao đổi nhiệt E-17 trước khi cung cấp cho tháp C-03 bằng dòng lỏng nóng từ đáy tháp C-03. Sản phẩm của đáy tháp C-02 chính là Condensate thương phẩm được đưa ra bồn chứa TK-21 hoặc dẫn ra đường ống vận chuyển Condensate về kho cảng Thị Vải.

Tháp C-03 có nhiệm vụ tách riêng propan và butan ra khỏi hỗn hợp Bupro. Sản phẩm đỉnh tháp C-03 là hơi Propan được ngưng tụ hoàn toàn ở nhiệt độ 460C nhờ thiết bị làm lạnh E-11 được lắp đặt tại đỉnh C-03 và được đưa tới bình chứa V-05. Một phần lỏng ra khỏi V-05 được hồi lưu trở lại tháp C-03 bằng bơm P-03, phần còn lại được bể chứa V-21A. Sản phẩm ra từ đáy tháp C-03 được đưa trở lại hồi lưu một phần thông qua thiết bị gia nhiệt E-10 để đưa dòng lỏng lên nhiệt độ 970C, phần còn lại được giảm nhiệt độ đến 600C bằng cách trao đổi nhiệt với dòng nguyên liệu vào tháp thông qua thiết bị trao đổi nhiệt E-17, sau đó tiếp tục giảm nhiệt độ đến 450C thông qua E-12 và được dẫn đến bồn chứa V-21B hoặc được dẫn đến kho cảng Thị Vải.


      1. Chế độ vận hành GPP chuyển đổi hiện tại.

Nhà máy xử lý khí Dinh Cố được thiết kế để sử dụng nguồn nguyên liệu là khí đồng hành mỏ Bạch Hổ với lưu lượng đầu vào 4,3 triệu m3/ngày và áp suất khí đầu vào là 109 bar. Tuy nhiên, từ cuối năm 2001 lượng khí vận chuyển theo đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố tăng từ 4,3 triệu m3/ngày lên 5,7 triệu m3/ngày do có thêm đường ống dẫn khí từ mỏ Rạng Đông nối vào. Như vậy, lượng khí tiếp nhận ở nhà máy xử lý khí Dinh Cố sẽ tăng thêm khoảng 1 triệu m3/ngày. Việc tăng lưu lượng khí vào bờ đã gây sự sụt áp đáng kể trên đường ống dẫn khí vào bờ và áp suất tại điểm tiếp nhận khí của nhà máy giảm từ 109 bar xuống còn khoảng từ 60-80 bar. áp suất khí đầu vào thấp sẽ làm giảm khả năng ngưng tụ của các cấu tử nặng dẫn tới giảm khả năng thu hồi sản phẩm lỏng của nhà máy, đồng thời làm giảm áp suất của dòng khí khô cung cấp cho nhà máy điện.

Để khắc phục vấn đề này, nhà máy đã tiến hành lắp đặt thêm trạm nén khí đầu vào để nén khí đầu vào lên áp suất 109 bar theo đúng thiết kế ban đầu.

Trạm nén khí đầu vào của nhà máy xử lý khí Dinh Cố gồm 4 máy nén K-1011 A/B/C/D. Trong đó có ba máy hoạt động, một máy dự phòng để tạo sự linh hoạt về công suất vận hành và công suất dự phòng.

Các thiết bị chính trong chế độ GPP chuyển đổi:

Các thiết bị trong chế độ này gồm toàn bộ các thiết bị trong chế độ vận hành GPP và còn có thêm trạm máy nén khí đầu vào K-1011 A/B/C/D, bình tách V-101.



Quá trình vận hành chế độ GPP chuyển đổi:

Sơ đồ công nghệ vận hành chế độ GPP chuyển đổi (phụ lục 4)

Khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ với lưu lượng 5,7 triệu m3/ngày đi vào hệ thống SC-01/02 để tách Condensate và nước trong điều kiện áp suất 60-70 bar, nhiệt độ 25-300C tuỳ theo nhiệt độ môi trường. Tiếp theo đó hỗn hợp khí được chia thành hai dòng:



    • Dòng thứ nhất khoảng 0,8 triệu m3/ngày được đưa qua van giảm áp PV-106, áp suất của khí sẽ giảm từ 60-70 bar xuống 54 bar và đi vào thiết bị tách lỏng V-101 để tách riêng lỏng và khí. Lỏng đi ra tại đáy bình tách V-101 được đưa vào thiết bị tách ba pha V-03 để tách sâu hơn, còn khí đi ra từ bình tách V-101 được sử dụng như khí thương phẩm cung cấp cho các nhà máy điện bằng hệ thống ống dẫn có đường kính 16 inch.

    • Dòng khí thứ hai là dòng chính khoảng 4,9 triệu m3/ngày được đưa vào trạm nén khí K-1011 A/B/C/D nhằm tăng áp suất của dòng khí từ 60-70 bar lên áp suất 109 bar theo thiết kế, sau đó khí được làm nguội bằng không khí đến nhiệt độ 400C bằng E-1011. Dòng khí này được đưa vào thiết bị lọc V-08 để tách lượng lỏng còn lại trong khí và lọc bụi bẩn. Sau đó được đưa vào thiết bị hấp thụ V-06 A/B để tách triệt để nước tránh hiện tượng tạo thành hydrat trong các quá trình chế biến sâu tiếp theo.

Dòng khí ra khỏi tháp V-06 A/B được lọc bụi khi đi qua F-01 A/B được chia thành hai dòng:

    • Khoảng một phần ba khí ban đầu qua thiết bị trao đổi nhiệt E-14 để hạ nhiệt độ từ 26,50 C xuống -350 C với tách nhân làm lạnh là dòng khí khô đến từ đỉnh tháp C-05 với nhiệt độ -450 C. Sau đó dòng khí ra khỏi E-14 được làm lạnh sâu hơn đến nhiệt độ -620 C nhờ van giảm áp FV-1001 áp suất giảm từ 109 bar xuống 37 bar. Lúc này dòng khí sẽ chứa khoảng 56% mol lỏng và được đưa tới đĩa trên cùng của tháp C-05 như một dòng hồi lưu ngoài.

    • Phần thứ hai khoảng hai phần ba dòng khí còn lại được đưa vào đầu giãn của CC-01 để giảm áp từ 109 bar xuống 37 bar và nhiệt độ giảm xuống -120 C. Dòng khí này được đưa vào đáy tháp C-05.

Như vậy khí khô sau khi ra khỏi thiết bị lọc F-01 A/B được tách ra và đưa sang các thiết bị E-14 và CC-01 để giảm nhiệt độ sau đó đưa vào tháp tinh cất C-05 hoạt động ở áp suất 37 bar, nhiệt độ của đỉnh và đáy tháp tương ứng là -450C và -150C. Tại đây khí được tách ra từ đỉnh tháp chủ yếu là metan và etan, còn phần ra ở đáy là C3+.

Hỗn hợp khí đi ra từ đỉnh tháp C-05 có nhiệt độ -450C qua E-14 sau đó được nén tới áp suất 54 bar trong phần nén của thiết bị CC-01. Hỗn hợp khí đi ra từ thiết bị này được đưa vào hệ thống đường ống 16 inch đến các nhà máy điện như là khí thương phẩm.

Còn hỗn hợp lỏng ra khỏi tháp C-05 được đưa tới đỉnh tháp C-01 như một dòng hồi lưu ngoài.

Tháp C-01 là một tháp đĩa dạng van hoạt động như một thiết bị chưng cất. Trong chế độ GPP chuyển đổi này tháp C-01 có hai dòng nguyên liệu đi vào là dòng lỏng từ đáy bình tách V-03 sau khi được gia nhiệt tại E-04 được đưa vào đĩa thứ 20. Tháp C-01 có nhiệm vụ tách các HC nhẹ như metan, etan ra khỏi Condensate, khi hoạt động tháp có áp suất 27,5 bar, nhiệt độ đỉnh 140C. nhiệt độ đáy tháp 1090C được duy trì nhờ thiết bị gia nhiệt E-01A/B. Khí nhẹ ra khỏi đỉnh tháp C-01 được đưa vào bình tách V-12 để tách lỏng có trong khí, sau đó được máy nén K-01 nén từ 27,5 bar đến áp suất 47,5 bar rồi đưa vào bình tách V-13 được nén tiếp đến 75 bar nhờ máy nén K-02, được làm mát nhờ thiết bị trao đổi nhiệt bằng không khí E-19. Dòng ra khỏi E-19 lại được máy nén K-03 nén đến áp suất thiết kế 109 bar, làm mát tại thiết bị trao đổi nhiệt E-13 và cuối cùng quay trở lại bình tách V-08 như là nguyên liệu đầu vào.

Hỗn hợp lỏng ra khỏi đáy tháp C-01 có thành phần chủ yếu là C3+ được đưa vào bình ổn định V-15 sau đó được đưa vào đĩa thứ 11 của tháp C-02.

Tháp C-02 là một tháp đĩa dạng van bao gồm 30 đĩa, áp suất làm việc 11 bar, nhiệt độ tại đỉnh 550C, nhiệt độ tại đáy 1340C được duy trì nhờ E-03. tháp C-02 có nhiệm vụ tách riêng hỗn hợp Bupro ra khỏi Condensate. Hỗn hợp Bupro ra khỏi tháp C-02 có nhiệt độ 550C được làm mát đến 430C nhờ thiết bị trao đổi nhiệt E-02 sau đó đưa sang bình ổn định V-02 , một phần nhỏ Bupro được hồi lưu lại đỉnh tháp C-01 còn phần lớn được làm lạnh lần nữa tại E-12 sau đó được đưa đến bồn chứa để xuất ra xe bồn hoặc đưa về kho cảng Thị Vải.

Condensate ra khỏi tháp C-02 có nhiệt độ cao được tận dụng nhiệt để gia nhiệt cho dòng lỏng ra từ đáy tháp V-03 thông qua thiết bị trao đổi nhiệt E-04, đồng thời nhiệt độ dòng Condensate cũng giảm xuống còn 600C, sau đó được làm mát tiếp đến 450C tại thiết bị làm lạnh bằng quạt E-09 cuối cùng được đưa vào bồn chứa hoặc đưa đến kho cảng Thị Vải.


    1. Một số hệ thống trong nhà máy:

- Hệ thống đuốc:

Hệ thống đuốc nhằm loại bớt khí tới nhà máy thông qua các van an toàn, van áp suất hoặc các chỗ nối thông khí và đốt nó ở chỗ an toàn. Toàn bộ khí được gom ở ống góp của đuốc có đường kính 20 inch và được đưa tới bồn cách biệt của đuốc, là bình nằm ngang có đường kính 3,1m và chiều dài 8,2m. ở đây toàn bộ chất lỏng được loại ra và khí rời ống góp 20 inch sang ống đuốc (ME-51), ống đuốc có đường kính 30 inch, cao 70 m, có công suất 212 tấn/h. Hệ thống thoát khí được thiết kế loại chất lỏng xả ra từ nhà máy qua van an toàn nhiệt hoặc các điểm nối xả bằng cách làm nóng hoặc bay hơi. Tất cả các chất lỏng trong ống góp 12 inch được dẫn đến bộ làm nóng (E-12), nó được làm nóng tới 550C, sau đó tới thùng tách biệt, qua hầm đốt, có công suất lớn nhất là 8,9 m3/h.



- Hệ thống bơm metanol:

Metanol được sử dụng nhằm tránh tạo hydrat trong các bộ phận làm lạnh trong nhà máy. Metanol được vận chuyển đến bồn chứa metanol (V-52) dạng đứng có đường kính 0,75 m và chiều cao 7,5 m. Bơm metanol là bơm pittông có công suất là 13 l/h, áp suất xả 11,5 bar. Có 3 buồng chứa, một để cung cấp cho đầu vào của E-14, một cho E-20 và còn lại cung cấp chung cho các điểm bơm.



- Hệ thống tạo mùi:

Mục đích của hệ thống tạo mùi là để phát hiện rò rỉ của sản phẩm. Khi hoạt động bình thường, chất tạo mùi được bơm liên tục với lưu lượng 40-60 ppm sảm phẩm. Chất tạo mùi dùng trong nhà máy là Ankylmercaptan, là chất không màu, rất độc. Khí thương mại được tạo mùi bằng thiết bị X-101.



: nonghocbucket -> UploadDocument server07 id50526 114188
UploadDocument server07 id50526 114188 -> MỤc lục mở ĐẦU 10 Xuất xứ của dự án 10
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Thiết kế MÔn học nhà MÁY ĐIỆn lời nóI ĐẦU
UploadDocument server07 id50526 114188 -> ĐỀ TÀi ngân hàng trung ưƠng trưỜng trung cấp kt-cn đÔng nam
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Seminar staphylococcus aureus và những đIỀu cần biếT
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Bài thảo luận Đánh giá chất lượng sản phẩm dầu thực vật Môn Phân Tích Thực Phẩm Nhóm 2 : Hoàng – Hùng Hiếu Hồng
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Luận văn tốt nghiệp gvhd: pgs. Ts nguyền Ngọc Huyền MỤc lục danh mục các chữ viết tắT
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Mục lục Tổng quan về thịt
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Gvhd: Nguyễn Minh Hùng Đề tài: Tìm Hiểu & Nghiên Cứu cpu
UploadDocument server07 id50526 114188 -> MỤc lục phầN 1 20 MỞ ĐẦU 20 chưƠng 1 21 giới thiệu chung về ĐỒ ÁN 21 Chương 1 nêu ra tính cấp thiết của đồ án, từ đó xác định mục tiêu và phạm VI nghiên cứu, xác định các phương pháp, công cụ cần sử dụng tới khi làm đồ án


1   2   3   4   5   6   7   8   9


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương