TẬp hợp kết quả giải quyếT, trả LỜI Ý kiếN, kiến nghị CỦa cử tri gửi tới kỳ HỌp thứ 11, quốc hội khoá XI bộ NÔng nghiệp và phát triển nông thôN



tải về 1.47 Mb.
trang15/21
Chuyển đổi dữ liệu14.08.2016
Kích1.47 Mb.
1   ...   11   12   13   14   15   16   17   18   ...   21

Trả lời (Công văn số 2259/LĐTBXH-VP ngày 28/6/2007 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội):

- Về việc các đối tượng người có công với nước được lĩnh trợ cấp hàng tháng rất chậm (thông thường vào ngày 24 hàng tháng).

Bộ Lao động, thương binh và xã hội – Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 84/2005/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 23/9/2005 quy định cụ thể thời gian, quy trình, trách nhiệm cấp phát kinh phí thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công đảm bảo đúng chính sách, đúng người được hưởng và kịp thời.

Thực tế vừa qua, hầu hết các địa phương đã thực hiện chi trả kịp thời theo quy định. Tuy nhiên, một số địa phương nhất là những tỉnh miền núi, việc cấp phát kinh phí còn chậm do: quá trình luân chuyển chứng từ, cấp phát kinh phí tại hệ thống Kho bạc từ Trung ương – tỉnh – huyện còn chậm; sự phối hợp giữa Sở Tài chính và Sở Lao động – thương binh và xã hội các tỉnh, thành phố chưa kịp thời. Để khắc phục tình trạng trên, Bộ Lao động – thương binh và xã hội phối hợp với Bộ Tài chính đã có Công văn số 6687/TC/VP ngày 17/6/2004 yêu cầu các đơn vị liên quan (kho bạc nhà nước, Sở Tài chính, Sở Lao động – thương binh và xã hội ...) thực hiện đúng nhiệm vụ, quy trình, tiến độ cấp kinh phí để đảm bảo chi trả trợ cấp cho người có công trong khoảng từ ngày 10 đến 15 hàng tháng.

- Về việc đối tượng người có công vẫn chưa nhận được mức trợ cấp mới theo Nghị định 43 của Chính phủ (xin sửa lại chính xác là 32/2007/NĐ-CP)

Ngày 02/3/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2007/NĐ-CP về việc quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi mới đối với người có công với cách mạng; mức trợ cấp, phụ cấp này được áp dụng từ ngày 01/1/2007. Để đảm bảo kinh phí cho các địa phương thực hiện chi trả theo mức trợ cấp mới kịp thời, ngay trong tháng 4/2007, Bộ Lao động – thương binh và xã hội đã phối hợp với Bộ Tài chính cấp tạm ứng kinh phí truy lĩnh trợ cấp tăng thêm cho 4 tháng đầu năm 2007.

Theo báo cáo của các địa phương, đến tháng 4/2007 hầu hết các đối tượng đã nhận được truy lĩnh trợ cấp tăng thêm của các tháng 1,2,3,4 năm 2007; tháng 5/2007 các địa phương đã chi trả trợ cấp, phụ cấp theo mức mới đối với người có công.

5/ Phú Thọ, Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Nội Đề nghị Nhà nước nghiên cứu, xem xét có chính sách trợ cấp đối với các đối tượng về nghỉ theo chế độ 111, 176 vì họ quá thiệt thòi so với người nghỉ chế độ 41.

Trả lời (Công văn số 2259/LĐTBXH-VP ngày 28/6/2007 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội):

Về vấn đề này, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã có công văn hướng dẫn số 3168/LĐTBXH-CSLĐXH ngày 24/9/1993 đối với người lao động đã thôi việc hưởng trợ cấp một lần theo Quyết định số 176/HĐBT ngày 09/10/1989 (văn bản kèm theo) nếu thực sự khó khăn, không có nguồn thu nhập nào thì có thể xem xét, thực hiện chính sách theo quy định tại Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo hộ xã hội.



6/ Cử tri tỉnh Tiền Giang kiến nghị: Đề nghị xét lại chuẩn hộ nghèo theo tiêu chí mới ở nông thôn giai đoạn 2006-2010, quy định mức thu nhập hộ nghèo ở nông thôn 200.000 đồng/người/tháng là quá thấp, theo mức này thì đời sống hộ nghèo ở nông thôn chưa được cải thiện.

Trả lời (Công văn số 2259/LĐTBXH-VP ngày 28/6/2007 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội):

Xoá đói giảm nghèo là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo có điều kiện từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống. Tuy nhiên, do nước ta còn nghèo nên trong giai đoạn đầu, thông qua việc xác định chuẩn nghèo để làm căn cứ xác định hộ nghèo, Nhà nước ưu tiên tập trung hỗ trợ cho những đối tượng nghèo nhất qua từng giai đoạn. Từ năm 1993 đến nay, chúng ta đã 5 lần điều chỉnh chuẩn nghèo, đồng nghĩa với việc mở rộng phạm vi trợ giúp người nghèo. Chuẩn nghèo giai đoạn 2006 – 2010 được thực hiện theo Quyết định 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ:

- Đối với khu vực nông thôn, những hộ có thu nhập bình quân đầu người một tháng từ 200.000 đồng trở xuống (gấp 2,25 lần so với giai đoạn trước).

- Đối với khu vực thành thị, những hộ có thu nhập bình quân đầu người một tháng từ 260.000 đồng trở xuống (gấp 1,73 lần so với giai đoạn trước).

Theo chuẩn nghèo nêu trên, đến cuối năm 2005, cả nước có khoảng 3,9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ trên toàn quốc. Vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là vùng Tây Bắc (42%) và Tây Nguyên (38%), có những huyện, tỷ lệ nghèo trên 70%, có xã tỷ lệ hộ nghèo trên 90%.

Theo Nghị quyết Đại hội X, phấn đấu đến năm 2010 giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước xuống còn 10 – 11%. Vì vậy, quy định trên là chuẩn nghèo quốc gia, tuỳ tình hình thực tế các tỉnh, thành phố có thể ban hành chuẩn nghèo riêng để hỗ trợ thêm cho người nghèo bằng nguồn ngân sách địa phương. Đến nay, Hà Nội, tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Đồng Nai, Bình Dương, Bà rịa – Vũng Tàu đã áp dụng chuẩn nghèo riêng của từng địa phương trong giai đoạn 2006 – 2010.

Tỉnh Tiền Giang có thể trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết áp dụng chuẩn nghèo của địa phương để cải thiện đời sống cho hộ nghèo trên địa bàn.

7/ Cử tri tỉnh Đồng Nai kiến nghị:

a/ Hiện nay, theo quy định người lao động thôi việc được hưởng trợ cấp 1 lần, họ sẽ được nhận khoản trợ cấp này trong thời hạn 1 năm (trước đây quy định này là 6 tháng). Tuy nhiên, theo ý kiến của hầu hết người lao động được hỏi thì họ mong muốn nhà nước sửa đổi quy định cho họ được lĩnh số tiền trợ cấp này ngay khi thôi việc để có điều kiện sinh hoạt và tìm công việc mới; theo quy định của Bộ luật Lao động (Điều 117) thì khi người mẹ có con nhỏ bị ốm mà việc chăm sóc con ốm đau do người khác đảm nhiệm thì người mẹ vẫn được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì trong các khoản chi của bảo hiểm xã hội không thấy có khoản chi trên. Vì vậy, trong quá trình thực hiện đã phát sinh nhiều bất cập, không có sự thống nhất. Cử tri đề nghị nhà nước khi ban hành điều luật phải xem xét đến các quy định liên quan cũng cần có hướng dẫn cụ thể để người dân dễ thực hiện.

Theo quy định tại Điều 92, Luật Bảo hiểm xã hội người sử dụng lao động hàng tháng phải đóng vào quỹ ốm đau, thai sản số tiền 3% tính trên số tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội. Trong đó được giữ lại 2% để chi trả kịp thời cho người lao động. Tuy nhiên, tại các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ thì hàng tháng có rất nhiều trường hợp thuộc đối tượng chi trả bảo hiểm xã hội (thai sản, ốm đau). Vì vậy, số tiền 2% nói trên không thể nào đủ để chi trả ngay được mà thường phải chờ cơ quan bảo hiểm chi trả hoặc là đến mấy tháng sau mới được chi trả. Điều này là một bất hợp lý của quy định này khi áp dụng trên thực tế. Cử tri kiến nghị nâng mức mà người sử dụng lao động được phép giữ lại để thuận lợi trong việc chi trả bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Trả lời (Công văn số 2259/LĐTBXH-VP ngày 28/6/2007 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội):

+ Việc hưởng trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thôi việc của người lao động được thực hiện theo những quy định tại Điều 17 và Điều 42 của Bộ luật Lao động.

- Về hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu được thực hiện theo quy định tại Điều 55 của Luật Bảo hiểm xã hội. Trong đó, tại điểm c, khoản 1, Điều 55 nêu rõ: “ Sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội”. Việc quy định như vậy nhằm tạo điều kiện để người lao động bảo lưu thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội và tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội đến khi đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí, ổn định cuộc sống lúc về già, góp phần tăng cường an sinh xã hội.

Mặt khác, theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội trong trường hợp người lao động thôi việc, mất việc làm và đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì được hưởng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề và hỗ trợ tìm việc làm theo quy định tại các Điều 82, 83 và Điều 84. Các quy định này sẽ giúp người lao động nhanh chóng có cơ hội tìm được việc làm và giảm bớt một phần khó khăn trong sinh hoạt khi mất việc. Vì vậy, đề nghị của người lao động sửa đổi quy định để được lĩnh bảo hiểm xã hội một lần khi thôi việc là không phù hợp và không đảm bảo lợi ích cho người lao động.

+ Theo quy định tại Điều 22, Luật Bảo hiểm xã hội, người lao động thuộc đối tượng áp dụng chế độ ốm đau mà có con dưới 7 tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con và có xác nhận của cơ sở y tế thì được hưởng chế độ ốm đau. Như vậy, trường hợp con nhỏ ốm đau mà cha hoặc mẹ không nghỉ việc thì không được hưởng chế độ ốm đau.

Bộ Lao động – thương binh và xã hội sẽ nghiên cứu đề nghị của cử tri báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, bổ sung Bộ Luật lao động cho phù hợp với Luật Bảo hiểm xã hội.

+ Tại điểm 1, phần C của Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/1/2007 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định:

Quyết toán chi trả chế độ ốm đau, thai sản theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 43 Nghị định 152/2006/NĐ-CP của người sử dụng lao động với tổ chức bảo hiểm xã hội được thực hiện mỗi quý một lần.

Trường hợp số tiền quyết toán nhỏ hơn số tiền được giữ lại, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả lại quỹ bảo hiểm xã hội số dư chênh lệch vào tháng đầu quý sau. Trường hợp số tiền được quyết toán lớn hơn số tiền được giữ lại thì tổ chức bảo hiểm xã hội cấp bù số dư chênh lệch vào tháng đầu quý sau.

Trong trường hợp số tiền chi trả chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động vượt quá nhiều so với số tiền được giữ lại trong quỹ thì người sử dụng lao động chủ động quyết toán sớm hơn với tổ chức bảo hiểm xã hội.

Như vậy, quy định này đã đáp ứng được kiến nghị của cử tri trong việc chi trả trợ cấp kịp thời cho người lao động tại các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ.

BỘ XÂY DỰNG
1/ Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: “Trong công tác xây dựng cơ bản thời gian qua còn thể hiện nhiều thiếu sót, bất cập mà trước hết là tiến độ thi công các công trình còn quá chậm, nhiều công trình cầu, đường, xây dựng kiên cố hoá trường lớp họ ở các địa phương kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng đến chất lượng công trình, ô nhiễm môi trường gây lãng lhí lớn cho ngân sách nhà nước và tài sản của nhân dân. Đề nghị Nhà nước tiếp tục có cuộc khảo sát, kiểm tra tiến độ thi công các công trình xây dựng cơ bản, nhất là các công trình lớn có nguồn kinh phí đầu tư từ trung ương, từ đó tìm ra nguyên nhân, đưa ra giải pháp phù hợp.”

Trả lời (tại Công văn số 827/BXD-XL ngày 23/4/2007):

Với chức năng quản lý nhà nước của mình, Bộ Xây dựng thấy rằng trong những năm qua có nhiều công trình xây dựng trong đó có những công trình lớn đã hoàn thành đúng tiến độ xây dựng, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, cũng còn không ít công trình xây dựng, trong đó có công trình cầu, đường, xây dựng kiên cố hoá trường lớp học ở các địa phương vẫn xảy ra tình trạng thực hiện chậm tiến độ như Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bến Tre đã nêu. Những công trình chậm tiến độ do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ yếu là: công tác giải phóng mặt bằng, việc bố trí vốn và giải ngân chưa kịp thời, công tác tổ chức đấu thầu, trong đó không thể tránh khỏi nguyên nhân do công tác tổ chức, điều hành, quản lý thực hiện dự án và sử dụng các nhà thầu không đảm bảo năng lực. Việc thực hiện chậm tiến độ ở một số công trình đã làm tăng chi phí cho công tác quản lý và thực hiện dự án dẫn đến ảnh hưởng chất lượng công trình, lãng phí, gây ảnh hưởng môi trường, giảm hiệu quả đầu tư của dự án.

Công trình xây dựng, đặc biệt là công trình lớn có thời gian xây dựng dài, nên tổng mức đầu tư cho cá dự án đã được phê duyệt khi tính toán chưa lường hết được những phát sinh về giá nguyên vật liệu, nhân công, đặc biệt là công trình có sử dụng các máy móc, thiết bị công nghệ mới, công trình có sử dụng ngoại tệ bị ảnh hưởng bởi tỷ giá hối đoái…. Do vậy, khi có các biến động về giá cả và tỷ giá hối đoái thì chi phí cho dự án đòi hỏi phải điều chỉnh lại cho phù hợp với thực tế. Những việc điều chỉnh này ít nhiều đã gây ảnh hưởng đến tiến độ của dự án, tăng thêm chi phí cho dự án. Đây cũng là tồn tại mà ngành xây dựng đang nghiên cứu để khắc phục tình trạng này.

Theo kiến nghị của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bến Tre và với chức năng quản lý nhà nước của mình, hiện nay Bộ Xây dựng đang tiếp tục tiến hành thanh tra, kiểm tra việc thực hiện ở một số dợ án đầu tư xây dựng, trong đó có xem xét đến tiến độ thực hiện của các dự án này để kiến nghị thức đẩy tiến độ thực hiện dự án, đồng thời tìm ra những nguyên nhân để có những biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng này.



2/ Cử tri tỉnh Quảng Ngãi kiến nghị:Về phân cấp quản lý dự án đầu tư xây dựng, hiện nay tỉnh Quảng Ngãi có nhiều dự án xây dựng thuộc ngành Y tế đang triển khai tại một số huyện nhưng do trung ương làm chủ đầu tư. Trong quá trình thực hiện dự án, các vấn đề phát sinh được xử lý rất chậm do gặp nhiều khó khăn về thủ tục làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công. Các dự án thuộc ngành khac do các cơ quan quản lý ngành cấp trung ương làm chủ đầu tư tại địa phương cũng gặp phải vấn đề trên. Đề nghị Chính phủ nên giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh làm chủ đầu tư, cấp trung ương chỉ nên quản lý về quy hoạch ngành và kế hoạch hàng năm, tạo điều kiện đảm bảo chất lượng và nhanh chóng hoàn thành công trình.”

Trả lời (tại Công văn số 825/BXD-XL ngày 23/4/2007):

Ngày 29/9/2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2006/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Tại khoản 1 Điều 1 của Nghị định này đã quy định chủ đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách do Nhà nước do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Do vậy, căn cứ quy định nêu trên thì các dự án thuộc cơ quan trung ương quản lý được đầu tư xây dựng ở các địa phương thì chủ đầu tư các dự án phải trực thuộc cơ quan quyết định đầu tư ở trung ương.

Đơn vị giao làm chủ đầu tư các dự án phải có trách nhiệm tổ chức thực hiện dự án theo đúng quy định hiện hành đảm bảo tiến độ, chất lượng và hiệu quả. Các cơ quan liên quan và các tổ chức ở địa phương có quyền giám sát việc thực hiện dự án của các chủ đầu tư, phản ánh tới cơ quan quyết định đầu tư và cấp có thẩm quyền để xử lý những vi phạm của chủ đầu tư các dự án được đầu tư xây dựng tại địa phương.

3/ Cử tri tỉnh Nghệ An kiến nghị: ‘Tăng cường biện pháp quản lý trong việc đấu thầu và quá trình thẩm định các dự án đầu tư xây dựng công trình. Hiện nay công tác đấu thầu, thẩm định vẫn còn hình thức nên dẫn đến thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong lĩnh vực này.”

Trả lời (tại Công văn số 826/BXD-XL ngày 23/4/2007):

Công tác đầu tư xây dựng trong những năm qua đã đạt được những tiến bộ rõ rệt, nhiều dự án đưa vào sử dụng đã phát huy hiệu quả, năng lực của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng đã được nâng lên. Các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng đã được sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng ở một số nơi, một số dự án vẫn còn hiện tượng tiêu cực gây thất thoát, lãng phí tiền của của Nhà nước. Qua kiểm tra, thanh tra một số dự án đã phát hiện được tình trạng thất thoát, lãng phí ở những mức độ khác nhau và diễn ra ở tất cả các khâu của quá trình đầu tư xây dựng trong đó có xảy ra ở khâu thẩm định phê duyệt dự án và tổ chức đấu thầu như Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh NGhệ An nêu. Tình trạng bỏ thầu giá thấp đã ảnh hưởng đến chất lượng công trình, phát sinh khối lượng dẫn đén kéo dài tiến độ. Hiện tượng thông đồng, móc ngoặc, dàn xếp mua bán thầu chưa được khắc phục triệt để gây thất thoát lãng phí. Đầu tư còn dàn trải không theo quy hoạch dẫn đến kéo dài thời gian thực hiện dự án, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế – xã hội. Các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương đặc biệt là ở cấp huyện, xã còn thiếu, không đủ năng lực để quản lý các khâu trong quá trình đầu tư xây dựng.

Để khắc phục những tồn tại trong cơ chế, chính sách đồng thời hạn chế thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng, ngày 26/11/2003 Quốc hội đã thông qua Luật Xây Dựng nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các chương trình, dự án đầu tư xây dựng đặc biệt là các dự án có sử dụng vốn Nhà nước, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng, mà cá nhân được giao làm chủ đầu tư các dự án vốn Nhà nước là người phải chịu trách nhiệm toàn diện về hiệu quả, chất lượng của dự án, cụ thể:

- Đối với chủ đầu tư các công trình có vốn nhà nước phải có trách nhiệm lựa chọn tư vấn đủ năng lực lập dự án, quản lý thực hiện dự án và phải chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư, chất lượng công trình xây dựng; bồi thường thiệt hại nếu do lỗi của mình gây ra.

- Đối với nhà thầu tư vấn và nhà thầu thi công xây lắp khi hoạt động phải có đủ các điều kiện năng lực theo quy định; chỉ được tham gia dự thầu các công trình phù hợp với năng lực đã đăng ký. Các cá nhân giữ vai trò chủ chốt như chủ nhiệm đề án, chủ trì khảo sát thiết kế, giám sát xây dựng phải có chứng chỉ hành nghề chuyên môn. Các chức danh như chủ nhiệm đồ án, giám đốc điều hành dự án, chỉ huy trưởng công trường, kỹ sư trưởng công trường phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện năng lực theo quy định. Cá nhân phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm của mình; phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu các pháp nhân này.

- Đối với cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng, người có thẩm quyền quyết định đầu tư phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình.

- Quy định các điều kiện trong giao nhận thầu, kiên quyết xử lý các trường hợp thông đồng, móc ngoặc, dàn xếp mua bán thầu; nhà thầu trúng thầu phải đáp ứng các điều kiện của hồ sơ mời thầu và có giá dự thầu hợp lý không thấp hơn giá thành; các quy định về giám sát, nghiệm thu công trình cũng như tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong xây dựng. Đặc biệt nâng cao vai trò và trách nhiệm của các cá nhân thực hiện các công việc này.

Hiện nay, về cơ bản các quy định của pháp luật liên quan đến quản lý đấu thầu cũng như quản lý dự án đầu tư xây dựng đã có tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn có nơi chưa thực hiện nghiêm túc các quy định này, Bộ Xây dựng sẽ phối hợp với các cơ quan và địa phương tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra để xử lý và chấn chỉnh công tác này thực hiện tốt hơn,

4/ Cử tri tỉnh Long An kiến nghị: “Đề nghị Bộ xây dựng sửa đổi Thông tư 03/2005/TT-BXD theo hướng chỉ áp dụng việc điều chỉnh đơn giá nhân công từ ngày 01/10/2004 cho các công trình giao nhận thầu trọn gói, đối với công trình giao thầu có điều chỉnh giá nên áp dụng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực để tránh gây khó khăn cho địa phương khi tính lại đơn giá cũ”

Trả lời (tại Công văn số 856/BXD-KTTC ngày 24/4/2007):

Thực hiện Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về quy định hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các công ty nhà nước, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 03/2005/TT-BXD ngày 04/3/2005 hướng dẫn điều chỉnh dự toán công trình xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước và được áp dụng điều chỉnh dự toán xây dựng công trình cho những khối lượng thi công thực hiện từ ngày 01/10/2004 theo quy định của Thông tư này. Để có sự thống nhất về quản lý chi phí đầu tư xây dựng trong toàn quốc và đảm bảo quyền lợi chung đối với người lao động, Thông tư đã hướng dẫn:

Đối với hợp đồng có điều chỉnh giá (kể cả phương thức đấu thầu và chỉ định thầu) việc điều chỉnh dự toán xây dựng công trình cho những khối lượng thi công thực hiện từ ngày 01/10/2004 được xác định bằng hệ số điều chỉnh chi phí nhân công (KNC) , chi phí máy thi công (KMTC) tương ứng với từng thời điểm có mức lương tối thiểu trong đơn giá xây dựng cơ bản địa phương nên không phải tính lại đơn giá cũ.

Đối với hợp đồng trọn gói mà trong hợp đồng các bên không có sự thoả thuận về điều chỉnh giá trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng thì cũng được áp dụng điều chỉnh dự toán như trường hợp trên. Trường hợp trong hợp đồng trọn gói các bên có sự thoả thuận không điều chỉnh giá trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng thì chủ đầu tư và nhà thầu có thể thương thảo bổ sung hợp đồng để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

Sở Xây dựng tỉnh Long An là cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân quản lý nhà nước ngành xây dựng tại địa phương, vấn đề còn có vướng mắc, Sở Xây dựng tỉnh Long An chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan của địa phương báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh để tổ chức thực hiện.

5/ Cử tri thành phố Hải Phòng kiến nghị: “Các chế tài xử lý vi phạm trong xây dựng còn quá thấp, không đủ sức răn đe dẫn đến tình trạng xây nhà không phép, xây nhà vượt quá quy hoạch, chỉ giới trong thời gian qua như một số trường hợp ở thành phố hà Nội và các địa phương khác và đề nghị Nhà nước cần tăng cường các biện pháp xử lý, từng mức phạt không tính theo vụ việc mà tỉnh theo mét vuông vi phạm.”

Trả lời (tại Công văn số 994/BXD-TTr ngày 16/5/2007):

Bộ Xây dựng đồng tình với ý kiến của các cử tri là mức xử phạt theo Ngị định số 126/2004/NĐ-CP ngày 26/5/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà (gọi tắt là Nghị định 126/CP) là quá thấp. nếu áp dụng mức xử phạt của Nghị định 126/CP đối với một số sai phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian vừa qua như tại số 4 phố Đặng Dung, số 9 Đào Duy Anh, số 2 ngõ 31 Nguyễn Chí Thanh và một số công trình khác thì mức xử phạt nêu trên không còn ý nghĩa.

Mức xử phạt quy định tại Nghị định 126/CP phải phù hợp với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, không được vượt quá 70 triệu đồng. Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã không quá 500.000 đồng, thanh tra viên không quá 200.000 đồng.

Nghị định 126/CP được ban hành trước khi Luật Xây dựng có hiệu lực, vì vậy một số hành vi chưa được quy định trong Nghị định hoặc chưa thực sự phù hợp với thực tiễn hoạt động xây dựng. Trong Luật xây dựng đã quy định có nhiều hình thức xử lý đối với những công trình xây dựng vi phạm như không cung cấp điện, nước cho công trình xây dựng vi phạm; bồi thường thiệt hại; khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây nên… Tuy nhiên, những quy định này hiện nay chưa được cụ thể hoá. Để đáp ứng yêu cầu bức xúc về tăng cường quản lý trật tự xây dựng đô thị hiện nay, Bộ Xây dựng đang soạn thảo trình Chính phủ ban hành nghị định hướng dẫn Điều 10, Điều 67, Điều 86, Điều 94 và Điều 120 Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng. Bộ Xây dựng cũng đang tiếp tục nghiên cứu sửa đổi Nghị định 126/CP, sau khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được Uỷ ban thường vụ Quốc hội sửa đổi và ban hành.

Vì vậy, đề xuất mức xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng tính theo quy mô công trình, Bộ Xây dựng sẽ nghiên cứu, lấy ý kiến các bộ, ngành và địa phương trong quá trình sửa đổi Nghị định 126/CP để hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành.

6/ Cử tri các tỉnh Phú Thọ, Khánh Hoà, Tiền Giang kiến nghị: ‘Tình trạng thất thoát dẫn đến không đảm bảo chất lượng các công trình xây dựng cơ bản và nhiều đoạn tuyến đường giao thông. Đề nghị quản lý chặt chẽ hơn công tác đấu thầu và quản lý xây dựng cơ bản, ràng buộc thật rõ trách nhiệm của cả chủ đầu tư và đơn vị thi công về việc đảm bảo chất lượng công trình. Kiểm tra thường xuyên và kiên quyết xử lý vi phạm trong lĩnh vực này.”

Trả lời (tại Công văn số 1040/BXD-PC ngày 21/5/2007):

Công tác đầu tư xây dựng những năm qua đã đạt được những tiến độ rõ rệt, nhiều dự án đưa vào sử dụng đã phát huy hiệu quả, năng lực của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng đã được nâng lên. các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng đã được sửa đổi, bổ sung lịp thời, phù hợp với tình hình thực tế.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình ở một số nơi vẫn còn hiện tượng tiêu cực gây thất thoát, lãng phí. Qua kiểm tra, thanh tra ở một số dự án đã phát hiện được tình trạng thất thoát, lãng phí ở những mức độ khác nhau và diễn ra ở tất cả các khâu của quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình, trong đó có xảy ra ở khâu thẩm định phê duyệt dự án và tổ chức đấu thầu như Đoàn đại biểu các tỉnh Phú Thọ, Khánh Hoà, Tiền Giang đã nêu. Tình trạng các nhà thầu trúng thầu bỏ giá thấp đã ảnh hưởng đến chất lượng công trình, phát sinh khối lượng dẫn đến kéo dài tiến độ. Hiện tượng thông đồng, móc ngoặc, dàn xếp, mua bán thầu chưa được khắc phục triệt để gây thất thoát, lãng phí. Đầu tư còn dàn trải không theo quy hoạch dẫn đén kéo dài thời gian thực hiện dự án, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội. Các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, đặc biệt là ở cấp huyện, xã còn thiếu, không đủ năng lực để quản lý các khâu trong quá trình đầu tư xây dựng.

Để khắc phục những tồn tại trong cơ chế, chính sách đồng thời hạn chế thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng công trình, ngày 26/11/2003 Quốc hội đã thông qua Luật Xây dựng, Chính phủ đã ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành luật, trong đó có Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đói với chất lượng công trình xây dựng, đặc biệt là các dự án đầu tư xây dựng có sử dụng vốn nhà nước, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng, mà người được giao làm chủ đầu tư các dự án vốn nhà nước là người phải chịu trách nhiệm toàn diện về hiệu quả, chất lượng của dự án, cụ thể:

- Đối với chủ đầu tư các công trình có vốn nhà nước phải có trách nhiệm lựa chọn tư vấn đủ năng lực lập dự án, quản lý thực hiện dự án và chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư, chất lượng công trình xây dựng; bồi thường thiệt hại nếu do lỗi mình gây ra.

- Đối với nhà thầu tư vấn xây dựng và nhà thầu thi công xây lắp khi hoạt động phải có đủ các điều kiện năng lực theo quy định; chỉ được tham gia dự thầu các công trình phù hợp với năng lực đã đăng ký. Các cá nhân giữ vai trò chủ chốt như chủ nhiệm đồ án; chủ trì khảo sát, thiết kế; giám sát xây dựng phải có chứng chỉ hành nghề chuyên môn. Các chức danh như chủ nhiệm đồ án, giám đốc điều hành dự án, chỉ huy trưởng công trường phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện năng lực theo quy định. Cá nhân phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm của mình; phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu các pháp nhân này.

- Đối với cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng, người có thẩm quyền quyết định đầu tư phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình.

- Quy định các điều kiện trong giao nhận thầu, kiên quyết xử lý các trường hợp thông đồng, móc ngoặc, dàn xếp mua bán thầu; nhà thầu trúng thầu phải đáp ứng các điều kiện của hồ sơ mời thầu và có giá dự thầu hợp lý không thấp hơn giá thành; các quy định về giám sát, nghiệm thu công trình cũng như tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong xây dựng. Đặc biệt nâng cao vai trò trách nhiệm của các cá nhân thực hiện các công việc này.

Thời gian qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý đấu thầu và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình đã được củng cố và hoàn thiện không ngừng, cụ thể: Luật xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu và các nghị định, thông tư, quyết định hướng dẫn thi hành các luật nói trên. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn có nơi xảy ra những vi phạm như đại biểu nêu. Bộ Xây dựng đã và sẽ phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nhân dân biết, tham gia và giám sát nhằm phát huy hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra các cấp, công khai các vi phạm bằng mọi hình thức nhằm đẩy lùi, hạn chế tối đa các hành vi tiêu cực, ảnh hưởng đến hình ảnh của ngành xây dựng nói chung và hiệu quả dự án đầu tư xây dựng nói riêng, đặc biệt là dự án đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước.




1   ...   11   12   13   14   15   16   17   18   ...   21


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương