Tính cấp thiết của đề tài



tải về 1.21 Mb.
trang16/18
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích1.21 Mb.
1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   18

a. Công tác đào tạo


Nhằm tăng cường kỹ năng và kiến thức của các cán bộ trong khu vực và các bên liên quan, công tác đào tạo đã được chú trọng và triển khai. Đã có nhiều lượt người được gửi đi đào tạo, mỗi năm tổ chức 2-3 đợt tập huấn cho các cán bộ kiểm lâm trẻ, mỗi đợt đào tạo 3-4 ngày. Các nội dung đào tạo gồm: Nghiệp vụ kiểm lâm, PCCCR, kỹ năng tuần tra giám sát ĐDSH, kỹ năng tuyên truyền nâng cao nhận thức và giáo dục môi trường, nghiệp vụ hành chính văn phòng, du lịch sinh thái và kiến thức cơ bản về bảo tồn cho cán bộ lãnh đạo và cộng đồng. Tuy nhiên, còn những tồn tại như: Lực lượng kiểm lâm ít, phải thay nhau tham gia các khóa đào tạo nên thường gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Việc đào tạo chuyên sâu cho cán bộ là rất cần thiết, đặc biệt đối với cán bộ kỹ thuật, để họ có khả năng thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trong tương lai. Kết quả đào tạo trong thời gian rất dàn trải trên nhiều lĩnh vực, cộng với kinh phí hạn hẹp nên những nhiệm vụ chuyên sâu chưa thực hiện được.

b. Phát triển du lịch sinh thái và giáo dục bảo tồn

Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư trong vùng về các giá trị bảo tồn là một trong những hoạt động thúc đẩy tiến trình bảo tồn ĐDSH một cách có hiệu quả. Việc phát triển dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình thành một điểm du lịch thiên nhiên và một điểm giải trí có cung cấp thông tin cho người dân trong vùng và tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng xung quanh là điều rất quan trọng. Song song với những nhiệm vụ trên, trong khu vực đã quan tâm giải quyết việc làm tạo nguồn thu nhập thông qua các hỗ trợ về trồng rừng, giao khoán bảo vệ rừng. Ngoài ra, một số Chương trình do các tổ chức quốc tế tài trợ đã phát huy hiệu quả tích cực đối với cộng đồng dân cư như: Tổ chức tình nguyện Quốc tế Nhật Bản: “Phát triển nông thôn thông qua phát triển sinh kế, triển khai giai đoạn 2004-2007”; Dự án cảnh quan núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương của FFI (2003-2008); Giáo dục môi trường BTTNTN và phát triển sinh kế: dự án Ngọc Sơn - Ngổ Luông (2006-2011); Bảo tồn rừng, phát triển sinh kế, du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng, dự án sự tham gia của các tổ chức bảo tồn địa phương trong quản lý bảo vệ rừng đặc dụng (2010-2012),... Tuy chưa có dự án phát triển lâm nghiệp nào lớn trên địa bàn 3 xã huyện Mai Châu, nhưng hạt kiểm lâm Mai Châu cũng đã tổ chức giao lưu văn hóa văn nghệ, thi tìm hiểu tài nguyên rừng cho cộng đồng dân cư nơi đây. Ngoài ra, tỉnh Hòa Bình cũng đã phối hợp với một số công ty lữ hành tổ chức thành công các hoạt động du lịch như đi bộ, khám phá rừng nguyên sinh, leo núi, nhảy dù… Đặc biệt nơi đây có hệ sinh thái động thực vật đa dạng, môi trường thiên nhiên trong lành, các bản, làng văn hóa nằm đan xen là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Tuy nhiên, việc triển khai các dự án du lịch sinh thái và giáo dục môi trường còn gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn đầu tư cũng như nhận thức của người dân để triển khai du lịch còn nhiều hạn chế. Các hoạt động chặt phá rừng, săn bắt động vật, chăn thả gia súc… làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái tự nhiên của khu vực.


3.3.3. Ảnh hưởng của các chương trình, chính sách đến quản lý, bảo tồn ĐDSH trong khu vực nghiên cứu


Một số chính sách quan trọng ảnh hưởng đến sự thay đổi kinh tế xã hội và tự nhiên được triển khai trên địa bàn của tỉnh Hòa Bình nói chung và khu vực dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình nói riêng như: Chương trình 135 (dành cho các xã đặc biệt khó khăn), Chương trình định canh định cư, và Chương trình trồng rừng 327 (nay là 661) của chính phủ Việt Nam. Ngoài ra, còn có một số chương trình do các tổ chức quốc tế tài trợ như JVC (Tổ chức tình nguyện Quốc tế Nhật Bản), Helvetas, FFI (tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế), FPSC (tổ chức xúc tiến văn hóa Tây Ban Nha). Các dự án do quốc tế tài trợ có nhiệm vụ khá giống nhau là hỗ trợ phát triển sinh kế, góp phần cải thiện, xóa đói giảm nghèo ổn định đời sống cho cộng đồng dân cư và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên. Dưới đây là một số dự án, chương trình nghiên cứu được thực hiện tại các xã thuộc dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình (Bảng 3.23).
Bảng 3.23. Các dự án thực hiện tại khu vực nghiên cứu

Dự án/

Tổ chức

thực

hiện



135

Định canh định cư

327

661

JVC

FPSC

FFI

Giảm nghèo các tỉnh phía bắc

Helvetas

Ngọc Sơn-Ngổ Luông

Pan+FFI

Nam Sơn

X

X

X

X

X

X







X

X

Bắc Sơn

X







X

X










X

X

Ngổ Luông

X




X




X







X

X

X

Tự do

X

X







X










X

X

Ngọc Lâu

X










X




X




X

X

Ngọc Sơn

X










X

X







X

X

Tân Mỹ

X

X

X




X










X

X

Pù Bin

x

X

x






















Noong Luông

x

X

x






















Vạn Mai

x

X

x










x










Từ sau năm 1975, Nhà nước thực hiện chủ trương định canh định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Giai đoạn đầu tiên là tập hợp những người đang canh tác nương rẫy vào những buôn làng mới hoặc kết hợp với những buôn làng có sẵn ở các vùng có độ cao thấp hơn. Sau đó, họ sẽ được cấp một số phương tiện sản xuất, cụ thể là đất canh tác, đôi khi bằng cách khai hoang đất mới hoặc tận dụng những nơi có thể canh tác được và xây dựng một hệ thống tưới tiêu phục vụ sản xuất. Cuối cùng, họ cũng được cung cấp nguyên vật liệu để xây nhà và lương thực trong thời gian khoảng 6 tháng, cũng như các công cụ sản xuất khác.

Trong giai đoạn đầu của chương trình định canh định cư, hàng năm, trong khu vực có khoảng 20 hộ được định cư trong những khu mới hoặc những nơi có sẵn. Chương trình định canh định cư cho những vùng được xác định rõ ràng, đã được quy hoạch tốt hơn và thường gắn với một chương trình xoá đói giảm nghèo trong nhóm người du canh du cư như: Chương trình 135 với mục đích hỗ trợ phát triển cho những xã đặc biệt khó khăn. Đời sống vật chất và tinh thần nhân dân được nâng lên đáng kể, tình hình chính trị - xã hội ổn định, an ninh - quốc phòng được giữ vững. Nhiều công trình giao thông, thuỷ lợi, trường học, cấp nước sạch, điện sinh hoạt, trạm y tế được đầu tư và đưa vào sử dụng, góp phần thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển, chuyển dịch kinh tế theo hướng hàng hoá, nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số. Về cơ bản, các huyện không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 25%, bình quân lương thực đầu người đạt trên 500 kg/người/năm. Đồng bào đã từng bước bỏ được tập quán du canh, du cư, phát rừng làm rẫy chuyển sang định canh, định cư, mở rộng diện tích trồng rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Từ một huyện miền núi nghèo, thiếu lương thực, sản xuất nông nghiệp lạc hậu, đến nay, khu vực đã tạo được bước đột phá trong việc áp dụng các tiến bộ KH – KT vào sản xuất, đa dạng hoá các loại cây trồng, nâng cao năng suất sản lượng nông nghiệp; giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích, hiệu quả sản xuất đều tăng cao; sản xuất hàng hoá, các ngành nghề như tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông, lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng và các dịch vụ khác; công tác bảo vệ và phát triển rừng được đồng bào các dân tộc thực hiện tốt, giữ vững được diện tích rừng đầu nguồn, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nâng cao độ che phủ rừng [76].

Những kết quả từ việc thực hiện các chương trình, dự án ở tỉnh Hoà Bình thời gian qua cho thấy, mặc dù có những biến động về kinh tế chung và tác động của giá vật tư, nhân công cao nhưng tiến độ thực hiện các công trình dự án vẫn đảm bảo kế hoạch đề ra. Những cố gắng đó cùng với sự nỗ lực vươn lên của đồng bào các dân tộc đã góp phần vào sự ổn định và phát triển đi lên ở vùng nông thôn miền núi tỉnh Hoà Bình.

3.3.4. Mối quan hệ giữa chủ rừng với các bên liên quan trong công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH

Quản lý diện tích rừng trong khu vực bao gồm ban quản lý Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông và hạt kiểm lâm Mai Châu, mọi kế hoạch hoạt động ở đây đều chịu sự quản lý trực tiếp của Chi cục kiểm lâm Hòa Bình. Tuy nhiên, quá trình bảo tồn có rất nhiều sự tham gia và tác động của các bên liên quan, bao gồm từ chính quyền cơ sở đến những người dân địa phương. Việc xây dựng mối quan hệ, hợp tác tốt giữa Ban quản lý KBT, hạt kiểm lâm với các bên tham gia này sẽ đóng vai trò quyết định trong việc thành công của công tác bảo tồn. Bảng phân tích mối quan hệ giữa chủ rừng và các bên liên quan dưới đây (Bảng 3.24) nhằm xác định mức độ ảnh hưởng và tầm quan trọng của các bên liên quan trong công tác quản lý bảo tồn ở dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình.



Bảng 3.24. Phân tích mối quan hệ giữa chủ rừng và các bên liên quan

TT

Tên đơn vị, tổ chức

Chức năng và nhiệm vụ

Tầm quan trọng

1

Chi cục Kiểm lâm Hòa Bình

- Quản lý điều hành các hoạt động của KBT và Hạt kiểm lâm

- Phê duyệt kế hoạch và cung cấp vốn cho các hoạt động thường xuyên của khu vực



Rất quan trọng

2

Các cấp chính quyền huyện, xã tại khu vực nghiên cứu

Thực hiện các hoạt động quản lý bảo tồn trên địa bàn

Rất quan trọng

3

Cộng đồng dân cư địa phương

Tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên cùng với BQL KBT, hạt kiểm lâm

Rất quan trọng

4

Hạt kiểm lâm và BQL rừng đặc dụng lân cận

Phối hợp quản lý các diện tích rừng giáp ranh, xúc tiến, đẩy mạnh các hoạt động sinh kế

Quan trọng

6

Các ban ngành đoàn thể trên địa bàn huyện

Phối hợp trong các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân trong quản lý tài nguyên

Quan trọng

7

Trường đại học, Viện nghiên cứu

Phối hợp thực hiện các nghiên cứu, đề xuất các công nghệ phù hợp để tổ chức bảo tồn phát triển về bảo tồn ĐDSH trong khu vực

Rất quan trọng

8

Các tổ chức phi chính phủ

Triển khai các chương trình nghiên cứu, các dự án đầu tư

Quan trọng

Tìm hiểu sâu hơn về các mối quan hệ đã được liệt kê ở bảng tổng hợp 3.24 cho thấy:

- Quan hệ với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình: Chi cục Kiểm lâm tỉnh là đơn vị quản lý nhà nước ở cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong việc giám sát các chương trình bảo tồn và phê duyệt, cấp phát kinh phí hoạt động, và điều chỉnh nhân sự cho hoạt động của chủ rừng. Tuy nhiên, nguồn ngân sách của chi cục cấp hàng năm chỉ dừng lại ở mức độ duy trì sự tồn tại của bộ máy quản lý trong khu vực. Chưa có những đầu tư cho các chương trình bảo tồn, phát triển vùng đệm, sinh kế nông thôn, nghiên cứu khoa học... Ở những lĩnh vực này sự ủng hộ của Chi cục chỉ dừng lại ở mức độ chủ trương hoặc ý tưởng.

- Quan hệ với cấp chính quyền huyện, xã: Sự phối hợp của chính quyền cấp huyện, xã với Ban quản lý Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông và hạt kiểm lâm Mai Châu đã đạt được những hiệu quả nhất định. Các mục tiêu hoạt động nhằm bảo tồn đa phần có mối quan hệ ảnh hưởng đến các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm cũng như lâu dài của địa phương như: Quy hoạch sử dụng đất và giao đất, tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng, hỗ trợ vốn thông qua các chương trình, dự án góp phần phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này vấn đề phân quyền và trách nhiệm của từng cấp đối với công tác bảo vệ rừng được quy định tại quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21-12-1998 của Thủ tướng Chính phủ “về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp” chưa được thực hiện một cách nghiêm túc và có hiệu quả. Trên thực tế, UBND và cán bộ phụ trách về lâm nghiệp đặc biệt yếu về chuyên môn, họ hầu như không có khả năng để thực hiện về quyền và trách nhiệm của mình. Có những xã chính quyền chưa thực sự vào cuộc, mọi hoạt động quản lý tài nguyên rừng đều phó mặc cho kiểm lâm.

- Quan hệ với cộng đồng dân cư địa phương: Sự tham gia bảo vệ rừng của cộng đồng địa phương là đáng ghi nhận, và thực tế đời sống của các cộng đồng dân cư khu vực dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình đều được hưởng lợi trực tiếp từ các sản phẩm của rừng bao gồm: Gỗ, củi, măng, rau quả, mật ong, nấm hương, ốc đá,... và các nguồn thu từ việc nhận khoán quản lý bảo vệ rừng của dự án 661. Ông Bùi Văn Chuyền (xã Nam Sơn) nói "giá như Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông được thành lập sớm hơn thì rừng ở đây còn xanh tươi hơn nhiều". Tuy nhiên, do cuộc sống người dân trong khu vực còn gặp nhiều khó khăn, đói nghèo vẫn đang là thách thức quá lớn trong cuộc sống gia đình họ. Chính vì thế, trong quá trình bảo tồn ở đây đã nảy sinh ra khá nhiều xung đột giữa BQL và người dân địa phương.

- Quan hệ với hạt kiểm lâm và BQL rừng phòng hộ giáp ranh: Địa bàn giáp ranh là những khu vực đi lại xa xôi, lực lượng cán bộ kiểm lâm còn hạn chế, công cụ và phương tiện tác nghiệp còn nghèo nàn. Tuy nhiên trong thời gian qua việc bảo vệ rừng giáp ranh đã được đơn vị phối hợp triển khai theo kế hoạch đã được xây dựng; đơn vị thường xuyên tuần tra những khu vực rừng giáp ranh. Hạt Kiểm Lâm và Ban quản lý rừng phòng hộ thường xuyên liên hệ mật thiết phát hiện kịp thời, phối hợp quản lý các diện tích rừng giáp ranh và giải quyết có hiệu quả các vụ việc xẩy ra trên địa bàn. Đồng thời xúc tiến, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền và phát triển sinh kế cho người dân trong khu vực.

- Quan hệ với các ban ngành đoàn thể trên địa bàn: Hàng năm Ban quản lý khu BTTN cũng đã cùng phối hợp với các cơ quan ban ngành đoàn thể trên địa bàn (huyện đoàn, hội phụ nữ, trường học...) thực hiện các chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức về BTTN như: Cuộc thi tìm hiểu về rừng xanh, giao lưu văn hoá văn nghệ có lồng ghép đến bảo vệ rừng, thi tìm hiểu nghị định 139 của chính phủ, chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm về công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương. Tuy vậy, mối quan hệ này trên thực tế cũng chỉ mới dừng lại ở mức độ phong trào, hạn chế về tư duy và sự hợp tác mang tính chiều sâu.

- Quan hệ với các viện nghiên cứu, các trường học: Trong thời gian qua, KBT cũng đã có các mối quan hệ nhất định với các Viện nghiên cứu (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Khoa học Lâm nghiệp, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện khoáng sản địa chất, Viện dân tộc học) và các Trường Đại học (Trường Đại học Lâm nghiệp, Đại học Quốc gia Hà Nội) trong điều tra, đánh giá tài nguyên rừng, đào tạo nguồn nhân lực, chuyên môn trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên. Tuy nhiên, những mối quan hệ tiềm năng này vẫn chưa được phát huy tối đa mà nguyên nhân là do thiếu kinh phí trong quá trình hợp tác.

- Quan hệ với các tổ chức phi chính phủ: Đã phối hợp với các tổ chức Phi Chính phủ như: Link, FFI, FPSC, PanNature, ... để triển khai các dự án, chương trình nghiên cứu khoa học, các khoá đào tạo, hội nghị, hội thảo về công tác bảo tồn, thiết lập mối quan hệ hợp tác, chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm với Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông.



3.3.5. Phân tích ma trận SWOT đối với công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH tại khu vực nghiên cứu

Để có một bức tranh tổng thể về những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức tại khu vực dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình chúng tôi đã tiến hành phân tích ma trận SWOT dưới đây:




Điểm mạnh (Strong)

Điểm yếu (Weakness)

  • Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền và các ban ngành có liên quan.

  • Là nơi còn sót lại ở Việt Nam với hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi có tính ĐDSH cao.

  • Trong khu vực còn có nhiều cảnh quan hang động đẹp, thuận tiện cho các hoạt động tham quan, du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học.




  • Giao thông đi lại còn khó khăn, các xã có hệ thống lưới điện còn kém. Hệ thống cơ sở hạ tầng chưa phát triển.

  • Trình độ dân trí còn thấp, hiểu biết về bảo tồn còn quá ít.

  • Phát triển kinh tế còn phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện và cả nguồn tài nguyên thiên nhiên, tập quán canh tác còn lạc hậu và thiếu đất canh tác.

  • Thiếu thông tin về khoa học kỹ thuật cũng như khoa học quản lý.

  • Thiếu nhân lực trong công tác quản lý bảo vệ rừng.

Cơ hội (Opportunity)

Thách thức (Threat)

  • Mong muốn được thành lập, mở rộng Khu bảo tồn và muốn được kết hợp với KBT khác trong tương lai để cùng bảo vệ và xây dựng phát triển rừng.

  • Có tiềm năng lớn thu hút khách trong và ngoài nước đến tham quan du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học vì vị trí của khu vực không xa với thủ đô Hà Nội.

  • Thu hút các dự án trong và ngoài nước hoạt động bảo tồn ĐDSH

  • Nguồn lực hạn chế, phương pháp tiếp cận bảo tồn của cán bộ bảo tồn vẫn còn áp đặt, mang nặng tính hành chính.

  • Đói nghèo đối với cộng đồng người dân trong vùng dẫn đến việc khai thác lâm sản trái phép cho mục tiêu sinh kế.

  • Cơ sở hạ tầng và dịch vụ cộng đồng chưa phát triển.

Nhìn vào bảng ma trận có thể thấy rằng: Điểm thuận lợi tập trung chủ yếu vào cảnh quan và tính đa dạng sinh học vốn có, cùng với sự ủng hộ của chính quyền các cấp. Điểm không thuận lợi tập trung vào hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém, nhận thức của người dân và lực lượng thực hiện công tác bảo tồn còn hạn chế. Cơ hội chủ yếu là phát huy tiềm năng vốn có của khu vực, còn một số thách thức lớn đó là nguồn lực quản lý, bảo tồn và sự đói nghèo của cộng đồng trong khu vực.

: DocumentLibrary -> 681ff0907584cc7f
DocumentLibrary -> TỈnh bắc kạn số: 53/QĐ-ubnd cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
DocumentLibrary -> UỶ ban nhân dân thị XÃ BẮc kạN
DocumentLibrary -> UỶ ban nhân dân thị XÃ BẮc kạn cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa viêt nam
DocumentLibrary -> UỶ ban nhân dân cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh bắc kạN Độc lập Tự do Hạnh phúc
DocumentLibrary -> Ubnd-qlđt v/v: Triển khai công tác tổng vệ sinh trong ngày 21/12/2012 CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
DocumentLibrary -> Nghị định 135/2004/NĐ-cp của Chính phủ về việc quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh Xử lý VI phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người thành niên
DocumentLibrary -> HỘI ĐỒng nhân dân tỉnh bắc kạN
DocumentLibrary -> Ubnd tỉnh bắc kạn sở KẾ hoạch & ĐẦu tư
681ff0907584cc7f -> Tính cấp thiết của đề tài


1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   18


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương