Tính cấp thiết của đề tài


Đề xuất giải pháp bảo tồn ĐDSH cho dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình



tải về 1.21 Mb.
trang17/18
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích1.21 Mb.
1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   18

3.4. Đề xuất giải pháp bảo tồn ĐDSH cho dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình


Dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hoà Bình là nơi trú ngụ của đồng bào dân tộc thiểu số, là khu vực có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và tiềm năng du lịch rất lớn, nơi đây được đánh giá là khu vực độc đáo của Quốc gia Việt Nam nói riêng và trên toàn cầu nói chung. Trước đây do các hoạt động chặt phá, phát quang rừng lấy gỗ, củi và lấy đất canh tác làm nương rẫy, săn bắt động vật hoang dã của rừng đã làm cho tài nguyên rừng ở đây bị thu hẹp nhiều. Các hoạt động của người dân như thu hái lâm sản, lấy củi đốt, chăn thả gia súc và phát nương rẫy vẫn còn, do nhu cầu đời sống của con người ngày càng cao nên đã tác động ngày càng nhiều vào rừng, rừng ở nơi đây không ngừng giảm về số lượng và chất lượng. Bên cạnh đó, nguồn lực quản lý thiếu về lực lượng và hạn chế về chuyên môn, cộng với phương pháp và chiến lược bảo vệ rừng chưa rõ ràng vì thế việc giám sát tài nguyên ĐDSH chưa đạt được hiệu quả. Tuy nhiên, khoảng 8 năm trở lại đây, từ khi bắt đầu thành lập Khu BTTN Ngọc Sơn -Ngổ Luông (2004), mức độ chặt phá rừng đã giảm nhiều, rừng đã và đang tái sinh phục hồi trở lại.

Căn cứ vào tài nguyên ĐDSH và thực trạng công tác quản lý và bảo tồn tại khu vực dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình, chúng tôi đề xuất một số giải pháp bảo tồn và PTBV ĐDSH như sau:


3.4.1. Nhóm giải pháp chiến lược


Với tài nguyên ĐDSH đã phân tích ở trên và thực trạng công tác quản lý, bảo tồn tại khu vực: (1) đội ngũ cán bộ chuyên môn của BQL vừa thiếu về số lượng lại vừa hạn chế về chuyên môn; (2) mối quan hệ giữa lực lượng kiểm lâm và các bên tham gia khác còn lỏng lẻo, đặc biệt là đối với cộng đồng và chính quyền địa phương, chúng tôi đề xuất giải pháp chiến lược như sau:

  1. Lồng ghép giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong khu vực

Theo quyết định số: 57/QĐ-TTg về việc Phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011- 2020 của Thủ tướng Chính Phủ ngày 09/01/2012 có quy định rằng nên lồng ghép kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn ĐDSH với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chương trình, dự án khác trên cùng địa bàn để nâng cao hiệu quả tổng hợp về kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh, quốc phòng và phát triển sinh kế cho người dân địa phương [23].

Mặt khác, sự thành công hay thất bại của nhiều chính sách kinh tế xã hội khác nhau cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác bảo tồn và mang tính đặc thù trong các giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước. Bên cạnh đó, người dân sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng nên việc gắn kết quyền lợi kinh tế của người dân với quyền lợi bảo vệ rừng là hết sức quan trọng. Dải núi đá vôi phía Tây Nam Hòa Bình là nơi sinh sống của cộng đồng dân tộc thiểu số. Do đó việc lồng ghép giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong vùng phải chú ý đến đặc thù dân tộc, truyền thống văn hóa và kinh nghiệm bản địa của họ trong việc sử dụng tài nguyên.



  1. Xây dựng mô hình “đồng quản lý” trong công tác bảo tồn ĐDSH

Nhằm quản lý, bảo tồn sử dụng bền vững tài nguyên ĐDSH tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới, chúng tôi đề xuất giải pháp chiến lược cho công tác quản lý và bảo tồn là xây dựng mô hình “đồng quản lý” trong công tác bảo tồn ĐDSH ở đây. Cũng theo quyết định số: 57/QĐ-TTg về việc Phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011- 2020 của Thủ tướng Chính Phủ ngày 09/01/2012 có quy định rằng “Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp nhà nước triển khai thực hiện cơ chế đồng quản lý với cộng đồng dân cư địa phương trên cơ sở cùng chia sẻ trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và cùng hưởng lợi ích từ rừng trên cơ sở đóng góp của các bên. Từ nay đến năm 2014 thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích tại một số khu rừng đặc dụng theo hướng chuyển căn bản từ hình thức nhà nước kiểm soát hoàn toàn công tác bảo vệ rừng sang nhiều hình thức cùng quản lý, trong đó các cộng đồng địa phương chia sẻ trách nhiệm quản lý và lợi ích thu được với các cơ quan nhà nước”. Theo đó tỉnh Hòa Bình, đặc biệt dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình nên tranh thủ áp dụng mô hình thí điểm về đồng quản lý ở vùng này theo như Quyết định của Thủ tướng để tiếp tục góp phần bảo vệ rừng, đa dạng sinh học, đảm bảo sinh kế của người dân địa phương, đồng thời góp phần hoàn thiện thể chế, chính sách đồng quản lý

Đồng quản lý là vấn đề không còn mới mẻ ở trên thế giới. Đã có nhiều chương trình thành công ở Châu Á, Phi và Mỹ La tinh. Trong đồng quản lý vai trò của người dân địa phương được xác lập như một chủ thể tích cực đối với công tác quản lý bảo tồn ĐDSH bởi vì họ là những người sống trong và xung quanh khu BTTN. Các hoạt động của họ có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tài nguyên rừng và sinh cảnh của các loài động vật rừng. Chiến lược đề ra là làm sao để người dân địa phương, chính quyền các cấp, BQL khu bảo tồn, Hạt kiểm lâm và các đơn vị có liên quan có thể cùng nhau xây dựng được một chương trình phát triển bền vững, kết hợp được những kiến thức bản địa, luật tục truyền thống của người dân như thừa kế mô hình quản lý rừng cộng đồng hiện đang tồn tại rất hiệu quả ở các thôn bản, với những giải pháp về bảo tồn và phát triển kinh tế- xã hội.



  1. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn ĐDSH

Do cộng đồng dân cư hiện đang sinh sống xung quanh khu vực là đồng bào dân tộc thiểu số (người Thái và người Mường), trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu, nhận thức về bảo tồn ĐDSH còn nhiều hạn chế. Vì vậy, Cần đảm bảo công tác tuyên truyền giáo dục đến tận người dân nhằm nâng cao sự hiểu biết về giá trị các nguồn tài nguyên, giá trị về môi trường sinh thái đối với con người và xã hội. Để làm được điều này đòi hỏi cần có sự quan tâm của các cấp, các ngành. Nội dung tuyên truyền phải phong phú, đa dạng, phù hợp, dễ hiểu, đồng thời công tác tuyên truyền phải có tính sâu rộng và có ý nghĩa sát thực đối với người dân, triển khai công tác xây dựng tài liệu sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như đài báo, áp phích, tờ rơi nêu giá trị của các loài và ý nghĩa của việc bảo tồn ĐDSH để tuyên truyền trong nhân dân, giáo dục trong trường học, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về bảo vệ rừng, hướng dẫn người dân xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ rừng, tuyên truyền luật bảo vệ và phát triển rừng. Công tác nâng cao cộng đồng không thể thực hiện ngày 1 ngày 2, vì vậy cần có 1 chiến lược cụ thể và được thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần từ đó sẽ nâng cao được nhận thức, ý thức và thái độ của cộng đồng nhằm bảo vệ tài nguyên ĐDSH được tốt hơn.

Việc giải quyết những vấn đề về bảo tồn ĐDSH hiện nay và mai sau còn phụ thuộc vào trình độ nhận thức của những người hoạch định chính sách, cũng như phụ thuộc vào trình độ dân trí, thái độ và hành vi của mọi tầng lớp trong xã hội. Dự án PLCP đã hỗ trợ chương trình nâng cao nhận thức về bảo tồn thiên nhiên rất hiệu quả ở xã Nam Sơn và Ngọc Sơn. Vì vậy, chương trình này cần được nhân rộng đối với các xã còn lại và được lặp đi lặp lại nhiều lần với các cách tiếp cận khác nhau ở tất cả các xã trong khu vực.

Để thực hiện được giải pháp chiến lược nêu trên, chúng tôi xin đề xuất các nhóm giải pháp ưu tiên cụ thể như sau:

      1. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách

  1. Xây dựng các văn bản pháp luật:
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình cần tiến hành rà soát lại toàn bộ văn bản pháp luật có liên quan, để từ đó xây dựng một định hướng chiến lược lâu dài cho khu vực dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hoà Bình nói riêng và các Khu BTTN trong tỉnh nói chung. Tăng cường các biện pháp quản lý hành chính và thực thi pháp luật để ngăn chặn các hoạt động săn bắt, khai thác gỗ trái phép. Xây dựng các chế tài, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm để làm gương cho những trường hợp khác.
  1. Chính sách tài chính và đầu tư cho bảo tồn ĐDSH:

Tài chính thiếu hụt và không ổn định đã gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý, bảo tồn rừng trong bối cảnh sức ép của hoạt động phá rừng trái phép ngày càng gia tăng. Vì vậy, UBND tỉnh Hòa Bình cần hỗ trợ về cơ chế vốn đầu tư cho khu vực thông qua đầu tư từ ngân sách Nhà nước. Thu hút các tổ chức bảo tồn trong và ngoài nước, tạo điều kiện pháp lý, hỗ trợ các chương trình, dự án bảo tồn cho khu vực. Để làm được điều đó khu vực cần có các đề xuất cụ thể về quy hoạch bảo tồn ĐDSH, điều tra đánh giá các loài quan trọng ưu tiên giám sát. Có như vậy, khu vực dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình mới được quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững.

Một chính sách đầu tư quan trọng cho công tác quản lý, bảo vệ rừng đó là khuyến khích phát triển du lịch sinh thái nhằm tạo thêm nguồn thu, bù đắp chi phí, tăng thu nhập cho lực lượng quản lý, bảo vệ rừng. Đây là khu vực có HST rừng núi đá vôi độc đáo, tài nguyên động thực vật phong phú, có các quang cảnh đẹp như thác Mơ, động Nam Sơn và một số rừng tự nhiên hùng vĩ… Để nâng cao thu nhập và tạo thêm công ăn việc làm cho người dân cần phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo ra các sản phẩm phục vụ du khách, hoạt động như giao lưu văn hóa giữa người dân địa phương và khách du lịch, lập ra các chi hội quản lý du lịch bằng người địa phương.


  1. Chính sách hỗ trợ cho người dân:

Đời sống của đại đa số người dân trong khu vực còn gặp nhiều khó khăn, sự phụ thuộc vào rừng là không thể tránh khỏi. Do đó, việc hỗ trợ xây dựng mô hình vườn sinh kế - đa năng, đa tác dụng với mục tiêu tạo sinh kế bền vững phối hợp với nhu cầu hộ gia đình thông qua hoạt động hỗ trợ kỹ thuật cho người dân là một trong những giải pháp có ý nghĩa tích cực. Đồng thời hỗ trợ chính sách đào tạo nghề, hỗ trợ việc làm ổn định cho thanh niên nông thôn với mục tiêu hướng tới đối tượng thanh niên nhàn rỗi, đối tượng đi làm thuê tại địa phương hiện nay nhằm góp phần giảm nghèo. Đầu tư phát triển thế mạnh của vùng, nhân rộng mô hình đã có hiệu quả như phát triển nghề cá Dầm xanh là đặc sản tại xã Vạn Mai, chăn nuôi Lợn rừng, Lợn mán, Nhím tại xã Pù Bin. Đối với dân tộc thiểu số có trình độ văn hóa và sức khoẻ, có nhu cầu làm việc trong các doanh nghiệp của huyện, tỉnh, cần được hỗ trợ đào tạo nghề miễn phí. Đồng thời gắn trách nhiệm của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, huyện, xã với việc sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ.

Bên cạnh đó, cần nghiên cứu và lựa chọn để thực hiện chính sách về xóa nhà tạm cho người nghèo, neo đơn. Đồng thời quản lý chặt việc cấp phép đối với khai thác gỗ một lần tại rừng để làm nhà sàn, nhằm tránh việc khai thác bừa bãi các loài cây gỗ quý. Bên cạnh đó, tìm kiếm những nguyên liệu khác như biogas để thay thế cho nguồn nhiên liệu củi từ rừng.



      1. Nhóm giải pháp về phát triển kinh tế- xã hội

Cộng đồng dân cư trong khu vực chủ yếu là người dân tộc thiểu số, họ là một trong những thành phần quan trọng có ảnh hưởng đến sự biến động của tài nguyên rừng và ĐDSH. Kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng chi phối đời sống sinh hoạt của người dân. Vì thế, để làm tốt công tác bảo tồn ĐDSH việc phát triển kinh tế tạo nguồn thu nhập thay thế, ổn định và nâng cao đời sống cho cộng đồng dân cư sống trong và xung quanh khu vực dải núi đá vôi nhằm giảm bớt sự phụ thuộc của con người vào tài nguyên rừng là hết sức cần thiết.

  1. Quy hoạch sử dụng đất:

Qui hoạch các khu canh tác nông nghiệp, khu chăn thả gia súc (trồng cỏ cao sản), nông lâm kết hợp (thiết lập hệ thống nông lâm kết hợp trên đất lâm nghiệp giao cho hộ dân). Hệ thống này phải nhằm nhiều mục đích và sử dụng nhiều loài cây khác nhau như các loài cho gỗ củi, gỗ xây dựng, cây lâm nghiệp địa phương, cây ăn quả, cây cho lâm sản ngoài gỗ và cây nông nghiệp, kiểm soát việc tưới tiêu. Quy hoạch tổ chức lại sản xuất nông lâm nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi, mở mang nhiều ngành nghề dịch vụ tạo thu nhập cho người dân.

  1. Canh tác bền vững trên đất dốc:

Cây ngô và cây hoa màu khác ở khu vực chủ yếu được canh tác trên các triền đồi và núi dốc rất dễ gây xói mòn và bạc màu. Vì thế để đảm bảo năng suất cây trồng và ngăn ngừa xói mòn, các kĩ thuật canh tác nông lâm kết hợp và canh tác trên đất dốc (SALT) cần được áp dụng.

  1. Trồng cây lâm nghiệp mọc nhanh để tạo lập rừng trồng:

Qua đánh giá nhanh bằng bảng hỏi, phỏng vấn và bằng mắt thường ở khu vực nghiên cứu, các loài cây trồng như: Luồng, Vầu, Lát hoa và Xoan ta phát triển rất tốt, vì thế cần được phát triển với diện tích lớn hơn. Các loài cây Luồng và Vầu nên trồng ở các diện tích gần các khe, suối nơi không phù hợp với cây nông nghiệp, và không nên trồng ở các quả đồi núi quá cao. Cây Xoan có thể trồng được ở các thung lũng đá vôi và cả các sườn núi thấp. Loài cây Keo không nên trồng ở các nơi có độ cao lớn như ở xã Nam Sơn và Bắc Sơn vì không phù hợp với điều kiện sinh thái ở các khu vực này, nhưng có thể trồng ở các xã vùng thấp hơn như Ngọc Lâu, Ngọc Sơn và Tân Mỹ. Phát triển cây công nghiệp (như cây Cà phê) cũng là một hướng tốt nhưng chỉ nên trồng ở các Xã Ngọc Lâu và Ngọc Sơn.

  1. Xây dựng các mô hình trình diễn:

Thử nghiệm, lựa chọn các loại giống cây trồng cho năng suất, sản lượng cao, áp dụng các tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất của người dân, đặc biệt quan trọng đối với các loại cây nông nghiệp chủ đạo trong khu vực để tăng sản lượng lương thực (như cây lúa, ngô), giảm sự phụ thuộc tối đa của người dân vào tài nguyên thiên nhiên. Cần nhân rộng mô hình trồng Ngô VN10 ở các xã còn lại trong khu vực.

  1. Phát triển vườn hộ:

Ở khu vực đã có một số mô hình phát triển vườn hộ đem lại hiệu quả cao bằng các loài rau và cây ăn quả có giá trị, và cây đặc sản như Su su, Mướp đắng, Cam quýt bản địa và một số loài hoa đặc biệt là ở các xã vùng cao như Nam Sơn, Bắc Sơn. Vì vậy việc nhân rộng và phát triển vườn cây ăn quả như thế là việc làm cần thiết để cải thiện lương thực và đảm bảo sinh kế cho cộng đồng.

  1. Phát triển trồng cây lâm sản ngoài gỗ:

Trồng một số loài cây LSNG ở khu vực là các cây dược liệu như Nhớt nháo và Xạ đen, Sa nhân… với mục đích thương mại thay cho việc chỉ khai thác từ rừng tự nhiên. Các loài cây này có thể trồng dưới tán rừng, và có thể phát triển ở các xã như Ngổ Luông, Tự Do, Ngọc Sơn và Pù Bin.

  1. Phát triển chăn nuôi:

Cho người nghèo vay ưu đãi bằng hiện vật bằng việc thành lập “ngân hàng bò, ngân hàng lợn” phát triển chăn nuôi; Quy hoạch và phát triển đồng cỏ để tiến hành chăn nuôi với quy mô lớn. Các diện tích đất chưa sử dụng cần được trồng cỏ để tạo nguồn thức ăn chủ động cho gia súc; Thiết lập mạng lưới dịch vụ thú y ở khu vực để đảm bảo việc chăn nuôi gia súc và gia cầm phát triển tốt. Tạo điều kiện, cơ chế khuyến khích người làm dịch vụ thú y như: Trả một khoản lương/trợ cấp hàng tháng cho các thú y viên, cần có cơ chế khoán sản phẩm để khuyến kích họ (trả theo tỷ lệ nào đó về số lượng trâu bò mà họ đã chăm sóc và chữa trị tốt). Nguồn kinh phí cho các hoạt động này cần được giám sát bởi BQL và chính quyền sở tại .

  1. Tập huấn chuyển giao kỹ thuật, dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm:

Hoạt động khuyến nông, khuyến lâm cần chú trọng về hỗ trợ kỹ thuật công nghệ. Ứng dụng, nhân rộng kết quả các mô hình thí điểm ra diện rộng. Cán bộ khuyến nông, khuyến lâm phải có đủ năng lực và thường xuyên hoạt động tại các thôn bản để hướng dẫn cộng đồng kỹ thuật trồng chăm sóc các loại cây trồng, kỹ thuật chăn nuôi, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh, dịch bệnh cho các loại cây trồng, vật nuôi. Các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm ngoài việc phổ biến, chuyển giao kỹ thuật công nghệ, cần chú ý các hoạt động bồi dưỡng kiến thức bằng các khóa tập huấn mà có sử dụng các dụng cụ trực quan và tăng thời gian thực hành ngay tại mô hình để dân hiểu rõ hơn.

  1. Phát triển dịch vụ, du lịch sinh thái:

Việc đầu tư phát triển du lịch tại khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông là việc làm cần thiết, đặc biệt là mô hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa (người Mường, Thái) và xây dựng các nhà dừng chân (Home stay) để tiếp đón du khách. Phát huy tiềm năng ở khu vực có cảnh quan đẹp, có các hang động (động Tiên, Nam Sơn), khí hậu mát mẻ. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình du lịch theo hướng bền vững như du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, trong khu vực dải núi đá vôi. Bên cạnh đó, cần đào tạo hướng dẫn viên là người bản địa, nâng cao chất lượng dịch vụ đặc biệt là các dịch vụ vui chơi và ẩm thực.

3.4.4. Nhóm giải pháp về tổ chức- kỹ thuật


  1. Xây dựng và quy hoạch vùng đệm, kể cả vùng đệm trong khu vực bảo vệ nghiêm ngặt

Cũng như các VQG và KBT khác, Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông được xây dựng trong khu vực sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số, vì thế chịu sức ép hết sức nặng nề từ phía cộng đồng địa phương, những người sống trong hay gần KBT đã nhiều đời có mối liên quan trực tiếp với thiên nhiên trong vùng, cuộc sống của họ lệ thuộc phần lớn vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên ở đây. Để giải quyết những mâu thuẫn giữa nhân dân địa phương và nhiệm vụ bảo tồn, và thực hiện Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về việc tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng cần thiết phải có những biện pháp hữu hiệu, đáp ứng được những nhu cầu trước mắt của họ, nhưng đồng thời cũng đáp ứng được những yêu cầu của bảo tồn. Vì vậy, việc qui hoạch lại KBT và đầu tư, xây dựng và phát triển vùng đệm chính là để giải quyết các khó khăn đó, nhằm nâng cao cuộc sống, tạo thêm công ăn việc làm cho các cộng đồng dân cư địa phương, giảm bớt sức ép lên các khu bảo tồn và đồng thời giáo dục, động viên họ tích cực tham gia vào công tác bảo tồn.

Vùng đệm trong khu vực bảo vệ nghiêm ngặt cần chú trọng và quan tâm trong công tác quản lý bảo tồn, có kế hoạch quy hoạch rõ ràng nhằm bảo toàn nguyên vẹn cảnh quan tự nhiên của khu rừng. Cấm các hoạt động làm thay đổi cảnh quan tự nhiên, giám sát chặt chẽ việc khai thác tài nguyên sinh vật và chăn thả gia súc…



Bên cạnh việc quy hoạch 7 xã thuộc khu vực quản lý của Khu BTTN Ngọc Sơn –Ngổ Luông cần quy hoạch thêm 3 xã (Pù Bin, Noong Luông, Vạn Mai) thuộc huyện Mai Châu. Diện tích Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông còn quá nhỏ hẹp, vị trí như hòn đảo, cách li với các khu vực xung quanh, điều này trái với quy luật bảo tồn. Hơn nữa, đây là những khu vực có nhiều tài nguyên quý, việc liên kết giữa các xã này với KBT có tác dụng mở rộng sinh cảnh và tạo ra sự giao lưu cho các quần thể động thực vật, đặc biệt là các loài thú lớn như Sơn dương, gấu, cầy hương, hoẵng… Bên cạnh đó, hiện nay công tác quản lý bảo tồn nơi đây còn rất lỏng lẻo, tình trạng săn bắt động vật và khai thác nhỏ lẻ vẫn thường xuyên xảy ra không thể kiểm soát được. Ngoài ra, khu vực 3 xã này chưa có cuộc điều tra, nghiên cứu của các tổ chức trong và ngoài nước. Do đó việc mở rộng Khu BTTN Ngọc Sơn- Ngổ Luông sẽ góp phần bảo vệ an toàn hơn TNTN hiện có trong khu vực. Để làm được điều đó, cần vận động sự đồng thuận và huy động sự tham gia của cộng đồng.

  1. Khoanh nuôi bảo vệ và phục hồi rừng:

Rừng thường xanh trên núi đá vôi cần được bảo vệ nghiêm nhặt nhằm giữ lại những khu rừng trên núi đá vôi có sự đa dạng thực vật cao nhất ở Việt Nam. Vùng này cần được quy hoạch là vùng lõi và cần được bảo vệ nghiêm ngặt nhằm bảo tồn sự toàn vẹn của hệ sinh thái núi đá vôi. Đặc biệt là các diện tích rừng ở khu vực Thung Lá Bán, Cối Gạo thuộc xã Tự Do, xóm Bo thuộc xã Ngổ Luông và rừng ở khu vực giáp ranh giữa 2 xã Ngọc Sơn và Ngổ Luông cần phải được tập trung bảo vệ chặt chẽ bởi vì các khu vực này còn khá nhiều loài cây quý hiếm có giá trị bảo tồn cao như Nghiến, Mun. Các diện tích rừng núi đá vôi bị đốt nương làm rẫy và khai thác kiệt cần được bảo vệ nhằm tạo thuận lợi cho quá trình tái sinh tự nhiên. Các diện tích đất rừng xung quanh khu vực vùng lõi cần quy hoạch thành khu phục hồi sinh thái để tạo lập hành lang xanh nối liền giữa khu vực này với các khu bảo tồn lân cận. Trong khu phục hồi sinh thái này, ngoài các diện tích đất thổ cư đất canh tác nông nghiệp, tất cả các diện tích đất rừng không có rừng cần được trồng lại rừng và các diện tích rừng nghèo cần được làm giàu và phục hồi. Xây dựng các diện tích này là rừng hỗn loài khác tuổi với ưu tiên trồng và làm giàu bằng các loài cây bản địa. Vùng phục hồi sinh thái này cần được xây dựng phục vụ hai mục đích chính sau: thứ nhất là tạo hành lanh xanh phục vụ công tác bảo tồn; thứ hai góp phần tạo thu nhập cho người dân địa phương thông qua việc trồng các loài cây lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là các loài cây thuốc có giá trị dưới tán rừng như Lan kim tuyến (Anoetochilus setaceus) và Xạ đen (Ehretia asperula). Tạo điều kiện cho người đân địa phương được phép sự dụng bền vững ở khu vực này như là khai thác các cây trồng họ tự trồng, lấy củi, lấy nấm, rau .v.v. Việc này sẽ góp phần làm giảm áp lực khai thác gỗ đối với vùng lõi.

  1. Tăng cường các hoạt động quan trắc ĐDSH, giám sát các loài quý hiếm

Khu vực dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình là một trong những khu vực có sự ĐDSH cao, có vai trò quan trọng trong HST rừng ở Việt Nam. Tuy nhiên trong những năm gần đây, khu vực này mới nhận được sự quan tâm của các tổ chức trong và ngoài nước. Vì thế cần tạo điều kiện hơn nữa cho việc triển khai các dự án phát triển lâm nghiệp trong khu vực. Thành phần các dự án đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn kĩ thuật nâng cao năng lực cho các hoạt động quản lý, hỗ trợ kinh tế, kỹ thuật để phát triển kinh tế cho các cộng đồng dân cư địa phương.

Quần thể động thực vật tại khu vực dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình có tầm quan trọng trong dãy Pù Luông – Cúc Phương, vì thế cần được quan tâm nghiên cứu giám sát. Để thu thập được thông tin số lượng quần thể, cá thể chính xác nhất, cần thực hiện rất nhiều điểm đếm tại các vị trí lựa chọn ngẫu nhiên, tại tất cả các kiểu sinh cảnh khác nhau, mỗi đợt khảo sát cần thực hiện dài ngày để có thể phát hiện ghi nhận bổ sung các loài trong vùng nghiên cứu. Cần tiến hành những đợt điều tra chuyên biệt để có kết quả đầy đủ hơn về khu hệ động thực vật trong khu vực, đặc biệt cần tập trung vào một số nhóm đặc biệt như Dơi, Linh trưởng, Cá hang động. Thiết kế và triển khai một chương trình bẫy ảnh để giám sát tình trạng quần thể và sự di chuyển theo mùa của các loài thú lớn, từ đó xác định cụ thể tình trạng và phân bố của những loài trọng yếu cần ưu tiên bảo vệ như: Voọc mông trắng, Voọc xám, Niệc nâu, Rùa sa nhân... trong khu vực.



Thực hiện các điều tra, nghiên cứu và giám sát ĐDSH ở các địa điểm ít được thực hiện như Pù Bin, Noong Luông, Vạn Mai của huyện Mai Châu. Cần thu hút các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và cấp nhà nước về ĐDSH nhằm điều tra phát hiện thêm các loài thực vật, đặc biệt là các loài quý hiếm như Nghiến, Mun…và bổ sung các loài mới vào bảng danh lục. Kêu gọi nguồn vốn đầu tư hỗ trợ của các tổ chức trong và ngoài nước để xây dựng các dự án bảo tồn ĐDSH, phát triển nông lâm nghiệp, đặc biệt là các dự án bảo tồn gen cho một số loài động thực vật quý hiếm, loài có trong Sách Đỏ Việt Nam.

  1. Xác định các vùng ưu tiên đối với bảo tồn ĐDSH trong khu vực

Rừng có chất lượng tốt ở khu vực nghiên cứu còn chủ yếu tập trung ở khu vực các xã Tự Do, Ngọc Lâu, Ngọc Sơn và Ngổ Luông và cũng là những khu vực quan trọng kết nối với Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, với nhiều loài động vật hoang dã tập trung như: Voọc mông trắng, Voọc xám, Niệc nâu, Rùa sa nhân... Rừng thường xanh trên núi đá vôi cần được bảo vệ nghiêm ngặt nhằm giữ lại những khu rừng trên núi đá vôi có sự đa dạng thực vật cao ở Việt Nam. Vùng này cần được quy hoạch là vùng lõi và cần được bảo vệ nghiêm ngặt nhằm bảo tồn sự toàn vẹn của hệ sinh thái núi đá vôi. Đặc biệt là các diện tích rừng ở khu vực Thung Lá Bán, Cối Gạo thuộc xã Tự Do, xóm Bo thuộc xã Ngổ Luông và rừng ở khu vực giáp ranh giữa 2 xã Ngọc Sơn và Ngổ Luông cần phải được tập trung bảo vệ chặt chẽ bởi vì các khu vực này còn khá nhiều loài cây quý hiếm có giá trị bảo tồn cao như Nghiến (Excentrodendron
tonkinense), và nhiều loài thực vật có giá trị về dược liệu rất quý như Bát giác liên (Podophyllum
tonkinense), Bảy lá một hoa (Paris chinensis), Đẳng sâm (Codonopsis javanica), Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia), Tắc kè đá (Drynaria bonii), Bình vôi núi đá (Stephania sinica), Kim tuyến đá vôi (Anoectochilus calcareus), Sắn rừng (Agapetes sp.), Dền tòong (Gynostemma pentaphyllum)...Khu vực cần kết hợp với người dân địa phương và các tổ chức nghiên cứu và bảo tồn để lập một chương trình nghiên cứu cây thuốc và các loài thuốc bản địa để bảo tồn và phát triển, tiến đến để xuất bản soạn thảo cuốn cẩm nang sử dụng cây thuốc trong khu vực là vô cùng có ý nghĩa.

  1. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng bảo tồn và chia sẻ lợi ích từ ĐDSH:

Cộng đồng dân tộc ít người thường có cuộc sống gắn bó với rừng, họ có khả năng thay đổi tập quán và kiểm soát các hoạt đông của mình để kìm hãm sự xâm phạm đến rừng. Vì thế cần xây dựng hệ thống quản lý bảo tồn có sự tham gia của người dân, chiến lược đưa ra là để làm sao người dân địa phương, chính quyền các cấp, Ban quản lý KBT, hạt kiểm lâm Mai Châu và các đơn vị liên quan có thể cùng nhau xây dựng được một chương trình phát triển bền vững với những giải pháp vừa bảo tồn TNTN vừa phát triển kinh tế và xã hội. Quản lý chặt chẽ các hoạt động làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, thực hiện công tác bảo vệ tài nguyên rừng, phòng chống cháy rừng, phát hiện bắt giữ và xử lý các hành vi xâm phạm tài nguyên rừng.

Hiện nay cộng đồng sống xung quanh khu vực hầu như ít quan tâm đến công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, đặc biệt là động vật hoang dã. Lý do họ chưa quan tâm một phần vì do nhận thức, phần vì kinh tế khó khăn và phần quan trọng là chưa tạo được cơ chế phù hợp để thúc đẩy họ tham gia bảo tồn tài nguyên quý giá này. Vì vậy, để nâng cao nhận thức và thu hút sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý tài nguyên rừng, tạo cơ hội cho cộng đồng tự nguyện tham gia vào công tác bảo tồn TNTN; lồng ghép các vấn đề bảo tồn vào trong các dự án, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; xây dựng và phát triển các mô hình nông lâm nghiệp kết hợp phù hợp với sinh thái địa phương và đáp ứng các yêu cầu về sản phẩm thị trường.



  1. Làm tốt công tác quản lý rừng tại thôn bản:

Với hình thức tiếp cận truyền thống của cơ quan quản lý là bắt bớ mà không quan tâm vì sao người dân lại phá rừng, trong khi đó đời sống của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn dẫn đến nguy cơ phá rừng ngày càng cao. Vì vậy, để bảo tồn hiệu quả tài nguyên và ĐDSH tại khu vực cần làm tốt công tác quản lý tại vụ bản. Do đó, các huyện cần tăng cường cán bộ kiểm lâm về các xã, đào tạo cán bộ nông lâm, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa để có kỹ năng thực hiện tốt nhiệm vụ trồng, bảo vệ và phát triển rừng. Ưu tiên con em nông dân các dân tộc ít người vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Bồi dưỡng nghiệp vụ cho các lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách, các tổ, các đội bảo vệ rừng cơ sở. Xây dựng và tổ chức thực hiện quy ước bảo vệ, phát triển rừng tại thôn bản nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ rừng trong cộng đồng. Khoanh vùng trọng điểm các khu vực được coi là "điểm nóng" về các hoạt động phá rừng, từ đó có kế hoạch theo dõi và tuần tra nghiêm ngặt để hạn chế nạn phá rừng.

  1. Giải pháp về khoa học công nghệ

Cần có các chương trình nghiên cứu chuyên sâu về: phân loại học, đặc điểm sinh thái học cá thể, quần thể, phục hồi HST, phục hồi các loài quý hiếm có giá trị kinh tế, giá trị bảo tồn. Đồng thời có chương trình quản lý, giám sát sự chuyển biến của ĐDSH trong khu vực.

  1. Giải pháp về đầu tư cơ sở vật chất

Cơ sở hạ tầng là một trong những điều kiện cần thiết hỗ trợ cho công tác quản lý bảo tồn. Tuy nhiên, trong khu vực chưa có sự đầu tư rõ ràng cho lĩnh vực này. Do đó, hoạt động quản lý bảo tồn và nghiên cứu khoa học còn gặp nhiều khó khăn cần được khắc phục. Các tuyến đường giao thông trong khu vực là đường đất khó đi, phương tiện kỹ thuật thì sơ sài, thiếu về số lượng và chất lượng, gây không ít trở ngại cho công tác tuần tra. Một trong những nhiệm vụ cần thiết đó là: Tu bổ các tuyến đường giao thông hiện đang là đường đất ở một số xã như Pù Bin, Noong Luông, Tự Do nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tuần tra rừng; Trang bị đầy đủ các phương tiện kỹ thuật như máy bộ đàm, GPS, bẫy ảnh… phục vụ cho quá trình điều tra nghiên cứu.

Nhìn chung, để thực hiện các giải pháp trên đòi hỏi cần có sự quan tâm của tất cả các cấp, các ngành và đặc biệt là cộng đồng dân cư trong khu vực, nâng cao sinh kế và nhận thức cộng đồng, có như vậy công tác bảo tồn đa dạng sinh học mới mang lại hiệu quả cao.



: DocumentLibrary -> 681ff0907584cc7f
DocumentLibrary -> TỈnh bắc kạn số: 53/QĐ-ubnd cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
DocumentLibrary -> UỶ ban nhân dân thị XÃ BẮc kạN
DocumentLibrary -> UỶ ban nhân dân thị XÃ BẮc kạn cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa viêt nam
DocumentLibrary -> UỶ ban nhân dân cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh bắc kạN Độc lập Tự do Hạnh phúc
DocumentLibrary -> Ubnd-qlđt v/v: Triển khai công tác tổng vệ sinh trong ngày 21/12/2012 CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
DocumentLibrary -> Nghị định 135/2004/NĐ-cp của Chính phủ về việc quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh Xử lý VI phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người thành niên
DocumentLibrary -> HỘI ĐỒng nhân dân tỉnh bắc kạN
DocumentLibrary -> Ubnd tỉnh bắc kạn sở KẾ hoạch & ĐẦu tư
681ff0907584cc7f -> Tính cấp thiết của đề tài


1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   18


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương